1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát sự phân bố của thụ thể estrogen và progesteron trên mẫu bệnh phẩm lớn và mẫu sắp xếp dãy mô (tma) trong carcinôm vú bằng phương pháp hóa mô miễn dịch

9 63 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 161,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự phát triển của kỹ thuật sắp xếp dãy mô (TMA) cho phép tiết kiệm thời gian, công sức và tiền bạc trong khảo sát các dấu ấn sinh học của carcinôm vú bằng phương pháp hóa mô miễn dịch. Vì vậy nghiên cứu với mục tiêu khảo sát sự phân bố của ER và PR trong mô vú ung thư và sự tương đồng về kết quả biểu hiện của ER và PR giữa mẫu mô lớn và mẫu TMA.

Trang 1

KHẢO SÁT SỰ PHÂN BỐ CỦA THỤ THỂ ESTROGEN VÀ PROGESTERON TRÊN MẪU BỆNH

PHẨM LỚN VÀ MẪU SẮP XẾP DÃY MƠ (TMA) TRONG CARCINƠM VÚ

BẰNG PHƯƠNG PHÁP HĨA MƠ MIỄN DỊCH

TĨM TẮT

Mục đích: Sự phát triển của kỹ thuật sắp xếp dãy mơ (TMA) cho phép tiết kiệm thời gian, cơng sức và tiền

bạc trong khảo sát các dấu ấn sinh học của carcinơm vú bằng phương pháp hĩa mơ miễn dịch Chúng tơi khảo sát sự phân bố của ER và PR trong mơ vú ung thư và sự tương đồng về kết quả biểu hiện của ER và PR giữa mẫu mơ lớn và mẫu TMA

dựng từ 114 khối nến lựa chọn ngẫu nhiên trong 712 khối nến trên được nhuộm hĩa mơ miễn dịch ER và PR Thang điểm Allred được dùng để đánh giá sự phân bố và biểu hiện của ER và PR

Kết quả: ER+ 60,5%, PR+ 48,2%, ER và/hoặc PR+ 61,9%; 71,4% ER+ và 48,8% PR+lan tỏa đều khắp

mơ bướu ¾ trường hợp ER+ cĩ điểm số Allred 7 và 8 và tỉ lệ này là hơn ½ trường hợp đối với PR+ Tương

đồng trong biểu hiện ER và PR giữa mẫu mơ lớn và TMA lần lượt là 91,2% (kappa = 0,82) và 88,6% (kappa =

0,77)

Kết luận: Đa số các trường hợp ER phân bố lan tỏa trong mơ bướu Trong khi đĩ, PR biểu hiện khu trú

từng ổ chiếm hơn một nửa số trường hợp Nghiên cứu cũng cho thấy cĩ sự tương đồng cao giữa mẫu mơ lớn và mẫu TMA khi nhuộm hĩa mơ miễn dịch ER và PR

Từ khĩa: Thụ thể estrogen, thụ thể progesteron, sắp xếp dãy mơ, hĩa mơ miễn dịch

ABSTRACT

INTRATUMORAL DISTRIBUTION OF ESTROGEN AND PROGESTERON RECEPTORS ON WHOLE SECTIONS AND TMA SECTIONS IN BREAST CARCINOMA BY IMMUNOHISTOCHEMISTRY

Au Nguyet Dieu, Thai Anh Tu

* Y Hoc TP Ho Chi Minh – Vol.14 - Supplement of No 4 – 2010: 697 - 705

Aims: The recent development of the tissue microarray technology, composed from multiple donor tumours

aligned within a single recipient block, allows saving in time, labor and reagent costs We investigated the intratumoral distribution of estrogen and progesterone receptors in breast carcinoma by immunohistochemistry and the concordance between whole sections and tissue microarray sections

Materials and methods: 712 formalin-fixed paraffin-embedded tissue blocks from 712 breast carcinoma

patients and 9 TMA blocks constructed from 114 donor blocks were immunostained for ER and PR The Allred score was used to evaluate the expression and distribution of hormonal receptors

Results: ER positive in 60.5% , PR positive in 48.2% ; ER and/or PR positive in 61.9% of cases 71.4% of

ER+ and 48.8% of PR+cases had diffuse and uniform staining Allred scores 7 and 8 in ¾ cases of ER+ and in more than ½ cases of PR+ The concordance of posive and negative results of ER and PR between whole sections and TMA sections were 91.2% (kappa = 0.82) and 88.6% (kappa = 0.77) respectively

Conclusions: A majority of cases had a diffuse distribution of ER Whereas the distribution of PR was focal

in more than half of PR+ cases This study also shows a high concordance rate between the whole sections and TMA sections for ER and PR immunostaining

Key words: Estrogen receptor, progesterone receptor, tissue microarray, immunohistochemistry

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bộ ba dấu ấn sinh học gồm thụ thể estrogen

(ER), thụ thể progesteron (PR) và Her2 cĩ ý nghĩa

quan trọng trong dự đốn đáp ứng điều trị và tiên

lượng các trường hợp carcinơm tuyến vú Khảo sát

biểu hiện của thụ thể estrogen và progesteron bằng phương pháp nhuộm hĩa mơ miễn dịch (HMMD) đã được thực hiện thường qui tại Bệnh viện Ung bướu

TP Hồ Chí Minh, mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho bệnh nhân

Trang 2

Trong nhiều năm, người ta đã khảo sát các dấu

ấn sinh học của carcinơm tuyến vú trên mẫu bệnh

phẩm thường qui cĩ kích thước lớn Ngày nay, với

sự phát triển của kỹ thuật mới TMA (tisuue

microarray – sắp xếp dãy mơ) cho phép việc đi sâu

vào nghiên cứu bản chất và sự phát triển của các

khối bướu vú ung thư trở nên thuận tiện, dễ dàng và

tiết kiệm được nhiều chi phí Các mảnh nhỏ cĩ

đường kính khoảng 0,6 – 3 mm sẽ được lấy ra từ

khối nến chứa mẫu mơ bướu của nhiều bệnh nhân,

sau đĩ được sắp xếp lại thành từng dãy mơ trên một

khối nến mới Lát cắt mỏng từ khối nến này cho

phép khảo sát các tế bào bướu ung thư ở mức độ

protein và DNA cho hàng chục bệnh nhân cùng một

lúc Nhưng liệu mẫu mơ cĩ kích thước quá nhỏ (0,6

– 3 mm) cĩ đủ đại diện cho mẫu bệnh phẩm lớn hay

khơng? Cĩ thể sử dụng kỹ thuật TMA thay thế cho

mẫu mơ lớn hay khơng? Nhiều cơng trình nghiên

cứu trên thế giới cho biết cĩ sự tương hợp cao giữa

mẫu mơ lớn và mẫu TMA khi khảo sát các dấu ấn

sinh học của ung thư vú Tại Bệnh viện Ung bướu

TP HCM, chúng tơi mới bắt đầu thử nghiệm thực

hiện kỹ thuật TMA trong khảo sát ER, PR và Her2

Thực hiện đề tài nghiên cứu này, chúng tơi nhằm các

mục tiêu sau:

+ Khảo sát sự phân bố của ER và PR trong mơ

bướu của các trường hợp carcinơm tuyến vú trên

mẫu mơ bệnh phẩm lớn và mẫu TMA bằng phương

pháp HMMD

+ Đánh giá sự tương hợp của tình trạng biểu

hiện ER và PR giữa hai mẫu bệnh phẩm lớn và mẫu

TMA

ĐỐI TƯỢNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

712 khối mơ vùi nến của 712 bệnh nhân được

chẩn đốn là carcinơm tuyến vú, được nhuộm hĩa

mơ miễn dịch ER và PR tại Bệnh viện Ung bướu TP

HCM từ 3/2010 đến 8/2010 và 9 khối nến TMA xây

dựng từ 114 khối nến trong 712 khối nến kể trên

Phương pháp nghiên cứu

Loại nghiên cứu

Tiền cứu, mơ tả cắt ngang

Phương pháp tiến hành

Mẫu bệnh phẩm lớn: 712 khối nến được cắt lát

mỏng 5 µm, nhuộm hĩa mơ miễn dịch khảo sát thụ

thể estrogen và progesteron

Mẫu TMA: 9 khối nến TMA được xây dựng từ

114 khối nến chọn ngẫu nhiên trong 712 khối nến

trên Lõi mơ được lấy cĩ đường kính 3 mm Khối nến TMA cũng được cắt mỏng và nhuộm hĩa mơ miễn dịch khảo sát ER và PR

Nhuộm hĩa mơ miễn dịch: Kỹ thuật nhuộm gián tiếp, sử dụng hệ thống hiển thị màu Envision + của hãng DAKO, các kháng thể đơn dịng sử dụng: 1D5 (DAKO) phát hiện ER và PgR636 (DAKO) phát hiện PR Kết quả được đánh giá bán định lượng theo

hệ thống tính điểm của Allred và UK - NEQAS đề nghị, dựa trên tỉ lệ nhân nhuộm màu (0%: 0 điểm; < 1%: 1 điểm; 1% - 0%: 2 điểm; 11% - 33%: 3 điểm; 34% -66%: 4 điểm; 67% - 100%: 5 điểm) và cường

độ bắt màu của nhân (khơng bắt màu: 0 điểm; bắt màu yếu: 1 điểm; bắt màu trung bình: 2 điểm; bắt màu đậm: 3 điểm) Điểm tổng cộng từ 0 – 8; dương tính khi điểm tổng cộng > 2

Phân tích số liệu bằng phần mềm thống kê SPSS 16.0

KẾT QUẢ

Qua khảo sát 712 mẫu bệnh phẩm lớn vùi nến của 712 bệnh nhân carcinơm tuyến vú và 9 khối nến TMA xây dựng từ 114 mẫu bệnh phẩm lớn của 114 bệnh nhân lựa chọn ngẫu nhiên trong loạt 712 bệnh nhân trên, chúng tơi cĩ các kết quả như sau:

Mẫu mơ lớn

Biểu hiện của thụ thể estrogen và progesteron Bảng 1

Biểu hiện Thụ thể

Dương tính Âm tính Tổng cộng

ER 430 (60,5%) 282 (39,5%) 712 (100%)

PR 343 (48,2%) 369 (51,8%) 712 (100%)

Nhận xét: Tỉ lệ ER dương tính là 60,5%; PR

dương tính là 48,2%

Bảng 2

ER+PR+ 46,6% (332/712) ER+PR- 13,8% (98/712) ER-PR+ 1,5% (11/172) (ER 0đ 7/11; ER

2 đ 4/11) ER-PR- 38,1% (271/712)

Nhận xét: Tỉ lệ ER và/hoặc PR dương tính là

61,9% ER –PR - 38,1% ER – PR + chiếm tỉ lệ thấp,

Trang 3

trong số ñó có hơn 1/3 số trường hợp có biểu hiện

ER nhưng dưới ngưỡng dương tính

Bảng 3 Phân bố ñều – không ñều

Thụ

thể

Phân bố

ñều

Phân bố không ñều

Tổng cộng

(307/430)

28,6%

(123/430)

100%

(430/430)

(167/342)

51,2%

(175/342)

100% (342/342)

Nhận xét: Khảo sát những trường hợp thụ thể

dương tính, chúng tôi nhận thấy 71,4% các trường hợp ER phân bố ñều khắp trong mô bướu Tỉ lệ này của PR thấp hơn rất nhiều, chỉ có 48,8%

Bảng 4 Tổng ñiểm bán ñịnh lượng theo Allred

PR 51,8% 0,1% 1,0% 6,2% 6,5% 6,0% 6,7% 21,6% 100%(712/712)

Nhận xét: ¾ các trường hợp ER dương tính có tổng ñiểm bán ñịnh lượng là 7 hoặc 8 ñiểm, ñại ña số các trường hợp là 8 ñiểm Chỉ có hơn ½ trường hợp PR dương tính có tổng ñiểm là 7 hoặc 8

Bảng 5 Cường ñộ bắt màu và phầm trăm tế bào bướu bắt màu

Điểm thụ thể

(1,9%)

55/430 (12,8%)

367/430 (85,3%)

34/430 (7,8%)

25/430 (5,8%)

32/430 7,4%)

47/430 (10,9%)

293/430 (68,1%)

(0,3%)

23/342 (6,7%)

318/342 (93%)

45/342 (13,1%)

44/342 (12,9%)

49/342 (14,3%)

48/342 (14,1%)

156/342 (45,6%)

Nhận xét: Trong ña số các trường hợp (85,3%), ER bắt màu có cường ñộ mạnh (3 ñiểm) và số trường hợp

có tỉ lệ bắt màu từ 34% trở lện chiếm 79% 95% các trường hợp PR bắt màu ñậm (3 ñiểm) và bắt màu từ 34%

tế bào bướu trở lên là 59,7%

Tương hợp giữa mẫu mô lớn và mẫu TMA

Tương hợp về ñiểm số

Bảng 6a Tương hợp về ñiểm số của ER giữa mẫu mô lớn và TMA

Trang 4

Phép kiểm Wilcoxon Signed Ranks kiểm ñịnh sự tương hợp về ñiểm số giữa MML và mẫu TMA cho biết

có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Mẫu TMA có ñiểm số thấp hơn MML (z = -3,691, p < 0,001)

Nhận xét: Có 10/114 trường hợp ER MML thay ñổi ñiểm số từ ≥ 3 ñiểm còn 0 hoặc 2 ñiểm, trong ñó có 6

trường hợp từ 5-8 ñiểm thay ñổi còn ≤ 2 ñiểm Không trường hợp nào MML có ñiểm số ≤ 2 ñiểm thay ñổi

thành ≥ 3 ñiểm trên mẫu TMA

Bảng 6b Tương hợp về ñiểm số của PR giữa mẫu mô lớn và TMA

Phép kiểm Wilcoxon Signed Ranks kiểm ñịnh sự tương hợp về ñiểm số giữa MML và mẫu TMA cho biết

có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Mẫu TMA có ñiểm số thấp hơn MML (z = -3,696,

p < 0,001)

Nhận xét: Có 12/114 trường hợp PR MML thay ñổi ñiểm số từ ≥ 3 ñiểm còn 0 hoặc 2 ñiểm, trong ñó có 4

trường hợp từ 6 - 8 ñiểm thay ñổi còn ≤ 2 ñiểm Không trường hợp nào MML có ñiểm số ≤ 2 ñiểm thay ñổi thành ≥ 3 ñiểm trên mẫu TMA

Trang 5

Tương hợp về tình trạng biểu hiện của ER và PR

Bảng 7a Tỉ lệ tương ñồng về tình trạng biểu hiện của ER trên MML và mẫu TMA

ER

TMA –

ER dương tính

TMA – ER âm tính TC

MML – ER dương tính

MML – ER âm tính

Nhận xét: 104/114 trường hợp (91,2%) có kết quả tương ñồng giữa MML và mẫu TMA,

kappa = 0,82 (tương ñồng gần hoàn toàn)

Bảng 7b Tỉ lệ tương ñồng về tình trạng biểu hiện của PR trên MML và mẫu TMA

PR TMA – PR dương tính TMA – PR âm tính TC

Nhận xét: 101/114 trường hợp (88,6%) có kết quả tương ñồng giữa MML và mẫu TMA,

kappa = 0,77 (tương ñồng mạnh)

BÀN LUẬN

Biểu hiện của ER và PR

Tỉ lệ ER+ theo nghiên cứu này là 60,5% Tỉ lệ này không thay ñổi so với những khảo sát tại

bệnh viện Ung bướu trong vòng 5 năm nay, chứng tỏ sự ổn ñịnh của kỹ thuật nhuộm hóa mô

miễn dịch ñối với các thụ thể nội tiết Tỉ lệ ER+ của chúng tôi tương ñồng với các tác giả trong

nước, khu vực Đông Nam Á và Châu Á Theo Tạ Văn Tờ (2004), ER+ chiếm 59,1%(19) Theo

các tác giả người Mã Lai, Singapore, Thái lan, ER+ có tỉ lệ thay ñổi từ 53,8 ñến 65%(13,15,20) Tỉ lệ

này là 64,4% ñối với người Nhật(11) và 67% ñối với người Trung Quốc(14) Khi so sánh với các tác

giả Châu Âu và Bắc Mỹ, tỉ lệ ER+ ở những khu vực này cao hơn nhiều, thay ñổi từ 75% ñến

81%(9,16,21) Điều này chứng tỏ không có sự tương ñồng hoàn toàn về bản chất sinh học bệnh ung

thư vú giữa người Việt Nam và Châu Á với người Châu Âu và Bắc Mỹ Tuy nhiên, nhiều nghiên

cứu cũng cho biết ñã có các thay ñổi ñáng kể theo hướng tăng dần tần suất mắc bệnh ung thư vú ở

Châu Á vốn là vùng trước ñây có tỉ lệ mắc bệnh thấp Thay ñổi về ñiều kiện kinh tế xã hội, lối

sống có ảnh hưởng lớn với ung thư vú

Tỉ lệ PR + theo nghiên cứu này là 48,2% Theo Tạ Văn Tờ, tỉ lệ này là 51,4%(19) PR + tại

các nước Đông Nam Á có tỉ lệ thay ñổi khá lớn, từ 35% ñến 42,1%(13,20) Có thể giải thích sự khác

biệt về tỉ lệ là do sử dụng các kháng thể có ñộ nhạy khác nhau Tỉ lệ PR+ ở nhóm bệnh nhân Âu

Mỹ thay ñổi từ 55% ñến 69%(9,16,21)

Tỉ lệ ER+và/hoặc PR+ theo nghiên cứu này là 61,9% Theo Tạ Văn Tờ, tỉ lệ này là 62,3%(19)

Không có sự khác biệt giữa hai nhóm bệnh nhân ung thư vú phía Bắc và phía Nam Tỉ lệ này ở

các tác giả Đông Nam Á cũng tương tự, thay ñổi từ 57,63% ñến 66%(13,15,20) Tỉ lệ này cũng cao

hơn rõ rệt trong nhóm bệnh nhân Âu Mỹ, thay ñổi từ 75% ñến 77,9%(9,16) Sự biểu hiện của thụ

thể progesteron phụ thuộc vào tính toàn vẹn về mặt chức năng của thụ thể estrogen Tuy nhiên

vẫn tồn tại một nhóm ER-PR+ Tỉ lệ ER-PR+ của nghiên cứu này là 1,5% Tỉ lệ này thay ñổi theo

Trang 6

nhiều tác giả, từ 2,9% ñến 10% Có những ý kiến khác nhau giải thích sự hiện diện của nhóm

này Theo Elledge, thật sự tồn tại một nhóm ER-PR+ và sự biểu hiện của PR thông qua một con

ER-PR+ Tác giả giải thích tình trạng âm tính của ER trong những trường hợp này có thể là do

(1) ER âm tính giả do ñặc ñiểm kỹ thuật của phương pháp thử hoặc do nồng ñộ ER trong bướu

quá thấp, dưới ngưỡng phát hiện của phương pháp thử(16); cho ñến ngày nay có 3 kháng thể nhận

biết ER ñã ñược kiểm chứng lâm sàng gồm 1D5, 6F11 và SP1(8) Kết quả nhuộm HMMD với các

kháng thể này tương hợp cao với diễn tiến lâm sàng và sự tương hợp này bằng hoặc cao hơn

phương pháp gắn phối tử Nghiên cứu gần ñây cho biết SP1 cho kết quả tốt nhất Theo Gown, với

kháng thể SP1 và 1D5 sẽ không còn tồn tại nhóm ER-PR+ nữa(8) (2) do tồn tại biến thể ER, biến

thể này hoạt ñộng bình thường nhưng không kết hợp ñược với kháng thể ñặc hiệu(16) Trong

nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng kháng thể 1D5, có 4/11 trường hợp ER-PR+ có ER có ñiểm số

= 2 (thang ñiểm Allred), dưới ngưỡng dương tính của phương pháp thử Điều này phù hợp với

giải thích của Nadji Nhóm ER-PR+ ít nhạy cảm với ñiều trị nội tiết hơn nhóm ER+PR+ và

ER+PR-(2)

Đặc ñiểm phân bố của ER, PR trong mô bướu

Theo nghiên cứu của chúng tôi, 71,4% ER phân bố rải ñều khắp trong mô bướu, trong khi ñó

chỉ có 48,8% trường hợp PR phân bố rải ñều Douglas - Johns tiến hành nghiên cứu sự phân bố

của thụ thể trong mô bướu, sử dụng thang ñiểm H score, cho biết, trên từng quang trường 0,4

mm, nếu xét trên phương diện từng tế bào, sẽ có sự không ñồng nhất trong biểu hiện của ER: Có

một tỉ lệ các nhân không bắt màu nằm ngay bện cạnh một loạt các nhân bắt màu ở các mức ñộ

khác nhau; nhưng nếu xét trên toàn bộ mô bướu thì có sự ñồng nhất về ñiểm số H score của các

quang trường 0,4 mm Cũng theo tác giả này, tình trạng không ñồng nhất của bướu, hay nói cách

khác, những bướu có phân bố thụ thể không ñều chiếm tỉ lệ rất thấp, chỉ có 0,5%(5) Theo nghiên

cứu của Nadji 92% các trường hợp ER+ và 79% PR + lan tỏa khắp mô bướu(16) Nadji và Douglas

- Johns ñều cho biết thụ thể có xu hướng dương tính ở ngoại vi mẫu mô nhiều hơn và giảm dần

khi vào trung tâm bướu, có liên quan với cố ñịnh mẫu mô ER+ khu trú trong mô bướu là do cố

vai trò nhất ñịnh Không phải tất cả các kháng thể dùng trong nhuộm HMMD sẽ cho kết quả

nhuộm ñồng ñều khắp mô bướu Kháng thể 1D5 có thể cho kết quả nhuộm hoặc âm hoàn toàn

hoặc dương ñồng nhất là do nó nhận biết vùngA/B của ñầu tận N của thụ thể(16) Giải thích về sự

phân bố không ñều của PR trong mô bướu, Nadji cho biết không giống ER, tình trạng PR+ khu

trú không phải do lỗi cố ñịnh Kháng thể PgR636 dung nạp tình trạng cố ñịnh mô tốt hơn kháng

thể 1D5(16) Biểu hiện của PR phụ thuộc vào ER, do ñó chức năng của ER không ñồng nhất trong

mô bướu sẽ dẫn ñến tình trạng biểu hiện PR không ñồng nhất

Nghiên cứu này cho thấy phần lớn các trường hợp ER có tổng ñiểm = 8 (thang ñiểm Allred)

(39,9%); và xét trong các trường hợp ER+, có ñến ¾ số trường hợp có ñiểm 7 hoặc 8; 85,3% bắt

màu ñậm (3 ñiểm), 79% có tỉ lệ bắt màu từ 34% tế bào bướu trở lên Đối với PR, tỉ lệ PR có tổng

ñiểm = 8 là 21,6%; 93% PR bắt màu ñậm (3 ñiểm); 59,7% PR+ có tỉ lệ bắt màu từ 34% tế bào

bướu trở lên Như vậy, với những kháng thể chúng tôi ñang sử dụng, phần lớn các trường hợp

ER+ và PR+ ñều có ñiểm số cao Nhận xét này tương hợp với khảo sát của Henriksen Trong

nghiên cứu của Henriksen ER có 40/55 trường hợp ñiểm 7 hoặc 8; 14/55 trường hợp ñiểm từ 3

khảo sát 825 trường hợp carcinôm tuyến vú nhận thấy có ñến 99% các trường hợp ER hoặc hoàn

toàn âm tính hoặc dương tính mạnh trên 70% số tế bào bướu 1% còn lại có tỉ lệ tế bào dương

tính thay ñổi từ 20 - 60% Collins cũng cho biết 80,1% các trường hợp có ñiểm số Allred 7 hoặc 8

chứng tỏ biểu hiện của ER rất mạnh và phân bố ñều, 19,1% âm tính hoàn toàn; và rất hiếm các

trường hợp (0,8%) có ñiểm số thấp (5 hoặc 6, không có ñiểm số 3,4)(4) Do ñó, Collins xác ñịnh

có hai kiểu phân bố của thụ thể estrogen: Dương tính mạnh lan tỏa khắp bướu hoặc âm tính hoàn

Trang 7

ER có ñiểm số 3 ñến 6 Sự khác biệt này có thể do lỗi kỹ thuật (ví dụ: Cố ñịnh không ñủ), kháng

thể sử dụng không phải là kháng thể tốt nhất, hoặc do bản chất sinh học của bướu ở người Việt

Nam không giống với người Âu Mỹ

Kỹ thuật sắp xếp dãy mô (Tissue microarrays - TMA)

Kỹ thuật TMA ñược Kononen và cộng sự ñưa ra lần ñầu tiên vào năm 1998 nhằm mục ñích

làm giảm thiểu thời gian cắt nhuộm mẫu mô, giảm số block paraffin, giảm chi phí cả cho thuốc

nhuộm lẫn chi phí trả cho người nhuộm Đã có rất nhiều tranh luận xung quanh kỹ thuật TMA

Tính không ñồng nhất của tế bào bướu khiến mẫu TMA có thể không ñại diện cho toàn bộ mô

bướu Ngược lại, TMA có nhiều lợi thế: mức ñộ hằng ñịnh khi nhuộm các mẫu mô nhỏ nằm trên

cùng một tiêu bản chắc chắn sẽ cao hơn khi nhuộm hàng trăm các mẫu mô lớn riêng biệt; hơn

nữa, việc chấm ñiểm cũng dễ dàng hơn do ñược thực hiện trên toàn bộ vùng mô bướu, tránh ñược

sai lệch chủ quan do lựa chọn vùng ñể khảo sát khi ñọc trên mẫu mô lớn Như vậy, ñể khắc phục

nhược ñiểm mang lại do tính không ñồng nhất của bướu, các tác giả ñề nghị hoặc tăng kích thước

của lõi mô trên TMA hoặc tăng số lượng lõi mô cho mỗi trường hợp Tăng kích thước chỉ giúp

tăng thêm tối thiểu số lượng tế bào bướu ñược khảo sát Còn nếu tăng số lượng, các lõi mô ñược

lấy từ nhiều vị trí khác nhau trong bướu, sẽ ñại diện hơn cho mô bướu Cho ñến nay ñã có nhiều

công trình nghiên cứu về kích thước và số lượng mẫu mô cần lấy Theo Kyndi, nhuộm HMMD

ER, PR trên một lõi mô 1mm cho thấy kết quả tương ñồng giữa mẫu TMA với mẫu mô lớn, giữa

hai lõi mô lấy từ vùng ngoại vi và trung tâm của bướu và giữa hai lõi mô lấy từ hai block paraffin

khác nhau của cùng một bệnh nhân(12) Henriksen dùng một lõi mô 2 mm cũng cho biết có sự

tương ñồng cao(10) Camp cho biết với 2 lõi mô 0,6 mm ñủ ñể ñạt ñộ tương ñồng cao(3)

Anagnostou nhận thấy mẫu 0,6 mm cũng ñủ ñại diện như mẫu 1,5 mm khi khảo sát các dấu ấn

sinh học trong ung thư vú(10) Tuy nhiên, do bộ dụng cụ thực hiện TMA khá mắc tiền, một tác giả

người Ấn Độ ñã giới thiệu phương pháp xây dựng mẫu mô TMA của mình ông ta sử dụng kim

sinh thiết tủy 16 - gauge ñể lấy lõi mô và cho biết có 148/150 trường hợp tương hợp giữa mẫu mô

lớn và TMA(18) Block TMA có thể lưu giữ kháng nguyên lâu ñến 60 nằm theo Camp(3), nhưng

nếu ñã ñược cắt thành lát mỏng, kháng nguyên sẽ bị mất ñi ñáng kể(7)

Tương hợp TMA và MML

Khi khảo sát sự tương hợp về ñiểm số Allred giữa hai mẫu mô TMA và MML, chúng tôi

nhận thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Mẫu TMA có xu hướng thấp ñiểm hơn MML Đối

với ER, phân tích 10 trường hợp thay ñổi về ñiểm số, chúng tôi nhận thấy 5 trường hợp có ñiểm 3

- 5, tương ứng với phần trăm tế bào bướu bắt màu thường thấp (< 33%), do ñó xác suất chúng ta

lấy lõi mô vào vùng âm tính sẽ cao; 5 trường hợp còn lại có ñiểm số 6 - 8 trên MML trở nên âm

tính hoàn toàn (0 ñiểm) trên TMA, chúng tôi nhận thấy nguyên nhân là do lỗi kỹ thuật: Khi trải

mảnh mô TMA cắt mỏng lên lam kính, người kỹ thuật viên ñã ñể những mẫu mô này nằm sát rìa

của lam kính và như vậy mẫu mô sẽ không tiếp xúc hoặc tiếp xúc ñược rất ít với thuốc nhuộm,

dẫn ñến kết quả âm tính giả Giải thích tương tự như trên với những trường hợp thay ñổi ñiểm số

của PR

Khi khảo sát về tỉ lệ tương ñồng dương tính và âm tính giữa MML và mẫu TMA, chúng tôi

nhận thấy tương hợp giữa MML và TMA ñối với ER là 91,2% (kappa = 0,82), tương hợp này có

thể sẽ cao hơn nữa nếu chúng tôi khắc phục ñược những lỗi kỹ thuật ñã phân tích ở trên; tương

hợp của PR là 88,6% (kappa = 0,77), bên cạnh lỗi kỹ thuật, ñặc tính phân bố không ñều trong

phần lớn trường hợp của PR ñã khiến ñộ tương hợp của PR giữa MML và TMA không cao như

ñối với ER Tham khảo các nghiên cứu khác chúng tôi nhận thấy có sự tương hợp rất cao giữa

MML và mẫu TMA khi nhuộm HMMD ER và PR, ngay cả khi họ dùng mẫu mô rất nhỏ, chỉ có

0,6 mm Tỉ lệ tương ñồng theo Zhang (Singapore) ER 97% (kappa = 0,93), PR 98% (kappa =

0,95)(22); theo Henriksen tương ñồng lần lượt là 96% và 93% cho ER và PR(10); theo Camp là

95%(3) Theo Parker, tương ñồng kém giữa các kết quả nhuộm của những phòng xét nghiệm khác

nhau không phải do người ñọc mà do kỹ thuật nhuộm và kháng thể sử dụng khác nhau(17) Do ñó

Trang 8

TMA là công cụ hiệu quả ñể khảo sát các dấu ấn sinh học của ung thư vú và có thể sử dụng trong

các chương trình kiểm ñịnh chất lượng của các phòng xét nghiệm

KẾT LUẬN

Qua khảo sát 712 mẫu bệnh phẩm lớn vùi nến và 9 khối nến TMA xây dựng từ 114 mẫu

bệnh phẩm lớn của 114 bệnh nhân lựa chọn ngẫu nhiên, chúng tôi có các kết luận như sau: (1) Đa

số trường hợp ER phân bố lan tỏa ñều khắp mô bướu, trong khi PR chỉ có gần một nửa số trường

hợp phân bố ñều; (2) Tương ñồng giữa mẫu mô lớn và mẫu TMA là 91,2% với kappa = 0,82 ñối

với thụ thể estrogen và 88,6% với kappa = 0,77 ñối với thụ thể progesteron ; (3) Cần hoàn chỉnh

kỹ thuật TMA ñể có thể ñạt ñộ tương hợp cao hơn.g

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Anangostou V.K., Lowery F.J., Syrigos K.N., Cagle P.T., Rimm D.L (2010), “Quantitative

evaluation of protein expression as a function of tissue microarray core diameter: is a large

(1.5 mm) core better than a small (0.6 mm) core?”, Arch Pathol Lab Med, Apr; 134(4):613-9

2 Bardou V.J., Arpino G., Elledge R.M., Osborne C.K., Clark G.M (2003), “Progesterone

receptor status significantly improves outcome prediction over estrogen receptor status alone

for adjuvant endocrine therapy in two large breast cancer databases”, Journal of Clinical

Oncology Vol 21 Issue 10 (May), pp 1973-1079

3 Camp R.L., Charette L.A., Rimm D.L (2004), « Validation of tissue microarray technology

in breast carcinoma”, Lab Invest Dec;84(12):1677

4 Collins L.C.,Botero M.L., Schnitt S.J (2005), “Bimodal frequency distribution of estrogen

receptor immunohistochemical staining results in breast cancer An analysis of 825 caeses”,

Am J Clin Pathol, 122:16-20

5 Douglas-Jones A.G., Collett N., Morgan J.M., Jasani B (2001), “Comparison of core

oestrogen receptor (ER) assay with excised tumour: intratumoral distribution of ER in breast

carcinoma”, J Clin Pathol, 54: 951-955

6 Elledge R.M., Fuqua S.A.W (2000), “Chapter 31: Estrogen and progesterone receptors”,

Diseases of the Breast, 2nd edition, Lippincott Williams & Wilkins, pp 471-488

7 Fergenbaum J.H., Garcia-Glosas M., Hewitt S.M., Lissowska J., Sakoda L.C., Sherman M.E

(2004), “Loss of antigenicity in stored sections of breast cancer tissue microarrays”, Cancer

epidemiol biomarkers prev 13(4)

8 Gown A.M (2008), ”Current issues in ER and HER2 testing by IHC in breast cancer”,

Modern Pathology , 21,S8-S15

9 Harvey J.M., Clark G.M., Osborne C.K., Allred D.C (1999), “Estrogen receptor status by

immunohistochemistry is superior to the ligand-binding assay for predicting response to

adjuvant endocrine therapy in breast cancer”, J Clin Oncol 17, pp 1474-1481

10 Henriksen K.L., Rasmussen B.B., Lykkesfieldt A.E., Moller S., Ejlertsen B., Mouridsen H.T

(2007), “Semi-quantitative scoring of potentially predictive markers for endocrine treatment

of breast cancer: a comparison between wlole sections and tissue microarrays”, J clin pathol ,

60:397-404

11 Horiguchi L., Koibuchi Y., Iijima K., Yoshida T., Yoshida M et al (2003),

“Immunohistochemical double staining with estrogen receptor and HER2 on primary breast

cancer”, Int J Mol Med Dec 12(6), PP 855-859

12 Kyndi M., Sorensen F.B., Knudsen H., Overgaard M., Nielsen H.M., Andersen J., Overgaard

J (2008), “Tissue microarrays compared with whole sections and biochemical analyses A

subgroup analysis of DBCG 82 b&c”, Acta Oncologica, 47:591-599

13 Lertsanguansinchai P., Chottetanaprasith T., Chatamra K et al (2002), “Estrogen and

progesterone receptors status in Thai female breast cancer patients: an analysis of 399 cases

at King Chulalongkorn Memorial Hospital”, J Med Assoc Thai Jun 85 Suppl 1, pp S193-202

14 Liu R.B., Zhou X.H., Wang J.N., Liang H.Z., Li X.X., Wu Z.H., Ye J.L., Wang S.M (2008),

Trang 9

receptor 2 in breast cancer and the significance thereof: analysis of 910 cases”, Zhonghua Yi

Xue Za Zhi Dec 30;88(48):3397-400

15 Looi L.M., Azura W.W., Cheah P.L., Ng M.H (2001), “pS2 expression in infiltrating ductal

carcinoma of the breast correlates with oestrogen receptor positivity but not with histological

grade and lymph node status”, Pathology Aug 33(3), pp 283-286

16 Nadji M., Gomez-Fernandez C., Ganjei-Azar P., Morales A.R (2005),

« Immunohistochemistry of estrogen and progesterone receptors reconsidered Experience

with 5,993 breast cancers”, Am J Clin Pathol, 123:21-27

17 Parker R.L., Huntsman D.G., Lesack D.W., Cupples J.B., Grant D.R., Akbari M., Gilks B.C

(2002), “Assessment of interlaboratory variation in the immunohistichemical determination

of estrogen receptor status using a breast cancer tissue microarray” Am J Clin Pathol,

117:723-728

18 Sharma S.K., Deka L., Gupta R., Gupta S., Singh D.K., Singh S (2010), “Tissue microarray

construction from gross specimens: development of a novel simple technique”, J Clin Pathol,

Sep;63(9):782-5

19 Tạ Văn Tờ (2004), Nghiên cứu hình thái học, hóa mô miễn dịch và giá trị tiên lượng của

chúng trong ung thư biểu mô tuyến vú, Luận án Tiến sĩ Y học, Trường ĐạI học Y Hà Nội

20 Thike A.A., Cheng M.J., Fook-Chong S., Tan P.H (2001), “Immunohistochemical

expression of hormone receptors in invasive breast carcinoma: correlation of results of

H-score with pathological parameters”, Pathology Feb 33(1), pp 21-25

21 Zafrani B., Aubriot M.H., Mouret E., De Cremoux P., De Rycke Y et al (2000), “High

sensitivity and specificity of immunohistochemistry for the detection of hormone receptors in

breast carcinoma: comparison with biochemical determination in a prospective study of 793

cases”, Histopathology Dec 37(6), pp 536-545

22 Zhang D.H., Salto-Tellez M., Putti T.C., Do E., KoayE.S.C (2003), “Reliability of tissue

microarrays in detecting protein expression and gene amplification in breast cancer”, Mod

Pathol, 16(1):79-85

Ngày đăng: 23/01/2020, 07:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm