Lệch lạc xương hàm hạng III có bất cân xứng là tình trạng thường thấy trong dân số và có nhu cầu điều trị cao. Tuy nhiên, phẫu thuật xương hàm bất cân xứng phức tạp. Nghiên cứu mô tả tiến hành trên 12 bệnh nhân, tuổi trung bình 23,25 ± 3,11; lệch lạc xương hàm hạng III có bất cân xứng tại bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương và Bệnh viện Triều An thành phố Hồ Chí Minh, được điều trị bằng phẫu thuật chỉnh hàm, nhằm xác định đặc điểm lâm sàng, X quang bệnh nhân trước phẫu thuật và đánh giá thay đổi xương – mô mềm sau phẫu thuật.
Trang 1KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU ĐIỀU TRỊ BỆNH NHÂN LỆCH LẠC XƯƠNG HÀM HẠNG III CÓ BẤT CÂN XỨNG
BẰNG PHẪU THUẬT CHỈNH HÀM Nguyễn Thu Hà 1 , Lê Văn Sơn 2 , Bùi Hữu Lâm 3 , Bùi Đăng Quốc Thái 4 , Phạm Anh Khoa 5
1,3,4,5
Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương thành phố Hồ Chí Minh, 2 Trường Đại học Y Hà Nội Lệch lạc xương hàm hạng III có bất cân xứng là tình trạng thường thấy trong dân số và có nhu cầu điều trị cao Tuy nhiên, phẫu thuật xương hàm bất cân xứng phức tạp Nghiên cứu mô tả tiến hành trên 12 bệnh nhân, tuổi trung bình 23,25 ± 3,11; lệch lạc xương hàm hạng III có bất cân xứng tại bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương và Bệnh viện Triều An thành phố Hồ Chí Minh, được điều trị bằng phẫu thuật chỉnh hàm, nhằm xác định đặc điểm lâm sàng, X quang bệnh nhân trước phẫu thuật và đánh giá thay đổi xương – mô mềm sau phẫu thuật Kết quả cho thấy 11 bệnh nhân lệch trái (91,67%), 01 bệnh nhân lệch phải, thay đổi trước mổ và sau mổ tương ứng của góc ANB là -4,64 ± 3,18 o và 1,30 ± 3,53 o (p < 0,01), của mức độ lệch vùng cằm trên phim sọ thẳng là 6,37 ± 2,29 mm và 1,49 ± 1,06 mm (p < 0,001) và của độ cắn chìa -5,04 ± 3,55 mm và 2mm (p < 0,001) Các trường hợp lệch lạc xương hàm hạng III có bất cân xứng có thể điều trị hiệu quả bằng phẫu thuật chỉnh hàm để cải thiện thẩm mỹ và chức năng.
Từ khóa: mặt bất cân xứng, hạng III xương, chẻ dọc cành cao, di lệch lồi cầu
Địa chỉ liên hệ: Nguyễn Thu Hà, khoa Phẫu thuật Hàm
Mặt, bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương, Tp HCM
Email: hanguyen1508@yahoo.com
Ngày nhận: 08/11/2016
Ngày được chấp thuận: 26/2/2017
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Một trong những khó khăn điều trị bệnh
nhân lệch lạc xương hàm hạng III là có bất
cân xứng Đây cũng là than phiền chính do đó
bệnh nhân có nhu cầu điều trị cao Ngoài ra,
nhiều nghiên cứu cho thấy mối liên quan giữa
lệch lạc răng - mặt và loạn năng thái dương
hàm [1] Tỉ lệ bất cân xứng mặt khoảng 21%
-85%, trong đó 48% các trường hợp là sai
khớp cắn hạng III [2] Tình trạng bất cân xứng
có thể xảy ra đồng thời theo ba chiều không
gian Tầng mặt dưới dễ nhận thấy bất cân
xứng hơn tầng mặt trên [3] Công cụ đơn giản
và hiệu quả để đánh giá mất cân xứng mặt là
ảnh chụp mặt thẳng và phim sọ thẳng
(posteroanterior (PA) cephalogram) [4]
Mục tiêu điều trị bất cân xứng là đường giữa xương hàm trên – xương hàm dưới, cằm trùng đường giữa mặt, mép môi cân xứng hai bên Hầu hết các dị dạng răng - mặt có để được điều trị bằng ba phẫu thuật chính: cắt xương hàm trên theo đường LeFort I, chẻ dọc cành cao xương hàm dưới (Sagittal - Split Ramus Osteotomy Ramus: SSRO) và tạo hình cằm để chỉnh sửa bất cân xứng theo ba chiều không gian [5] Những trường hợp bất cân xứng mép môi, mặt phẳng nhai nghiêng rõ rệt, cần phẫu thuật hai hàm để sửa chữa mặt phẳng khớp cắn Theo Chew, có 84% bệnh nhân lệch lạc xương hạng III có bất cân xứng mặt cần phẫu thuật hai hàm [2] Tuy nhiên, đối với những trường hợp bất cân xứng xương hàm dưới, khi thực hiện phẫu thuật chẻ dọc cành cao hai bên (Bilateral Sagittal - Split Os-teotomy: BSSO) có nguy cơ gia tăng chấn thương thần kinh xương ổ dưới hay di lệch lồi cầu bên lệch, gây ra những biến chứng sau
Trang 2mổ như rối loạn cảm giác, loạn năng thái
dương hàm, ảnh hưởng sự vững ổn sau phẫu
thuật [6; 7] Do đó, nhiều nghiên cứu cải tiến
kỹ thuật như cắt bên lệch bằng phương pháp
cắt dọc cành cao đường trong miệng (Intraoral
Vertical Ramus Osteotomy: IVRO), chẻ dọc
chéo cao cành cao xương hàm dưới (The
high - oblique sagittal split osteotomy:
HOSSO), cắt xương bẻ cong phía sau
(posterior bending osteotomy: PBO) [6; 8; 9]
Ngoài ra, có thể loại bỏ cản trở xương giữa
hai diện cắt xương kết hợp với định vị lồi cầu
đúng trong hõm khớp cũng có hiệu quả trong
những trường hợp bất cân xứng gây biến
dạng lồi cầu hay hình dạng xương hàm dưới
Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này
nhằm mục tiêu: mô tả đặc điểm lâm sàng, X
quang ở bệnh nhân lệch lạc hàm - mặt hạng
III có bất cân xứng trước phẫu thuật và đánh
giá thay đổi xương – mô mềm sau phẫu thuật
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
1 Đối tượng
Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân: bệnh nhân
lệch lạc xương hàm hạng III có bất cân xứng,
≥ 18 tuổi, đã được chỉnh nha trước mổ Lệch
vùng cằm trên phim đo sọ thẳng ≥ 4mm [10]
Bệnh nhân được điều trị bằng phẫu thuật chẻ
dọc cành cao xương hàm dưới có định vị lồi
cầu, kết hợp phẫu thuật LeFort I trong trường
hợp xương hàm trên lùi nhiều hay mặt phẳng
nhai nghiêng, kết hợp phẫu thuật tạo hình
cằm trong trường hợp quá triển bờ dưới
xương hàm dưới Bệnh nhân có chụp phim đo
sọ thẳng, sọ nghiêng và ảnh chụp mặt thẳng
trước phẫu thuật (T0) và sau phẫu thuật (T1)
khoảng 1 - 2 tháng, bằng máy chụp phim hiệu
Sirona - Siemen của Đức, máy chụp ảnh hiệu
Nikon E5200 Nghiên cứu được thực hiện tại
Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương và Bệnh viện Triều An - Thành phố Hồ Chí Minh
từ tháng 7/2014 đến tháng 01/2016 Tất cả bệnh nhân được điều trị và theo dõi bởi một phẫu thuật viên
Tiêu chuẩn loại bệnh nhân: Bệnh nhân
có tiền sử chấn thương hàm mặt Hồ sơ chẩn đoán không đầy đủ Bệnh nhân có bệnh lý toàn thân chống chỉ định phẫu thuật
2 Phương pháp
Nghiên cứu lâm sàng mô tả loạt ca bệnh
Các bước tiến hành
- Khám bệnh nhân, lấy dấu hai hàm, chụp phim đo sọ thẳng, nghiêng và ảnh chụp mặt thẳng, lên kế hoạch phẫu thuật
- Trường hợp bệnh nhân phẫu thuật xương hàm dưới bằng phương pháp chẻ dọc cành cao, có định vị lồi cầu bằng nẹp thẳng và máng nhai ở tương quan trung tâm: Trước khi cắt xương, cố định hai hàm với máng nhai ở
vị trí tương quan trung tâm, nẹp – vít định vị
từ hàm gò má (phần cố định) đến cành cao xương hàm dưới để ghi nhận vị trí lồi cầu (phần di động) Tháo nẹp và máng nhai Tiến hành cắt chẻ dọc xương hàm dưới, mài chỉnh cản trở xương giữa hai diện xương, di chuyển xương hàm dưới sao cho khớp với răng hàm trên; độ cắn phủ, cắn chìa khoảng
2 mm Trước khi kết hợp xương, đặt lại nẹp – vít định vị, với tương quan răng ở khớp cắn sau cùng
- Trường hợp bệnh nhân có kết hợp phẫu thuật xương hàm trên: cắt LeFort I để chỉnh mặt phẳng nhai bị nghiêng và đặt lại vị trí xương hàm trên ra trước, lên trên hay xuống dưới tùy vào mức độ lộ răng cửa mong muốn
- Trường hợp bệnh nhân có kết hợp tạo
Trang 3hình vùng cằm: phẫu thuật “Genioplasty” hay
mài chỉnh xương để chỉnh điểm giữa cằm hay
quá triển bờ dưới xương hàm dưới
Phương pháp thu thập số liệu
- Các thông số đánh giá: Thông số liên
quan đến bệnh nhân (tuổi, giới, tiền sử, phẫu
thuật) Thông số liên quan đến đặc điểm
xương, răng, mô mềm trước, sau phẫu thuật
và kết quả điều trị (SNA, SNB, ANB, OB, OJ,
nghiêng mặt phẳng nhai, mức độ lệch vùng
cằm với đường giữa, so sánh mép môi hai
bên, chiều rộng góc hàm) Thông số liên quan
bất cân xứng tính giá trị tuyệt đối, vì chỉ biểu
thị mức độ bất cân xứng mà không phân biệt
bên phải hay trái
- Mặt phẳng và đường thẳng tham chiếu:
Phim sọ thẳng: đường tham chiếu ngang là
đường liên góc mắt ngoài, đường tham chiếu
đứng là đường dọc giữa mặt, vuông góc
đường tham chiếu ngang tại điểm giữa
Nghiêng mặt phẳng nhai: đường ngang qua
đỉnh múi hai răng nanh hàm trên Phim sọ
nghiêng: đường tham chiếu ngang (trục X) là
đường thẳng qua S và tạo với SN góc 7o,
đường tham chiếu đứng (trục Y) vuông góc
với đường tham chiếu ngang tại S
- Đo đạc các thông số đo trên phim bằng
phần mềm Sidexis GX của máy chụp phim
hiệu Sirona - Siemen Các số đo khoảng cách
tính bằng mi-li-met và được qui về kích thước
thật Ảnh chụp mặt thẳng được in ra giấy A4,
đo tỉ lệ nghiêng của mép môi (%) [3] Lâm
sàng đo độ cắn phủ, cắn chìa, khoảng cách
điểm giữa cằm đến đường giữa
3 Xử lý số liệu
Sử dụng chương trình Microsoft Excel
2013 và phần mềm SPSS 16.0 Phép kiểm
paired t test để so sánh sự khác biệt giữa hai
giá trị trung bình Khác biệt có ý nghĩa thống
kê khi p < 0,05 Sai số trong nghiên cứu: lựa chọn ngẫu nhiên 5 trường hợp Đo lại và so sánh giữa hai lần đo bằng paired t test Tất cả các số đo không có sự khác biệt
4 Đạo đức nghiên cứu
Bệnh nhân yêu cầu cải thiện thẩm mỹ và/ hoặc chức năng, bệnh nhân chấp nhận kế hoạch điều trị phẫu thuật sau khi đã được giải thích đầy đủ Bệnh nhân hoàn toàn tự nguyện tham gia nghiên cứu và có quyền rút lui khỏi nghiên cứu bất cứ khi nào mà không ảnh hưởng đến quyền lợi điều trị Các thông tin của bệnh nhân được bảo đảm bí mật
III KẾT QUẢ
1 Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu và phẫu thuật
Có 11 bệnh nhân bất cân xứng lệch bên trái (91,67%) và 01 lệch phải 6 bệnh nhân mổ hai hàm, 6 bệnh nhân mổ một hàm; 5 bệnh nhân mổ thêm vùng cằm gồm 3 bệnh nhân
mổ “genioplasty” và 2 bệnh nhân mài chỉnh xương
2 Đặc điểm lâm sàng, X quang bệnh nhân lệch lạc xương hàm hạng III có bất cân xứng
Xương hàm trên lùi ra sau (góc SNA = 80,80 ± 2,21o), xương hàm dưới ra trước nhiều (góc SNB = 85,44 ± 4,66o) Mức chênh lệch giữa xương hàm trên và xương hàm dưới nhiều (góc ANB = - 4,64 ± 3,18o) Mặt phẳng hàm dưới mở (SN - GoGn = 34,55 ± 7,32o) Độ cắn chìa (OJ) = -5,04 ± 3,55 mm
Độ cắn phủ (OB) = -1,21 ± 1,36 mm Mặt phẳng nhai nghiêng ít Lệch vùng cằm trên phim nhiều hơn mô mềm tương ứng là 6,37± 2,29 mm và 4,75 ± 2,19 mm
Trang 43 Kết quả thay đổi xương – mô mềm sau phẫu thuật
Bảng 1 Đặc điểm xương hàm trên phim sọ nghiêng
Ghi chú: ns: không khác biệt có ý nghĩa; *: khác biệt có ý nghĩa ở mức p < 0,05; **: khác biệt
có ý nghĩa ở mức p < 0,01; ***: khác biệt có ý nghĩa ở mức p < 0,001.
Sau phẫu thuật SNA tăng (SNA = 83,13 ± 4,31o) SNB giảm nhiều (SNB = 81,83 ± 3,46o,
p < 0,001) Về tương quan hai hàm, trước phẫu thuật xương hàm hạng III với góc ANB là - 4,64 ± 3,18o; sau phẫu thuật xương hàm hạng I với góc ANB là 1,30 ± 3,53o, khác biệt có ý nghĩa ở mức
p < 0,01 Một bệnh nhân sau mổ ANB = 10,9ovì kế hoạch phẫu thuật cần nhô nhiều hàm trên để
bù trừ khuyết tật môi hàm ếch
Góc ANB
Biểu đồ 1 Góc AND trước và sau mổ
Trước mổ Sau mổ
Bảng 2 Các số đo khoảng cách trên phim sọ nghiêng
Trang 5ns: không khác biệt có ý nghĩa; **: khác biệt có ý nghĩa ở mức p < 0,01; ***: khác biệt có ý nghĩa ở mức p < 0,001.
A(x), B(x) là khoảng cách ngang từ A, B đến trục Y A(y), B(y) là khoảng cách đứng từ A, B đến trục X.
Xương hàm trên phía trước (điểm A) di chuyển ra trước trung bình là 2,64 mm, xuống dưới trung bình là 1,18 mm Xương hàm dưới phía trước (điểm B) di chuyển ra sau trung bình là 5,17 mm, lên trên trung bình là 0,02 mm
Bảng 3 Các số đo của phim đo sọ thẳng
Tương quan răng nanh theo mặt phẳng trán (%) 97,46± 0,02 98,37 ± 0,01 ns Góc nghiêng trục răng cửa(o) 1,80 ± 2,41 1,33 ± 1,99 ns
ns: không khác biệt có ý nghĩa; ***: khác biệt có ý nghĩa ở mức p < 0,001.
Tương quan răng nanh theo mặt phẳng trán (%) là tỉ lệ khoảng cách theo chiều đứng giữa răng nanh hàm trên hai bên đến đường liên góc mắt ngoài
Chênh lệch răng nanh hai bên ít cho thấy mặt phẳng nhai nghiêng ít, sau mổ còn nghiêng ít Điểm giữa cằm lệch nhiều trước mổ trung bình 6,37± 2,29 mm Sau mổ, lệch ít so với đường giữa trung bình 1,49 ± 1,06 mm (p < 0,01) Chiều rộng góc hàm hai bên không thay đổi
Bảng 4 Đặc điểm khớp cắn, mức lệch vùng cằm trên lâm sàng
và nghiêng mép môi trên ảnh chụp mặt thẳng
Tương quan mép môi hai bên (%) 96,63 ± 0,03 98,85 ± 0,01 ns
ns: không khác biệt có ý nghĩa; ***: khác biệt có ý nghĩa ở mức p < 0,001.
Tương quan mép môi hai bên (%) là tỉ lệ khoảng cách theo chiều đứng giữa mép môi hai bên đến đường liên góc mắt ngoài
Độ cắn phủ, cắn chìa trước mổ âm, lần lượt là -1,21 ± 1,36 mm và -5,04 ± 3,55 mm Sau mổ khớp cắn vùng răng cửa thay đổi theo kế hoạch phẫu thuật để cắn phủ, cắn chìa trung bình 2 mm (p < 0,001) Trước mổ, đo trên bệnh nhân, điểm giữa lệch với đường giữa là 4,75 ± 2,19 mm, trong đó 01 bệnh nhân lệch là 11 mm; 01 bệnh nhân lệch phải là 3 mm Sau mổ điểm giữa cằm gần trùng với đường giữa (0,54 ± 0,69 mm)
Trang 6Trước mổ Sau mổ
Biểu đồ 2 Mức lệch cằm trên mô mềm
IV BÀN LUẬN
Kết quả nghiên cứu cho thấy đặc điểm lệch
lạc xương hàm hạng III trong nhóm nghiên
cứu có mức độ chênh lệch hai hàm trầm trọng
nên có biểu hiện mặt lõm Nguyên nhân lệch
lạc xương hàm hạng III là do quá triển xương
hàm dưới trầm trọng, góc SNB = 85,44 ±
4,66o; xương hàm trên thiểu sản, góc SNA =
80,80 ± 2,21o Về đặc điểm khớp cắn vùng
răng cửa, độ cắn chìa -5,04 ± 3,55 mm, cắn
phủ - 1,21 ± 1,36 mm, phù hợp với đặc điểm
dị dạng răng mặt ở quần thể châu Á [2] Trong
nghiên cứu chúng tôi, góc ANB = - 4,64 ±
3,18o; tương đương với Tseng và Benyahia
(2011), lớn hơn so với nghiên cứu của Rabie
là -2,21 ± 2,51o[11]
Về đặc điểm bất cân xứng, hầu hết bệnh
nhân lệch trái, 11 trường hợp (91,67%), tương
đương nghiên cứu của một tác giả khác [3]
Mức độ lệch của vùng cằm trên phim sọ thẳng
là 6,37 mm, tỉ lệ chênh lệch giữa răng nanh
hai bên 97,46%; ít hơn so với nghiên cứu của
Ko lần lượt là 13,45 mm và 93,91%; cho thấy
nhóm bệnh nhân trong nghiên cứu chúng tôi
có mặt phẳng nhai và lệch vùng cằm ít hơn,
có thể do mẫu nghiên cứu chúng tôi nhỏ
Tất cả bệnh nhân đều phẫu thuật xương
hàm dưới vì xương hàm dưới quá triển, trong
đó 50% trường hợp phẫu thuật hai hàm, 41,46% bổ sung tạo hình cằm (gồm 5 bệnh nhân: 3 bệnh nhân phẫu thuật “genioplasty”, 2 bệnh nhân mài xương) Khi lập kế hoạch điều trị đặt lại vị trí xương hàm trên, chúng tôi dựa vào mức độ nghiêng mặt phẳng nhai, để sau
mổ mặt phẳng nhai song song với đường ngang qua hai mắt, đưa lên trên hay xuống dưới một hoặc hai bên là tùy thuộc mức độ lộ răng cửa và răng nanh hai bên [2] Trong nghiên cứu này, xương hàm trên di chuyển ra trước trung bình 2,64 mm, xuống dưới trung bình 1,18 mm Nghiên cứu Ko, xương hàm trên di chuyên tra trước trung bình 1,25 mm, lên trên là 1,20 mm [3] Xương hàm trên đặt lên trên được cho là vững ổn vì có tiếp xúc xương, chúng tôi đặt lại vị trí xương hàm trên theo hướng xuống dưới ít, khoảng hở thành trước xoang hàm được ghép thêm xương, để giúp liền xương nhanh, bảo đảm kết quả vững
ổn nên tránh được loạn năng khớp Xương hàm dưới lùi sau nhiều trung bình 5,17 mm vì trước mổ góc SNB lớn hơn các nghiên cứu khác [10] Góc mặt phẳng hàm dưới và độ rộng vùng góc hàm không thay đổi có thể do lồi cầu được định vị đúng, nên không làm thay đổi vị trí điểm Gonion
Trang 7Điều chú ý trong lệch lạc xương hàm có
bất cân xứng thường là hình dạng của
xương hàm dưới, nhất là bờ dưới xương
vùng cành cằm và vùng ngang thay đổi có
thể do hoạt động của cơ nâng hàm và hạ
hàm không cân xứng Vì vậy, sau khi điều
chỉnh đường giữa răng cửa hàm dưới trùng
với đường giữa mặt, một số trường hợp cần
phải tạo hình cằm hay mài chỉnh thêm bờ
dưới của xương hàm dưới Trong nghiên cứu
chúng tôi, có 5 trường hợp cần bổ sung phẫu
thuật tạo hình cằm để điều chỉnh đường giữa
cằm cũng như hình dạng xương hàm dưới
cân xứng hai bên Một số nghiên cứu dùng
chẻ dọc cành cao cho bên ngắn và cắt dọc
cành cao đường trong miệng cho bên dài để
dễ dàng cắt bớt bờ dưới bên dài [12] Cả hai
phương pháp đều cải thiện được vẻ ngoài
của xương hàm dưới Ngoài ra, trong phẫu
thuật chẻ dọc cành cao xương hàm dưới, khi
xoay mảnh xa không cân xứng có thể làm
xoay lồi cầu và nguy cơ rối loạn cảm giác
bên lệch hướng [10] Do đó, nhiều nghiên cải
tiến phương pháp để hạn chế nguy cơ này
như cắt bên lệch bằng phương pháp cắt dọc
cành cao đường trong miệng, chẻ dọc chéo
cao cành cao xương hàm dưới, cắt xương bẻ
cong phía sau, loại bỏ cản trở xương bằng
cưa áp điện (piezoelectric device), hay cắt
xương siêu âm (ultrasonic bone device) để
tránh tổn thương thần kinh [6; 8; 9] Trong
nghiên cứu, chúng tôi mài chỉnh để loại bỏ
cản trở xương ở diện cắt xương của mảnh
gần, nên không làm tổn thương thần kinh,
đồng thời định vị lồi cầu và có thể ghép
xương vào khoảng hở phía trước của hai
diện cắt xương, tránh nguy cơ làm xoay lồi
cầu khi kết hợp xương
Sau phẫu thuật, xương hàm của các bệnh
nhân có thể còn mất cân xứng nhẹ, nhưng nói
chung bệnh nhân hài lòng với kết quả thậm chí khi còn bất cân xứng trên 3 mm vùng cằm trong 58% các trường hợp [10] Kết quả của chúng tôi, điểm giữa cằm so với đường giữa mặt lệch không đáng kể (mô xương 1,49 ± 1,06 mm, mô mềm 0,54 ± 0,69 mm), vài bệnh nhân còn bất cân xứng nhẹ mô mềm vùng cành ngang, tuy nhiên tất cả bệnh nhân hài lòng với kết quả phẫu thuật và chức năng khớp thái dương hàm không bị tổn thương
V KẾT LUẬN
Nghiên cứu phẫu thuật chỉnh hàm trên 12 bệnh nhân lệch lạc hàm – mặt hạng III có bất cân xứng cho thấy tương quan hai hàm hạng III rõ rệt và hầu hết mặt lệch trái, mặt phẳng nhai nghiêng ít Tất cả các trường hợp có phẫu thuật xương hàm dưới để chỉnh sửa bất cân xứng, trong đó một nửa các trường hợp có phối hợp cắt xương hàm trên đưa ra trước và xuống dưới, gần phân nửa trường hợp cần bổ sung phẫu thuật điều chỉnh sự cân xứng điểm giữa cằm và
bờ dưới xương hàm dưới Trong phẫu thuật chẻ dọc cành cao xương hàm dưới, cần loại
bỏ cản trở xương giữa mảnh gần và mảnh
xa, kết hợp với định vị lồi cầu trong lúc phẫu thuật để duy trì vị trí lồi cầu giống như trước phẫu thuật
Lời cảm ơn
Xin trân trọng cám ơn cán bộ nhân viên các Khoa Phẫu thuật Hàm Mặt, Chỉnh hình Răng Mặt, Gây mê hồi sức, Chẩn đoán hình ảnh Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương và Bệnh viện Triều An - Thành phố Hồ Chí Minh
đã ủng hộ, giúp đỡ, tạo điều kiện để chúng tôi hoàn thành nghiên cứu này Nghiên cứu này không được tài trợ hay phụ thuộc bởi các hãng cung cấp thiết bị, vật tư tiêu hao
Trang 8TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Manfredini D., Segù M., Arveda N et al
(2016) Temporomandibular joint disorders in
patients with different facial morphology A
systematic review of the literature Journal of
Oral and Maxillofacial Surgery, 74 (1), 29 - 46.
2 Chew M.T (2006) Spectrum and
man-agement of dentofacial deformities in a
multi-ethnic Asian population Angle Orthod, 76(5),
806 - 809
3 Ko E.W.-C., Huang C.S., Chen Y.R.
(2009) Characteristics and corrective
out-come of face asymmetry by orthognathic
sur-gery Journal of Oral and Maxillofacial
Sur-gery, 67(10), 2201 - 2209.
4 Song W.-C., Koh K.-S., Kim S.-H et al
(2007) Horizontal angular asymmetry of the
face in Korean young adults with reference to
the eye and mouth Journal of Oral and
Maxil-lofacial Surgery, 65 (11), 2164 - 2168.
5 Patel P.K., Novia M.V (2007) The
sur-gical tools: the LeFort I, bilateral sagittal split
osteotomy of the mandible, and the osseous
genioplasty Clinics in plastic surgery, 34 (3),
447 - 475
6 Yang H.J., Hwang S.J (2014) Change
in condylar position in posterior bending
os-teotomy minimizing condylar torque in BSSRO
for facial asymmetry Journal of
Cranio-Maxillofacial Surgery, 42(4), 325 - 332.
7 Ueki K., Moroi A., Sotobori M et al
(2012) Changes in temporomandibular joint
and ramus after sagittal split ramus osteotomy
in mandibular prognathism patients with and
without asymmetry Journal of
Cranio-Maxillofacial Surgery, 40(8), 821 - 827.
8 Mohlhenrich S.C., Kamal M., Peters F
et al (2016) Bony contact area and
displace-ment of the temporomandibular joint after high -oblique and bilateral sagittal split osteotomy:
a computer-simulated comparison Br J Oral
Maxillofac Surg, 54(3), 306 - 311.
9 Iwai T., Maegawa J., Aoki S et al (2013) Ultrasonic vertical osteotomy of the
distal segment for safe elimination of interference between the proximal and distal segments in bilateral sagittal split osteotomy
for mandibular asymmetry British Journal
of Oral and Maxillofacial Surgery, 51 (7),
e192 - e194
10 Hågensli N., Stenvik A., Espeland L (2014) Asymmetric mandibular prognathism:
Outcome, stability and patient satisfaction
af-ter BSSO surgery A retrospective study
Jour-nal of Cranio - Maxillofacial Surgery, 42(8),
1735 - 1741
11 Rabie A.-B.M., Wong R.W., Min G (2008) Treatment in borderline Class III
mal-occlusion: orthodontic camouflage (extraction)
versus orthognathic surgery The open
den-tistry journal, 2, 38.
12 Ying B., Ye N., Jiang Y et al (2015).
Correction of facial asymmetry associated with vertical maxillary excess and mandibular prog-nathism by combined orthognathic surgery and guiding templates and splints fabricated
by rapid prototyping technique International
journal of oral and maxillofacial surgery, 44
(11), 1330 - 1336.
Trang 9Summary INITIAL EVALUATION OF CORRECTIVE OUTCOME OF
SKELETAL CLASS III MALOCCLUSIONS WITH ASYMMETRY
BY ORTHOGNATHIC SURGERY
The skeletal Class III pattern with asymmetry is a relatively common condition among the population that needs intervening by orthognathic surgery The asymmetric mandibular surgery is, however, complicated This study was conducted at National Hospital of Odonto-Stomatology and Trieu An hospital in Ho Chi Minh City on 12 subjects with the mean age of 23.25
± 3.11 years old who suffered from skeletal class III malocclusions with asymmetry, with the purpose of determining clinical and radiographic characteristics before surgery and evaluating soft tissue and skeletal changes after surgery The results showed that 11 patients (91.67 %) demon-strated left-side dominance and 1 patient with right-side dominance; the antero - posterior surgical changes with ANB angle was - 4.64 ± 3.18ovs 1.30 ± 3.53o(p < 0.01) respectively; the left chin deviation on postero - anterior cephalometric radiograph was 6.37 ± 2.29 mm vs 1.49 ± 1.06
mm (p < 0.001); the overjet was -5.04 ± 3.55 mm vs 2mm (p < 0.001) It was concluded that the condition of malocclusion of Class III with asymmetry was considerately improved after interven-tion with orthognathic surgery to restore the patients’ aesthetic facial form and funcinterven-tions
Key words: facial asymmetry, skeletal Class III malocclusion, sagittal split ramus osteot-omy, condylar displacement