1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Một số khái niệm và chiến thuật điều trị gãy xương lớn trong đa chấn thương

7 88 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 291,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết trình bày một số khái niệm và chiến thuật điều trị gãy xương lớn trong đa chấn thương. Phẫu thuật kiểm soát tổn thương là một cách tiếp cận khá mới trong quy trình cấp cứu ĐCT. Kiểm soát tổn thương xương là một kỹ thuật trong quy trình cấp cứu và điều trị ĐCT có gãy xương lớn.

Trang 1

MỘT SỐ KHÁI NIỆM VÀ CHIẾN THUẬT ĐIỀU TRỊ GÃY XƯƠNG LỚN TRONG ĐA CHẤN THƯƠNG

Nguyễn Trường Giang*

TÓM TẮT

Cấp cứu và điều trị bệnh nhân (BN) đa chấn thương (ĐCT) đã có thay đổi rõ rệt trong nhiều năm

qua do sự tiến bộ của kỹ thuật phẫu thuật và hồi sức cấp cứu

Trước những năm 1970, BN ĐCT chủ yếu điều trị không mổ, các phẫu thuật viên cho rằng, BN

quá nặng để có thể chịu được một cuộc phẫu thuật Trong thập kỷ 1970, do sự phát triển nhanh

chóng của kỹ thuật mổ xẻ dẫn đến xu hướng phẫu thuật kết xương sớm, với quan điểm điều trị toàn

diện sớm Nhưng sau đó, các phẫu thuật viên nhận ra rằng phẫu thuật kết xương sớm không mang

đến kết quả tốt đối với BN ĐCT

Phẫu thuật kiểm soát tổn thương là một cách tiếp cận khá mới trong quy trình cấp cứu ĐCT

Kiểm soát tổn thương xương là một kỹ thuật trong quy trình cấp cứu và điều trị ĐCT có gãy

xương lớn

* Từ khóa: Đa chấn thương; Chiến thuật điều trị; Gãy xương lớn

CONCEPT AND tACTICS OF TREATMENT OF BONE

FRACTURE IN POLYTRAUMA

SUMMARY

The management of polytrauma patient has changed considerably in recent years This is in keeping

with the developments that have occurred in the fields of operation techniques and intensive care

Prior the 1970s, patients with multiple injuries were treated non-operatively, as it was believed

that they were too ill to withstand surgery In the 1970 decade, fracture fixation techniques were

developed rapidly leading to the advent of early fracture stabilisation surgery of polytrauma patients

In the following decade, the surgical world came to recognise that early stabilisation of skeletal

injuries produced poor results in certain patients, known as early total care

Damage control surgery has evolved as a new approach to minimize the impact of primary surgery

Damage control orthopaedics should be regarded as a part of the resusciation and treatment process

of polytrauma patients, who have long bone injuries

* Key words: Polytrauma; Tactics of treatment; Bone fracture

LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN ĐIỀU TRỊ ĐCT

Theo Partel và Trilliat (1971), đa chấn

thương là những BN có nhiều (≥ 2) thương

tổn nặng ở nhiều (≥ 2) hệ thống cơ quan

khác nhau, trong đó, có ít nhất một thương tổn đe dọa tính mạng (làm rối loạn các chức năng sống quan trọng như: tuần hoàn,

hô hấp, thần kinh) Theo Trentz (2000),

* Bệnh viện 103

Chịu trách nhiệm nội dung khoa học: PGS TS Trần Đình Chiến

PGS TS Phạm Đăng Ninh

Trang 2

ĐCT là khi BN có nhiều tổn thương ở nhiều

hệ thống cơ quan với ISS ≥ 18 (bảng điểm

độ nặng tổn thương - Injury Severity Score),

dẫn đến rối loạn chức năng sống cũng như

cơ quan không bị tổn thương ban đầu

Trong nửa đầu thế kỷ 20, những BN

ĐCT chủ yếu điều trị không mổ, vì các phẫu

thuật viên cho rằng, BN quá nặng để có thể

chịu được một cuộc phẫu thuật Do đó, phẫu

thuật kết xương là chống chỉ định, thay vào

đó là nhiều kỹ thuật như: kéo liên tục, bó

bột Kèm theo đó là nhiều biến chứng xảy

ra như viêm phổi, viêm tắc tĩnh mạch, nhồi

máu phổi, cứng khớp, loét điểm tỳ

- Điều trị toàn diện sớm (early total care):

Đầu những năm 1970, do sự phát triển

nhanh chóng của gây mê, hồi sức, các kỹ

thuật cận lâm sàng và mổ xẻ, phẫu thuật

viên chủ trương phẫu thuật sớm điều trị

thực thụ tổn thương BN ĐCT được phẫu

thuật kết xương sớm (trong 24 giờ đầu)

cùng với xử trí các tổn thương khác

Theo Riska và CS, phẫu thuật kết xương

sớm tránh được biến chứng tắc mạch, loét

điểm tỳ, teo cơ cứng khớp, thậm chí giảm

tỷ lệ tử vong Goris và CS nghiên cứu trên

58 trường hợp gãy xương đùi thấy, phẫu

thuật kết xương sớm giúp giảm tỷ lệ biến

chứng suy hô hấp tiến triển (ARDS), nhiễm

khuẩn huyết

Bone và CS nghiên cứu tiến cứu 178 BN

gãy thân xương đùi được phẫu thuật kết

xương sớm (24 giờ đầu) và muộn (sau 48

giờ), loại trừ gãy xương đùi ở người già >

65 tuổi Những BN phẫu thuật kết xương

muộn được cố định tạm thời bằng kéo liên

tục, tính điểm ISS khi vào viện, xét nghiệm

khí máu và chụp X quang phổi hàng ngày

Kết quả cho thấy, kết xương sớm làm giảm

tỷ lệ biến chứng phổi nói chung cũng như

hội chứng suy hô hấp cấp, tắc mạch mỡ, tắc mạch phổi và viêm phổi ở BN ĐCT Bên cạnh đó thời gian nằm viện cũng giảm ở nhóm kết xương sớm

- BN "nguy kịch" (borderline patient): Đầu những năm 1990, hàng loạt biến chứng liên quan đến phẫu thuật kết xương sớm đã được báo cáo Một điều được thấy

rõ là điều trị toàn diện sớm không có kết quả tốt ở tất cả BN, dẫn đến tỷ lệ biến chứng cao ở một nhóm BN

Pape và CS nghiên cứu những BN ĐCT

có ISS ≥ 18, gãy thân xương đùi, được điều trị bằng kết xương đinh nội tủy, kết quả cho thấy, kết xương sớm ở BN không có chấn thương ngực có tỷ lệ biến chứng phổi thấp Ngược lại, những BN chấn thương ngực nặng có kết quả xấu vì liên quan đến biến chứng hội chứng suy hô hấp cấp Pape cho rằng, có 3 yếu tố liên quan đến chức năng

hô hấp sau chấn thương: độ nặng chấn thương (liên quan trực tiếp đến mức độ sốc); có hay không chấn thương ngực và phẫu thuật kết xương đùi Từ đó, ông kết luận rằng, BN có chấn thương ngực nặng là nhóm BN có tình trạng "nguy kịch" (borderline)

và phẫu thuật kết xương sớm ở nhóm này

sẽ làm tăng nguy cơ biến chứng về hô hấp

Ở một số nghiên cứu khác, Pape và CS

đã đưa ra những "tiêu chuẩn" để xác định nhóm BN "nguy kịch" không nên phẫu thuật kết xương sớm

BN "nguy kịch" (borderline patient): ĐCT với ISS > 20 có chấn thương ngực nặng (AIS > 2); ĐCT có chấn thương bụng hoặc khung chậu (OIS > 2) và sốc; ĐCT với ISS

> 40; ĐCT có tổn thương đụng dập nhu mô phổi 2 bên (X quang hoặc CT); áp lực động mạch phổi lúc vào viện > 24 mmHg; áp lực động mạch phổi tăng > 6 mmHg sau phẫu thuật kết xương

Trang 3

AIS: Abbreviated Injury Scale; OIS: Organ

Injury Scale)

- Tác động thứ cấp (second hit):

Hai tác động ngoại lai gây rối loạn tại

chỗ và toàn thân, quyết định đến kết quả

điều trị BN chấn thương:

+ Tính chất và mức độ chấn thương

(first hit);

+ Tính chất của can thiệp phẫu thuật

(second hit)

Tác động thứ cấp do phẫu thuật có

nhiều nguyên nhân như: mất máu, đau đớn,

nhiễm khuẩn, thiếu oxy, tụt huyết áp Hiện

nay, bằng nhiều xét nghiệm hiện đại đã

chứng minh tác động của phẫu thuật lên

phản ứng viêm hệ thống thông qua các yếu

tố như: cytokin, TNF-α, interleukine (nghiên

cứu của Pape, Roumen và CS) Các yếu tố

trên tăng lên có liên quan trực tiếp đến biến

chứng hội chứng suy hô hấp cấp hoặc rối

loạn chức năng đa tạng Vì vậy, lựa chọn

thời điểm và loại phẫu thuật là hết sức quan

trọng, đặc biệt đối với BN chấn thương

nặng, ĐCT

Đối với những BN chấn thương nặng,

thực hiện cuộc mổ kéo dài với nhiều nguy

cơ được xem như một tác động (thứ cấp)

tiêu cực sau chấn thương, dẫn đến nhiều

biến chứng Để hạn chế tác động tiêu cực

của những cuộc mổ kéo dài, "phẫu thuật

kiểm soát tổn thương" được áp dụng trong

điều trị BN ĐCT

- Phẫu thuật kiểm soát tổn thương (damage

control surgery):

Khái niệm "phẫu thuật kiểm soát tổn

thương" được Rotondo và Schwad (1993)

đưa ra để chỉ quy trình (cách thức) điều trị

BN chấn thương bụng nặng Theo tác giả,

những BN tổn thương bụng trong tình trạng nguy kịch, quan trọng nhất là nhanh chóng

mở bụng cầm máu (bằng kỹ thuật đơn giản, nhanh), sau đó, đóng bụng tạm thời và hồi sức BN, khi BN ổn định sẽ mở bụng lại xử trí thực thụ các tổn thương

Hiện nay, "phẫu thuật kiểm soát tổn thương" được áp dụng để xử trí tổn thương

ở những cơ quan khác nhau (bụng, ngực, chi thể, xương chậu) trong điều trị BN ĐCT Với những BN đang trong tình trạng nguy kịch, cuộc mổ lớn, kéo dài sẽ dẫn đến rối loạn nặng thêm chức năng cơ quan Việc

ưu tiên hàng đầu trong giai đoạn này là cứu sống tính mạng, do đó, chỉ tiến hành cuộc

mổ ngắn, can thiệp tối thiểu nhằm kiểm soát những tổn thương là nguyên nhân gây sốc hoặc rối loạn hô hấp

Theo các tác giả, quy trình "phẫu thuật kiểm soát tổn thương" gồm 3 bước: bước 1: tiến hành phẫu thuật trong thời gian ngắn, can thiệp tối thiểu nhằm khống chế chảy máu, đè ép và ô nhiễm; bước 2: tiếp tục hồi sức tích cực nhằm giải quyết các rối loạn về hô hấp, tuần hoàn, đông máu ; bước 3: thường thực hiện từ 24 - 36 giờ sau chấn thương, khi BN đã ổn định, tiến hành mổ lại để xử trí tổn thương Giai đoạn hồi sức thường được thực hiện tại phòng điều trị tích cực với mục tiêu đưa BN thoát khỏi tình trạng "đe dọa tính mạng", BN phải đạt được các chỉ tiêu sau: huyết động ổn định mà không phải dùng các thuốc vận mạch; chức năng hô hấp tốt, không còn tình

lactae máu < 2 mmol/l; chức năng đông máu bình thường; không có tình trạng hạ nhiệt độ; số lượng nước tiểu > 1 ml/kg/giờ

Trang 4

CHIẾN THUẬT ĐIỀU TRỊ GÃY XƯƠNG

LỚN TRONG ĐCT

Gãy xương chi thể đều có liên quan đến

chảy máu và tổn thương phần mềm, là

nguyên nhân dẫn đến phản ứng viêm tại

chỗ và tăng yếu tố viêm toàn thân Nhiều

nghiên cứu chứng minh mức tăng cytokine

liên quan với mức độ tổn thương phần

mềm và gãy xương Cytokine luôn tăng

trong mọi thời điểm sau chấn thương,

chứng tỏ nó được giải phóng từ tổn thương

tại chỗ Hậu quả của phản ứng viêm hệ

thống là phù nề tổ chức, giảm tưới máu,

cuối cùng là rối loạn chức năng đa tạng Do

đó, cố định tốt và sớm các ổ gãy xương,

đặc biệt là xương lớn có ý nghĩa rất quan

trọng, ảnh hưởng đến chất lượng hồi sức,

tỷ lệ biến chứng và kết quả điều trị

Tác động của phẫu thuật lên hệ thống

miễn dịch và hậu quả của nó ở BN ĐCT đã

được chứng minh, đặc biệt là những phẫu

thuật lớn xử trí tổn thương gãy xương đùi,

xương cẳng chân hoặc gãy khung chậu

Tác động của chấn thương ban đầu và cuộc

phẫu thuật kết hợp ảnh hưởng đến chức

năng các cơ quan, dẫn đến biến chứng

Tác động thứ cấp do phẫu thuật cần được

hạn chế tối đa ở nhóm BN có tiên lượng

xấu, đặc biệt những BN có chấn thương ngực,

sọ não, sốc nặng Như vậy, không nên

phẫu thuật kết xương sớm đối với BN ĐCT

Từ những lý do trên, trong cấp cứu ĐCT

cần có phương pháp cố định tạm thời xương

gãy cố định tốt, nhanh và có thể thực hiện

tại phòng hồi sức với mục đích nhanh chóng

cố định vững chắc, hạn chế chảy máu và

tổn thương thứ phát, giảm đau, giúp hồi

sức BN Hiện nay, nhiều tác giả gọi kỹ thuật

đó là "kiểm soát tổn thương gãy xương" (damage control orthopaedics)

- Kiểm soát tổn thương gãy xương:

Có 3 giai đoạn trong quy trình kiểm soát tổn thương xương: một là cố định tạm thời xương gãy và cầm máu; giai đoạn thứ hai liên quan đến hồi sức tích cực đến khi BN

ổn định, đánh giá bằng mức độ tưới máu

mô, tình trạng huyết động, xét nghiệm khí máu, lactat máu, dữ trữ kiềm, số lượng nước tiểu; giai đoạn ba là phẫu thuật cố định thực thụ xương gãy khi giai đoạn hai

đã hoàn tất

+ Đối với gãy xương đùi hoặc xương cẳng chân, cố định ngoài là phương pháp đạt được những yêu cầu trên và đang được nhiều phẫu thuật viên sử dụng như kỹ thuật kiểm soát tổn thương Kỹ thuật có thể thực hiện tại phòng mổ hoặc ngay tại giường hồi sức với dụng cụ và phương tiện đơn giản + Chảy máu sau phúc mạc do gãy khung chậu: gãy khung chậu không vững, đặc biệt gãy cả xương cùng cụt có thể dẫn đến mất máu trầm trọng, lên đến 4.000 - 5.000 ml

BN cần được nén ép kín diện gãy xương chậu ngay tại phòng cấp cứu bằng băng đai

ép hai bên và sau đó cố định ngoài khung chậu Ở các nước phát triển, sau các biện pháp trên không kết quả, có thể chỉ định phẫu thuật "bao bọc" khung chậu cầm máu Can thiệp gây tắc mạch chọn lọc với những

BN chảy máu từ động mạch, tỷ lệ thành công thấp, khoảng < 2% Hơn nữa, can thiệp mạch cũng có nhiều bất lợi, cần có trang bị kỹ thuật, nhiều thời gian và phải vận chuyển BN Do đó, khống chế tổn thương cho BN sốc nặng do gãy chậu bao gồm nắn ép kín bằng đai hoặc cố định ngoài khung chậu

Trang 5

Pape và CS nghiên cứu những BN ĐCT

với ISS ≥ 18 (từ 1981 - 2000) thấy rằng,

những BN kết xương thực thụ sớm có tỷ lệ

biến chứng suy đa tạng cao hơn so với

nhóm BN thực hiện quy trình phẫu thuật

kiểm soát tổn thương Bên cạnh đó, biến

chứng hội chứng suy hô hấp cấp cao hơn ở

những BN phẫu thuật sớm kết xương bằng

đinh nội tủy so với kết xương cố định ngoài

Scalea và CS nghiên cứu những BN

ĐCT có gãy thân xương đùi cho thấy, nhóm

BN được cố định tạm thời bằng cố định

ngoài, sau đó, phẫu thuật kết xương đinh

nội tủy khi BN ổn định có kết quả tốt hơn,

lượng máu mất ít hơn và thời gian mổ ngắn

hơn Tác giả cho rằng, cố định tạm thời

bằng cố định ngoài, sau đó phẫu thuật kết

xương đinh nội tủy khi BN ổn định là

phương pháp an toàn có nhiều ưu thế

Cố định ngoài tạm thời có nguy cơ

nhiễm khuẩn chân đinh, nguy cơ nhiễm

khuẩn lan rộng từ chân đinh, Hildebrand

cho rằng, có trường hợp nhiễm khuẩn nông

nhưng chưa thấy biến chứng nặng về

nhiễm khuẩn Bhandari và CS lại thấy, phẫu

thuật kết xương thực thụ sau cố định ngoài

trong thời gian trước 14 ngày sẽ giảm nguy

cơ biến chứng nhiễm khuẩn

- Thời điểm phẫu thuật kết xương thì hai:

Khi BN đã ổn định, tiến hành phẫu thuật

xử trí thực thụ tổn thương xương Có thể là

phẫu thuật thay cố định ngoài bằng phương

tiện kết xương khác hoặc chỉnh sửa lại cố

định ngoài nếu không có chỉ định thay đổi

Một vấn đề lớn đặt ra là thời điểm phẫu

thuật kết xương thực thụ (kết xương thì

hai) Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, ngày

thứ 2 - 4 (thời kỳ tăng viêm hệ thống) không

thích hợp cho can thiệp phẫu thuật Trong

giai đoạn này, các yếu tố trung gian hóa

học tăng và sản phẩm viêm khác làm tăng phù nề tổ chức, giảm tưới máu cơ quan, tăng nguy cơ rối loạn chức năng đa tạng Pape và CS chỉ ra kết xương thực thụ ngày thứ 2 - 4 sau chấn thương làm tăng phản ứng viêm toàn thân so với kết xương

ở ngày thứ 6 - 8 Nghiên cứu cho thấy, phẫu thuật trong khoảng ngày 2 - 4 làm tăng IL-6 là yếu tố liên quan đến biến chứng suy đa tạng Do đó, những BN có tăng IL-6 ban đầu nên trì hoãn kết xương đến ngày thứ 4 trở đi sau chấn thương Theo Ogura và CS, BN ĐCT có ISS trung bình 31,1; chỉ số bạch cầu đa nhân (một trong các yếu tố biểu hiện tình trạng viêm hệ thống) tăng lên đáng kể từ ngày thứ 2 - 13 sau chấn thương, tăng cao nhất

là từ ngày thứ 2 - 5 và trở về bình thường

từ ngày 14 - 21 Nghiên cứu cũng cho thấy nồng độ IL-6 vẫn cao kể từ ngày thứ 5 Hiện nay, các tác giả đều thống nhất cho rằng, đáp ứng toàn thân sau chấn thương trải qua 4 giai đoạn:

+ Giai đoạn tăng viêm hệ thống;

+ Giai đoạn "cửa sổ";

+ Giai đoạn suy giảm miễn dịch;

+ Giai đoạn hồi phục

Giai đoạn tăng viêm hệ thống từ ngày thứ 2 - 4 sau chấn thương, thường dễ có những biến chứng, do đó, không nên can thiệp phẫu thuật vào giai đoạn này, ngoại trừ những can thiệp phẫu thuật ngắn như: cắt lọc tổ chức hoại tử, cắt lọc vết thương, dẫn lưu vết thương, với mục đích làm giảm nguy cơ nhiễm độc, giảm yếu tố gây viêm toàn thân, giảm nguy cơ nhiễm khuẩn, nhiễm khuẩn huyết hoặc suy đa tạng Giai đoạn tiếp theo là giai đoạn cửa sổ,

từ ngày thứ 5 - 10 sau chấn thương, là giai

Trang 6

đoạn chuyển tiếp từ viêm hệ thống và suy

giảm miễn dịch Do đó, giai đoạn này thích

hợp nhất để can thiệp những phẫu thuật

điều trị thực thụ như: phẫu thuật kết xương,

phẫu thuật cột sống, phẫu thuật hàm mặt,

phẫu thuật che phủ các vết thương (vạt)

Trong giai đoạn suy giảm miễn dịch,

từ tuần thứ 2 sau chấn thương, không nên

can thiệp phẫu thuật vì tỷ lệ biến chứng

cao như: nhiễm khuẩn huyết, suy đa tạng

Chỉ sau tuần thứ 3, ở giai đoạn hồi phục

mới nên tiến hành phẫu thuật chỉnh hình

nếu cần

KẾT LUẬN

Cấp cứu và điều trị BN ĐCT đã có

những thay đổi rõ rệt trong nhiều năm qua

do sự tiến bộ của kỹ thuật phẫu thuật và hồi

sức cấp cứu Phẫu thuật kiểm soát tổn

thương trong quy trình cấp cứu ĐCT, đặc

biệt với những BN nặng là một cách tiếp

cận khá mới đối với điều kiện tại Việt Nam

Mặc dù, đã khẳng định được sự ưu việt của

quy trình, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề đặt

ra như: chỉ định, kỹ thuật và thời điểm phẫu

thuật cần được nghiên cứu và bàn luận trên

thực tế lâm sàng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bone L.B, Johnso K.D, Weigelt J, et al

Early versus delayed stabilization of fractures A

prospective randomized study J Bone Joint

Surg (Am) 1989, 71, pp.336-340

2 Bose D, Tejwani N.C Evolving trends in

the care of polytrauma patients J Care Injured

2006, 37, pp.20-28

3 Giannoudis P.V Aspects of current

management Surgical priorities in damage control in polytrauma J Bone Joint Surg 2003,

85, pp.478-483

4 Hildebrand F, Giannoudis P.V, Krettek C, Pape H-C Damage control: extremities J Care

Injured 2004, 35, pp.678-689

5 Pape H-C, Giannoudis P.V, Krettek C

The timing of fracture treatment in polytrauma patients: relevance of damage control orthopedic surgery Am J Surg 2002, 183, pp.622-629

6 Pape H-C, Hildebrand F, Pertschy S, et al

Changes in the management of femoral shaft fracture in polytrauma patients: from early total care to damage control orthopedic surgery

J Trauma 2002, 53 (3), pp.452-462

7 Stahel P.F, Heyde C.E, Ertel W Current

concepts of polytrauma management Eur J Trauma 2005, 31, pp.200-211

Ngày nhận bài: 1/10/2012 Ngày giao phản biện: 30/10/2012 Ngày giao bản thảo in: 28/12/2012

Ngày đăng: 23/01/2020, 07:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w