Kháng nguyên Ro/SSA (Sjogren’s Syndrome A) là một trong những kháng nguyên nhân hòa tan hay gặp, có liên quan với loại tổn thương da, nguy cơ biểu hiện nội tạng ở những bệnh nhân Lupus ban đỏ. Nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ kháng thể kháng Ro/SSA (anti - Ro/SSA) dương tính và mối liên quan với biểu hiện lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân Lupus ban đỏ hệ thống (Systemic Lupus Erythematosus - SLE).
Trang 1MỐI LIÊN QUAN GIỮA KHÁNG THỂ KHÁNG Ro/SSA
VÀ ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG CỦA BỆNH NHÂN
LUPUS BAN ĐỎ HỆ THỐNG
Lê Hữu Doanh, Nguyễn Thị Hà Vinh
Trường Đại học Y Hà Nội.
Kháng nguyên Ro/SSA (Sjogren’s Syndrome A) là một trong những kháng nguyên nhân hòa tan hay gặp, có liên quan với loại tổn thương da, nguy cơ biểu hiện nội tạng ở những bệnh nhân Lupus ban đỏ Nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ kháng thể kháng Ro/SSA (anti - Ro/SSA) dương tính và mối liên quan với biểu hiện lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân Lupus ban đỏ hệ thống (Systemic Lupus Erythematosus -SLE) Điều tra mô tả cắt ngang trên 97 bệnh nhân SLE đến khám, điều trị tại phòng khám chuyên đề các bệnh tổ chức liên kết tự miễn, bệnh viện Da liễu Trung ương từ tháng 1/2014 đến tháng 8/2014 Kết quả cho thấy tỷ lệ kháng thể anti - Ro/SSA dương tính ở nhóm nghiên cứu là 60,8% Nguy cơ xuất hiện tổn thương
da cấp tính và bán cấp tăng ở bệnh nhân SLE có kháng thể anti - Ro/SSA dương tính Không có mối liên quan giữa kháng thể anti - Ro/SSA với các triệu chứng cận lâm sàng cũng như độ hoạt động của bệnh.
Từ khóa: kháng thể anti-Ro/SSA, Lupus ban đỏ hệ thống
Địa chỉ liên hệ: Lê Hữu Doanh, Bộ môn Da liễu, Trường
Đại học Y Hà Nội
Email: doanhlehuu@yahoo.com
Ngày nhận: 14/10/2015
Ngày được chấp thuận: 26/02/2016
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Lupus ban đỏ là một trong những bệnh tổ
chức liên kết tự miễn thường gặp Bệnh đặc
trưng bởi các tự kháng thể bất thường chống
lại kháng nguyên nhân và các protein liên
quan với nhân của tế bào [1] Lupus ban đỏ
được chia làm hai nhóm là Lupus ban đỏ hệ
thống (Systemic Lupus Erythematosus - SLE)
và Lupus ban đỏ ở da (Cutaneous Lupus
Ery-thematosus - CLE), trong đó SLE có biểu hiện
lâm sàng, cận lâm sàng và tiên lượng nặng
hơn Lupus ban đỏ ở da Tổn thương da trong
bệnh Lupus rất đa dạng, trong đó tổn thương
da cấp tính thường liên quan với các biểu hiện
nội tạng [1; 2] Việc chẩn đoán và tiên lượng
bệnh SLE không chỉ dựa vào các triệu chứng
lâm sàng, cận lâm sàng mà còn phụ thuộc độ
đặc hiệu cũng như nồng độ các tự kháng thể
Cho đến nay, đã có hơn 100 kháng nguyên nhân hòa tan được biết đến trong các bệnh tổ chức liên kết Trong đó, kháng nguyên Ro/ SSA là một trong những kháng nguyên nhân hòa tan hay gặp [3] Kháng thể anti - Ro/SSA
là một trong những kháng thể kháng nhân thường liên quan với Lupus ban đỏ hệ thống, Lupus da thể bán cấp, hội chứng Sjogren và Lupus ban đỏ ở trẻ sơ sinh [3; 4; 5] Nghiên cứu của tác giả Barbara và cộng sự đã chỉ ra mối liên quan giữa loại tổn thương da và tuổi với nguy cơ biểu hiện nội tạng ở những bệnh nhân Lupus ban đỏ có kháng thể anti - Ro/ SSA dương tính [6] Điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tiên lượng bệnh
Ở Việt Nam, đã có những nghiên cứu về các biểu hiện da, nội tạng, cận lâm sàng và một số thay đổi liên quan miễn dịch ở bệnh Lupus ban đỏ nói chung và bệnh Lupus ban
đỏ hệ thống nói riêng [7; 8] Tuy nhiên, cho đến nay chưa có nghiên cứu nào chỉ ra mối liên quan giữa kháng thể anti - Ro/SSA với các triệu chứng của bệnh Lupus ban đỏ hệ thống và vấn đề tiên lượng bệnh Vì vậy,
Trang 2nghiên cứu này được tiến hành nhằm mục
tiêu 1) Xác định tỷ lệ kháng thể anti-Ro/SSA
dương tính của bệnh Lupus ban đỏ hệ thống
tại Bệnh viện Da liễu trung ương từ tháng
01/2014 đến tháng 08/2014 và 2) Mối liên
quan với biểu hiện lâm sàng, cận lâm sàng
của bệnh nhân Lupus ban đỏ hệ thống
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
1 Đối tượng
97 bệnh nhân được chẩn đoán SLE theo
tiêu chuẩn của Hội Thấp khớp học Hoa Kỳ
(ARA) 1997, đến khám và theo dõi điều trị tại
phòng khám chuyên đề các bệnh tổ chức liên
kết tự miễn, Bệnh viện Da liễu Trung ương từ
tháng 01/2014 đến tháng 08/2014
Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
- Được chẩn đoán SLE, lưu huyết thanh
làm xét nghiệm kháng thể anti - Ro/SSA
bằng kỹ thuật ELISA (enzyme - linked
immu-nosorbent assay)
- Đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân
Bệnh nhân mắc thêm các bệnh mô liên kết
tự miễn khác như viêm bì cơ, xơ cứng bì…
hoặc các bệnh da có nhạy cảm với ánh sáng
Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên
cứu hoặc không đồng ý lưu mẫu huyết thanh
và làm xét nghiệm định lượng kháng thể anti
-Ro/SSA
2 Phương pháp: mô tả cắt ngang.
Các bước tiến hành
+ Xây dựng bệnh án nghiên cứu
+ Hỏi bệnh, khám bệnh, chỉ định các xét
nghiệm, đánh giá các chỉ số cần cho nghiên cứu
+ Phân loại tổn thương da: theo phân loại
của Gilliam: tổn thương đặc hiệu (tổn thương
cấp tính: ACLE – Acute Cutaneous Lupus Erythematosus, tổn thương bán cấp: SCLE -Subacute Cutaneous Lupus Erythematosus, tổn thương mạn tính: CCLE – Chronic Cuta-neous Lupus Erythematosus) và không đặc hiệu
+ Đánh giá các chỉ số: tổn thương da CLASI (Cutaneous Lupus Erythematosus Area Severity Index), độ hoạt động bệnh SLEDAI (Systemic Lupus Erythematosus Desease Ac-tivity), DAS 28 (Desease Activity Score in 28 joints)
+ Lấy 3 ml máu tĩnh mạch vào ống chống đông, ly tâm chắt huyết thanh, lưu ở tủ lạnh
âm sâu (-80ºC) đến khi làm xét nghiệm ELISA (enzyme-linked immunosorbent assay) định lượng kháng thể anti - Ro/SSA
Một số các xét nghiệm sử dụng trong nghiên cứu
+ Xét nghiệm miễn dịch huỳnh quang gián tiếp trên tế bào HEp - 2 để xác định kháng thể kháng nhân (ANA)
+ Xét nghiệm định lượng anti - Ro/SSA bằng phương pháp ELISA, kit từ hãng MBL, Nhật Bản
Đánh giá: nồng độ anti - Ro/SSA ≥ 30 UI/
ml → dương tính, < 30 UI/ml → âm tính Tiến hành xét nghiệm ELISA định lượng kháng thể anti-Ro/SSA 2 lần cho mỗi mẫu huyết thanh
để hạn chế tối đa sai số giữa các lần làm xét nghiệm Giá trị định lượng kháng thể ant i- Ro/ SSA được xác định bằng giá trị trung bình cộng của 2 lần xét nghiệm
3 Xử lý số liệu: xử lý số liệu: theo phần
mềm SPSS 20.0
4 Đạo đức nghiên cứu: bệnh nhân tự
nguyện tham gia nghiên cứu, thông tin của bệnh nhân được giữ kín
Trang 3III KẾT QUẢ
1 Tỷ lệ kháng thể anti-Ro/SSA dương tính ở bệnh nhân SLE
Biểu đồ 1 Tỷ lệ kháng thể anti - Ro/SSA dương tính ở bệnh nhân SLE
Kháng thể anti - Ro/SSA dương tính gặp ở 59 bệnh nhân chiếm 60,8%
2 Mối liên quan giữa kháng thể anti-Ro/SSA và biểu hiện lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân SLE
Bảng 1 Nguy cơ xuất hiện tổn thương da ở bệnh nhân
có kháng thể anti - Ro/SSA dương tính
Tổn thương da n Tỷ suất chênh OR (odd ratio) Độ tin cậy 95%
Tổn thương bán cấp
- Tổn thương vảy nến
- Tổn thương vòng
27 11 17
1,133 1,83 0,904
0,454 - 2,832 0,454 - 7,384 0,311 - 2,623
Nguy cơ xuất hiện tổn thương da cấp tính và bán cấp ở bệnh nhân SLE có kháng thể anti-Ro/ SSA (+) tăng lên lần lượt là 1,946 và 1,133 lần Nguy cơ xuất hiện của các tổn thương da nói chung là 2,025 lần
Bảng 2 Các tổn thương da khác ở bệnh nhân SLE có kháng thể anti-Ro/SSA
dương tính và âm tính
Các tổn thương da khác Kháng thể anti-Ro/SSA (+) Kháng thể anti-Ro/SSA (-) p
39,2%
Trang 4Các tổn thương da khác Kháng thể anti-Ro/SSA (+) Kháng thể anti-Ro/SSA (-) p
Trong các biểu hiện tổn thương da khác của Lupus, không có triệu chứng nào có mối liên quan với sự có mặt của kháng thể anti - Ro/SSA Tỷ lệ bệnh nhân có biểu hiện hội chứng Raynaud ở nhóm SLE kháng thể anti - Ro/SSA dương tính cao hơn ở nhóm SLE kháng thể anti-Ro/SSA âm tính, sự khác biệt gần đạt mức có ý nghĩa, p = 0,068
Bảng 3 Đặc điểm cận lâm sàng của bệnh nhân SLE có kháng thể anti - Ro/SSA
dương tính và âm tính
Biểu hiện cận lâm sàng Kháng thể
Anti - Ro/SSA (+)
Kháng thể Anti - Ro/SSA (-) p
5 Giảm bạch cầu lympho (< 1500/ mm3) 46/59 28/38 0,628
Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về các chỉ số xét nghiệm máu và nước tiểu ở 2 nhóm SLE có kháng thể anti-Ro/SSA (+) và (-)
Bảng 4 Các thang điểm đánh giá hoạt động bệnh của nhóm SLE có
anti - Ro/SSA âm tính và dương tính
(X ± SD)
Anti-Ro/SSA (-)
Trang 5* CLASI (Cutaneous Lupus Erythematosus Area Severity Index)
SLEDAI (Systemic Lupus Erythematosus Desease Activity)
DAS 28 (Desease Activity Score in 28 joints)
Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về các chỉ số đánh giá hoạt động bệnh ở 2 nhóm SLE anti - Ro (+) và (-)
Bảng 5 Các yếu tố nguy cơ thương tổn nội tạng ở bệnh nhân SLE
có kháng thể anti - Ro/SSA dương tính
Giới
Bệnh tự miễn khác đi kèm
0,672 0,761
0,176 - 2,232 0,077 - 7,51 Mệt
Sốt
Đau cơ
Đau khớp
Loét niêm mạc miệng
1,905 1,082 1,676 1,135 0,652
0,546 - 6,64 1,016 - 1,153 0,193 - 14,549 0,364 - 3,538 0,157 - 2,701 Nhạy cảm ánh sáng
Tổn thương cấp tính
Tổn thương bán cấp
Tổn thương mạn tính
Tổn thương không đặc hiệu
0,74 1,381 1,27 1,653 0,985
0,22 - 2,495 0,46 - 4,148 0,327 - 4,926 0,19 - 14,345 0,345 - 2,815 Kháng thể kháng nhân
Anti - dsDNA
1,013 0,788
0,988 - 1,038 0,203 - 3,055
Trong nhóm bệnh nhân SLE anti-Ro/SSA (+), các biểu hiện mệt, sốt, đau cơ, đau khớp là yếu
tố làm tăng nguy cơ xuất hiện các tổn thương nội tạng Sự xuất hiện của các tổn thương da đặc hiệu cũng như xét nghiệm kháng thể kháng nhân (+) cũng là nguy cơ của các biểu hiện nội tạng
IV BÀN LUẬN
Kháng thể anti - Ro/SSA lần đầu tiên được
phát hiện ra ở bệnh nhân hội chứng Sjogren
và là một marker đặc hiệu để chẩn đoán bệnh
này Ngoài ra, kháng thể anti - Ro/SSA còn
được tìm thấy trong các bệnh tự miễn hệ
thống khác bao gồm SLE Trong 97 mẫu
huyết thanh của nhóm bệnh nhân nghiên cứu,
59 mẫu có kháng thể anti - Ro/SSA dương
tính, chiếm tỷ lệ 60,8% Tỷ lệ này tương tự với
kết quả của Koskenmies và cộng sự, kháng
thể anti - Ro/SSA dương tính ở 61,8% bệnh nhân SLE [9] Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ kháng thể anti-Ro dương tính ở bệnh nhân SLE là khác nhau, theo Petri và cộng sự (2005) là 27,6%, Aurora Menendez là 44,0% [5], Faria (2005) là 47,0% [10] Sự khác biệt này có lẽ vì yếu tố địa dư và chủng tộc Một lý
do nữa là các nghiên cứu sử dụng các phương pháp khác nhau để xác định kháng thể anti - Ro/SSA Và ngay trong cùng một phương pháp thì dùng các bộ kít khác nhau,
Trang 6ngưỡng âm tính và dương tính khác nhau
cũng góp phần làm ảnh hưởng đến kết quả
nghiên cứu Hiện nay, ELISA vẫn được coi là
kỹ thuật có độ nhạy và độ đặc hiệu cao nhất
để phát hiện kháng thể anti - Ro/SSA Trong
nghiên cứu này, huyết thanh của bệnh nhân
tại thời điểm khám lâm sàng được lưu và bảo
quản trong tủ lạnh âm sâu ở nhiệt độ - 80ºC,
sau đó được đưa ra làm xét nghiệm xác định
kháng thể anti - Ro/SSA bằng kỹ thuật ELISA,
sử dụng bộ kít của hãng MBL, Nhật Bản Đây
là bộ sinh phẩm trộn lẫn kháng nguyên Ro-52
và kháng nguyên Ro - 60 với nhau, theo một
số tác giả thì kháng nguyên pha trộn này có
thể làm bỏ sót bệnh phẩm có kháng thể
anti-Ro/SSA dương tính vì khả năng các kháng
nguyên bao phủ lẫn nhau [3] Điều này là một
trong những hạn chế của nghiên cứu
Mối liên quan giữa kháng thể anti - Ro/SSA
và Lupus da bán cấp đã được biết đến từ lâu
Trong nghiên cứu này, nguy cơ xuất hiện tổn
thương da cấp tính và bán cấp tăng lên ở
bệnh nhân SLE nhưng số lần tăng chưa thực
sự cao và có ý nghĩa với tỷ suất chênh OR
lần lượt là 1,946 và 1,133 Điều này có thể do
nghiên cứu này thời gian lấy mẫu không đủ
dài, cỡ mẫu chưa đủ lớn để đại diện cho cả
quần thể Hơn nữa, trong nghiên cứu của các
tác giả nước ngoài, đối tượng là các bệnh
nhân Lupus nói chung, bao gồm cả Lupus da
và Lupus ban đỏ hệ thống, nên tỷ lệ các loại
tổn thương da đặc hiệu và không đặc hiệu
cũng lớn hơn Nghiên cứu này chỉ giới hạn
mẫu ở những bệnh nhân SLE Vì vậy, để có
cái nhìn tổng quan và chính xác hơn về mối
liên quan giữa kháng thể anti - Ro/SSA và các
loại tổn thương da Lupus, cần tiến hành thêm
những nghiên cứu trên đối tượng rộng và cỡ
mẫu lớn hơn
Mối liên quan giữa kháng thể anti - Ro/SSA
và triệu chứng nhạy cảm ánh sáng ở bệnh
nhân SLE là vấn đề còn nhiều bàn cãi Nghiên cứu của Chaim Mond trên 131 bệnh nhân SLE thấy kháng thể anti - Ro/SSA xuất hiện nhiều hơn ở những bệnh nhân có nhạy cảm ánh sáng so với bệnh nhân không có biểu hiện này, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê [11] Tương tự, nghiên cứu của Koskenmies ở bệnh nhân SLE Phần Lan cho thấy những bệnh nhân có kháng thể anti - Ro/SSA và anti-La/SSB dương tính thì có nhạy cảm ánh sáng [9] Tác giả Aurora và cộng sự khi gộp chung kháng thể anti - Ro60 và anti - Ro52 thì không thấy có mối liên quan với nhạy cảm ánh sáng nhưng khi tách riêng rẽ hai loại kháng thể, mối liên quan lại rõ ràng [5] Nghiên cứu này không thấy có mối liên quan giữa kháng thể anti - Ro/SSA và nhạy cảm ánh sáng Thực tế, việc khai thác và nhận định triệu chứng này có những điểm khác nhau giữa các nghiên cứu Chúng tôi cũng như tác giả Chaim Mond, xác định nhạy cảm ánh sáng chủ yếu dựa vào khai thác bệnh sử của bệnh nhân Kosken-mies và một số tác giả khác thì xác định tình trạng nhạy cảm ánh sáng bằng cách tiến hành test kích thích bằng ánh sáng [9] Đây là bằng chứng khách quan và chính xác nhất Trong các tổn thương da không đặc hiệu Lupus còn lại, chúng tôi không ghi nhận có mối liên quan nào với sự có mặt của kháng thể anti - Ro/ SSA, ngoại trừ hiện tượng Raynaud, sự khác biệt giữa hai nhóm anti - Ro/SSA dương tính
và âm tính gần đạt mức có ý nghĩa, p = 0,068 Nghiên cứu của Aurora ở Tây Ban Nha trên
141 bệnh nhân cũng cho thấy có mối liên quan giữa kháng thể anti-Ro52 với hiện tượng Raynaud và loét miệng mặc dù chưa đạt mức
có ý nghĩa thống kê [5] Một nghiên cứu gần đây của Fukuda và cộng sự, tác giả đã ghi nhận có mối liên quan giữa kháng thể anti-Ro/ SSA và biểu hiện của bệnh lý viêm mạch máu nhỏ ở bệnh nhân SLE [12] Trước đó, đã có
Trang 7báo cáo về mối liên quan giữa kháng thể
anti-Ro/SSA và hiện tượng Raynaud ở bệnh nhân
hội chứng Sjogren Một điều đặc biệt nữa
cũng ủng hộ cho mối liên quan này là kháng
thể anti - Ro52 dương tính ở khoảng 20%
bệnh nhân xơ cứng bì hệ thống, bệnh tổ chức
liên kết mà hiện tượng Raynaud là một trong
những triệu chứng chính [13]
Kết quả nghiên cứu này cho thấy, không
có mối liên quan giữa sự có mặt của kháng
thể anti - Ro/SSA và anti - dsDNA Kết quả
tương tự với nghiên cứu của Meilof và cộng
sự, kháng thể anti - Ro/SSA và anti - dsDNA
có mối tương quan rất yếu và không có ý
nghĩa thống kê [14] Kháng thể anti - dsDNA
đã được biết đến là yếu tố có liên quan với
biểu hiện lâm sàng trong đợt cấp tính của
SLE, thường có hiệu giá cao trước hoặc đồng
thời với đợt bùng phát bệnh Do đó, một số
tác giả cho rằng, sự độc lập giữa hai loại tự
kháng thể anti - dsDNA và anti - Ro là bằng
chứng gián tiếp cho giả thuyết kháng thể anti
-Ro/SSA không liên quan với độ hoạt động của
SLE Chúng tôi cũng thấy không có sự khác
biệt về các chỉ số xét nghiệm huyết học và
nước tiểu giữa hai nhóm SLE có kháng thể
anti - Ro/SSA dương tính và âm tính Kết quả
này tương tự với nghiên cứu của Scopelitis và
cộng sự, không có sự khác biệt nào về các chỉ
số xét nghiệm giữa hai nhóm này ngoại trừ có
sự tăng gammaglobulin trong máu của nhóm
bệnh nhân có anti - Ro/SSA [4] Bên cạnh đó,
một số nghiên cứu lại cho thấy có mối liên
quan giữa anti - Ro/SSA và giảm tế bào máu
ngoại vi Theo Cervera, kháng thể anti - Ro/
SSA có liên quan với giảm tiểu cầu ở bệnh
nhân SLE Gần đây, theo nghiên cứu của
Aurora và cộng sự, chỉ có kháng thể anti
-Ro52 liên quan với giảm bạch cầu lympho ở
bệnh nhân SLE còn anti - Ro60 thì không [5]
Tác giả cũng giải thích do cấu trúc, vị trí và
chức năng của tự kháng nguyên Ro52 và Ro60 không đồng nhất nên vai trò của chúng trong cơ chế bệnh sinh của bệnh là khác nhau Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy không có mối liên quan giữa kháng thể
anti-Ro và độ hoạt động của bệnh thông qua thang điểm SLEDAI Tác giả Adla Hassan, trong một nghiên cứu theo dõi dài hạn ở 18 bệnh nhân SLE cho thấy mối liên quan theo thời gian giữa kháng thể anti - Ro/SSA và anti - La/SSB với độ hoạt động chung của bệnh và một số
cơ quan riêng rẽ chỉ có ở một số ít bệnh nhân Trong nghiên cứu này, các tác giả sử dụng thang điểm BILAG để đánh giá độ hoạt động bệnh Đây là một thang điểm khá nhạy với những biến đổi của bệnh theo thời gian Mặt khác, các bệnh nhân được theo dõi về triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng, độ hoạt động bệnh và nồng độ các kháng thể trong thời gian
từ 1 - 4 năm Đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang, chỉ đánh giá bệnh và nồng độ kháng thể tại thời điểm nghiên cứu Do vậy, nghiên cứu chưa đánh giá được toàn diện mối tương quan này
Các rối loạn liên quan đến cơ quan nội tạng đóng vai trò quan trọng trong việc tiên lượng ở bệnh nhân SLE Trong nghiên cứu này, ở nhóm bệnh nhân có kháng thể anti -Ro/SSA dương tính, các yếu tố mệt mỏi, đau
cơ khớp và sự có mặt tổn thương da làm tăng nguy cơ xuất hiện các tổn thương nội tạng Ngoài ra, sốt cao trên 38ºC và kháng thể kháng nhân dương tính cũng làm tăng nguy
cơ này nhưng ở mức thấp hơn Theo nghiên cứu của Barbara và cộng sự, đau khớp, mệt, tổn thương da không đặc hiệu và kháng thể kháng nhân dương tính có liên quan với tổn thương nội tạng của bệnh nhân Lupus ban đỏ
có kháng thể anti - Ro/SSA dương tính [6] Một số nghiên cứu khác gần đây đã đưa ra những ý kiến trái chiều và tranh luận về vấn
Trang 8đề này Nghiên cứu của chúng tôi mới chỉ đưa
ra được những quan sát ban đầu những yếu
tố nguy cơ cho tổn thương cơ quan nội tạng ở
nhóm bệnh nhân có kháng thể anti - Ro
dương tính Một nghiên cứu có thời gian dài,
cỡ mẫu lớn hơn trong tương lai nên được tiến
hành để xác định rõ hơn mối liên quan này
V KẾT LUẬN
Tỷ lệ kháng thể anti - Ro/SSA dương tính
ở nhóm nghiên cứu là 60,8% Nguy cơ xuất
hiện tổn thương da cấp tính và bán cấp tăng
ở những bệnh nhân SLE có kháng thể anti
-Ro/SSA dương tính Tỷ lệ xuất hiện hiện
tượng Raynaud ở bệnh nhân SLE có anti
-Ro/SSA dương tính cao hơn so với nhóm
anti - Ro/SSA âm tính Không có mối liên
quan giữa kháng thể anti - Ro/SSA với các
triệu chứng cận lâm sàng cũng như độ hoạt
động của bệnh
Lời cảm ơn
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn bệnh
viện Da liễu Trung ương đã tạo điều kiện, giúp
đỡ để chúng tôi hoàn thành nghiên cứu này
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Lowell A.Goldsmith, S.I.K., Barbara
A.Gilchrest (2012) Fitzpatrick’s Dermatology
in General Medicine Mc Grawhill, 2, 26.
2 Jean L.Bolognia, J.L.J., Julie Schaffer
(2012) Dermatology Elsevier, Third edition,
1, 27.
3 Ryusuke Yoshimi, A.U., Keiko Ozato
(2012) Clinical and pathological roles of Ro/
SSA autoantibody system Clinical and
Devel-opmental Immunology, 12.
4 Scopelitis E, B.J., Alspaugh MA
(1980) Anti-SSA antibody and other
antinu-clear antibodies in systemic lupus
erythemato-sus, Arthritis & Rheumatism, 23, 287 - 293.
5 Aurora Menéndez, J.G., Luis Caminal-Montero (2013) Common and Specific
Asso-ciations of Anti-SSA/Ro60 and Anti-Ro52/ TRIM21 Antibodies in Systemic Lupus
Erythe-matosus The Scientific World Journal, (1),
Article ID 832789
6 Barbara C Bockle, G.S., Norbert T.Sepp (2012) Detection of Ro/SSA
antibod-ies in lupus erythematosus: What does it
mean for the dermatologist? The American
Academy of Dermatology, 68(3), 385 - 394.
7 Vân, N.T (2004) Biểu hiện lâm sàng và
xét nghiệm của bệnh nhân Lupus ban đỏ hệ
thống Tạp chí Y học Việt Nam, 1(294),
51 - 54
8 Trần Hậu Khang, N.H.S (2011) Nghiên
cứu tình hình, đặc điểm bệnh lupus ban đỏ tại
bệnh viện Da Liễu Trung ương, Tạp chí Y học
Việt Nam, 379(2), 49 - 53.
9 S Koskenmies, T.J., P Onkamo, J Panelius (2008) Clinical and laboratory
char-acteristics of Finnish lupus erythematosus
pa-tients with cutaneous manifestations, Lupus,
17, 337 – 347.
10 AC Faria, B.K., Andrade LE (2005).
Longitudinal fluctuation of antibodies to ex-tractable nuclear antigens in systemic lupus
erythematosus, Journal of Rheumatology, 32
(7), 1267 - 1272.
11 C B Mond, M.G.E.P., N F Rothfield (1989) Correlation of anti-Ro antibody with
photosensitivity rash in systemic lupus
erythe-matosus patients, Arthritis and Rheumatism,
32(2), 202 – 204.
12 M V Fukuda, S.C.L., C S de Almeida, S K Shinjo (2009) Anti-Ro
anti-body and cutaneous vasculitis in systemic
lu-pus erythematosus, Clinical Rheumatology, 28
(3), 301 – 304.
Trang 913 Mierau R, M.P., Riemekasten G,
Melchers I (2011) Frequency of
disease-associated and other nuclear autoantibodies in
patients of the German Network for Systemic
Scleroderma: correlation with characteristic
clinical features Arthritis Research and
Ther-apy, 13, 5.
14 Jan F Meilof, C.H.A.V., Anton J G Swaak (1997) Production of anti - Ro/SS - A
and anti - La/SS-B Autoantibodies is Closely Coordinated in Systemic Lupus
Erythemato-sus and Independent of anti - dsDNA, Journal
of Autoimmunity, 10, 67 - 75.
Summary CORRELATION BETWEEN ANTI-Ro/SSA ANTIBODY AND CLINICAL AND LABORATORY CHARACTERISTICS OF SYSTEMIC LUPUS
ERYTHEMATOSUS PATIENTS
Ro antigen is one of the common extractable nuclear antigens and have traditionally been associated with skin lesions, internal organ involvement risks in patients with Lupus erythematosus The objective of this study is to investigate the rate of anti - Ro/SSA antibody and correlation between anti - Ro/SSA antibody and clinical and laboratory aspects of systemic lupus erythematosus (SLE) patients This cross sectional descriptive survey assessed 97 SLE patients
in Autoimmune Connective Tissue Diseases consultant room in National hospital of Dermatology and Venereology from 01/2014 to 8/2014 In this study, anti - Ro/SSA antibody was detected in 60,8% of patients Risks of acute and subacute cutaneous lesions increase in SLE patients with positive anti - Ro/SSA No correlation between anti - Ro/SSA antibody and laboratory characteris-tics and disease activity
Key words: anti - Ro/SSA, systemic lupus erythematosus