1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu giá trị điện tâm đồ bề mặt trong chẩn đoán vị trí đường dẫn truyền phụ vùng sau vách ở hội chứng Wolff - Parkinson - White điển hình

9 78 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 533,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết nghiên cứu giá trị điện tâm đồ (ĐTĐ) bề mặt trong chẩn đoán vị trí đường dẫn truyền phụ vùng sau vách ở hội chứng Wolff-Parkinson-White (WPW) điển hình. Mời các bạn cùng tham khảo tài liệu.

Trang 1

NGHIÊN CỨU GIÁ TRỊ ĐIỆN TÂM ĐỒ BỀ MẶT TRONG CHẨN ĐOÁN VỊ TRÍ ĐƯỜNG DẪN TRUYỀN PHỤ VÙNG SAU VÁCH

Ở HỘI CHỨNG WOLFF-PARKINSON-WHITE ĐIỂN HÌNH

Chu Dũng Sĩ*; Phạm Quốc Khánh*; Trần Văn Đồng**

TÓM TẮT

Mục tiêu: nghiên cứu giá trị điện tâm đồ (ĐTĐ) bề mặt trong chẩn đoán vị trí đường dẫn

truyền phụ vùng sau vách ở hội chứng Wolff-Parkinson-White (WPW) điển hình Đối tượng và

phương pháp: 42 BN hội chứng WPW điển hình có vị trí đường dẫn truyền phụ vùng sau vách

tại Viện Tim mạch Việt Nam, đối chiếu vị trí định khu bằng các thông số trên ĐTĐ bề mặt với vị

trí đường dẫn truyền phụ xác định bằng thăm dò điện sinh lý tim và điều trị bằng tần số radio

(RF) Kết quả: sóng delta âm ở V1 gặp ở đường dẫn truyền phụ sau vách bên phải với độ

chính xác 95,65% và độ nhạy/độ đặc hiệu cao trong khi sóng delta dương ở V1 gặp ở đường

dẫn truyền phụ sau vách bên trái với độ chính xác 89,74% và độ nhạy/độ đặc hiệu cao Chuyển

tiếp phức bộ QRS ở V1V2 gặp ở đường dẫn truyền phụ vùng sau vách Sóng delta âm ít nhất

2/3 chuyển đạo sau dưới thường gặp nhóm đường dẫn truyền phụ ở sau vách với độ chính xác

90,48% Kết luận: sóng delta (-) hay (+) ở V1 dự báo vị trí đường dẫn truyền phụ bên phải hay

bên trái Vùng sau vách thường có chuyển tiếp phức bộ QRS tại các chuyển đạo V1V2 Vùng

sau vách có sóng delta (-) ở ít nhất 2 trong 3 chuyển đạo sau dưới

* Từ khóa: Hội chứng Wolff-Parkinson-White; Điện tâm đồ bề mặt; Đường dẫn truyền phụ

sau vách

Surface ECG Localization of Posteroseptal Accessory Pathways

in Patients with Typical Wolff-Parkinson-White Syndrome

Summary

Objectives: To study value of surface electrocardiogram (surface ECG) localization of

posteroseptal accessory pathways in patients with typical Wolff-Parkinson-White (WPW)

syndrome Subjects and methods: 42 patients with typical WPW syndrome had posteroseptal

accessory pathways (APs) at Vietnam Heart Institute and diagnostic the position of APs by the

surface ECG parameters were compared with the position of APs identified by RF Results:

Negative delta wave in V1 found in 95.65% of the right side group with sensitive/specific

91.67% and 94.44%, respectively; while positive delta wave in V1 found 89.74% of the left side

group with sensitive/specific 94.44% and 91.67%, respectively The QRS complex transition

in V1V2 met in 88.1% of the posteroseptal APs The negative delta wave in at least 2/3 inferior leads of the posteroseptal APs accounted for 90.48% of cases Conclusions: The right or left side of posteriorseptal had negative or positive delta waves in V1 with high accuracy

* Đại học Quốc gia Hà Nội

** Bệnh viện Bạch Mai

Người phản hồi (Corresponding): Chu Dũng Sĩ (chudungsi@gmail.com)

Ngày nhận bài: 18/10/2017; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 10/12/2017

Ngày bài báo được đăng: 29/12/2017

Trang 2

The QRS complex transition in V1V2 is common in posteroseptal APs with high accuracy The negative delta waves in at least 2/3 inferior leads common in the posteroseptal APs with

high correction

* Keyword: Wolff-Parkinson-White syndrome; ECG 12-lead; Posteroseptal accessory pathways

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hội chứng Wolff-Parkinson-White (WPW)

là xung động từ nhĩ xuống thất không chỉ

đi qua nút nhĩ-thất mà còn đi theo một

đường dẫn truyền khác nối tắt từ nhĩ

xuống thất, còn gọi là đường dẫn truyền

phụ (hay là cầu Kent) Khi đó một bộ

phận của tâm thất sẽ khử cực sớm hơn

so với bình thường, tạo nên hình ảnh

ĐTĐ đặc trưng [1, 2, 3] Vùng sau vách

(SV) có cấu trúc dạng một hình tam giác

giữa thất trái và thất phải, nên những

đường dẫn truyền phụ vùng SV có mức

độ tiền kích thích có thể ở dạng hỗn hợp

giữa trái và phải Do đó, việc chẩn đoán vị

trí đường dẫn truyền phụ có thể sẽ khó

khăn hơn [4]

Việc chẩn đoán hội chứng WPW dựa

chủ yếu vào ĐTĐ thông thường [1, 3] Thăm

dò điện sinh lý tim hiện nay được xem là

“tiêu chuẩn vàng” trong chẩn đoán các rối

loạn nhịp tim nói chung và hội chứng

WPW nói riêng Thăm dò điện sinh lý tim

cho phép định khu chính xác và triệt đốt

đường dẫn truyền phụ bằng năng lượng

sóng RF [1, 3] Nhiều nghiên cứu cho

thấy ĐTĐ bề mặt có thể giúp chẩn đoán

khá chính xác vị trí đường dẫn truyền phụ

trong hội chứng WPW thể điển hình [5, 6]

Cho đến nay, y văn trong nước chưa có

nhiều nghiên cứu hệ thống về vấn đề

này, đặc biệt là vùng SV Vì vậy, chúng

tôi tiến hành nghiên cứu nhằm: Đánh giá

vai trò của ĐTĐ bề mặt trong chẩn đoán

vị trí đường dẫn truyền phụ vùng sau

vách ở hội chứng WPW điển hình

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

42 bệnh nhân (BN) có hội chứng WPW điển hình được dự báo trước đó với kết quả vị trí đường dẫn truyền phụ là SV (SV bên phải và SV bên trái), đã được thăm

dò điện sinh lý tim và điều trị thành công bằng RF tại Viện Tim mạch Quốc gia Việt Nam trong năm 2014 - 2016

2 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả, tiến cứu BN được khám lâm sàng toàn diện, chi tiết trước khi thăm dò điện sinh lý tim Chẩn đoán xác định hội chứng WPW bằng ĐTĐ bề mặt: PR ngắn (< 120 ms), QRS giãn rộng (≥ 110 ms), sóng delta trát đậm ở đầu phức bộ QRS [1, 2]

Phân tích các thông số ĐTĐ bề mặt gồm: khoảng thời gian PR và QRS, đặc tính âm dương của sóng delta ở

12 chuyển đạo thông dụng, đặc điểm chuyển tiếp của phức bộ QRS tại các chuyển đạo trước tim

Dự báo vị trí đường dẫn truyền phụ sau vách bằng ĐTĐ bề mặt: chuyển tiếp phức bộ QRS tại V1V2 dự báo vùng vách, sóng delta (-) ở ít nhất 2/3 chuyển đạo sau dưới dự báo vùng thành sau (sau vách), còn SV bên trái hay bên phải

dự báo bằng sóng delta (+) hay (-) ở V1

Vị trí chuyển tiếp phức bộ QRS: là vị trí

có dạng RS hoặc dạng Rs/rS, miễn là đứng liền trước chuyển đạo trước tim đầu tiên có xuất hiện sóng Q kể từ V1-V6 [2]

Trang 3

Tiêu chuẩn xác định vị trí vùng chuyển

tiếp trước tim: vùng chuyển tiếp trước tim

được xác định là chuyển đạo sớm nhất,

tại đó biên độ sóng R lớn hơn biên độ

sóng S (hay R/S > 1) [2]

Sóng delta/phức bộ QRS (+) hay (-):

trường hợp sóng delta/phức bộ QRS có

dạng 2 pha (+/-) hoặc (-/+), xác định sóng

delta/phức bộ QRS (+) hay (-) bằng tổng

đại số vector/biên độ của 2 pha [2]

Hình 1: Các điện cực trong buồng tim và

vị trí đích triệt đốt vị trí sau vách bên phải

(vòng tròn đỏ), tư thế nghiêng trái 30o

(AVN: Nút nhĩ thất; Midseptal: Giữa

vách; VOFT: Đường ra thất phải; LCC: Lỗ

vành trái; RCC: lỗ vành phải; NCC: Lỗ đổ

vào nhánh mũ; Coronary sinus: Xoang

vành; Mitral valve: Van hai lá; Tricuspid

valve: Van 3 lá; Posteroseptal: SV; Right

posteroseptal: SVBP; Left posteroseptal:

SVBT [4])

Kỹ thuật triệt đốt đường dẫn truyền phụ dựa trên việc đưa đầu ống thông đốt tới tiếp xúc với một điểm trên vòng van hai lá hoặc ba lá nơi có đường dẫn truyền phụ đi qua Dựa theo vị trí của dây thông điện cực ở vị trí đốt thành công trên hình ảnh X quang chụp tư thế chếch trước trái

300, chúng tôi xác định vị trí giải phẫu của đường dẫn truyền phụ [2, 5] Tiến hành đối chiếu kết quả vị trí định khu đường dẫn truyền phụ qua thăm dò và điều trị thành công với dự báo vị trí ban đầu đã đặt với thông số nêu trên, cho thấy có độ

chính xác khá cao

Vị trí đường dẫn truyền phụ được xác định và khẳng định bằng thăm dò điện sinh lý tim và triệt đốt RF thành công [1, 3] Tiến hành đối chiếu hình ảnh ĐTĐ

bề mặt với vị trí đường dẫn truyền phụ nhằm trả lời mục tiêu nghiên cứu đề ra Tất cả số liệu xử lý trên máy tính bằng phần mềm IBM SPSS 21.0

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Căn cứ vào kết quả thăm dò điện sinh

lý tim và điều trị đốt điện, BN trong nhóm nghiên cứu đều có hội chứng WPW điển hình với 1 đường dẫn truyền phụ Phân

bố vị trí các đường dẫn truyền phụ gồm

23 đường dẫn truyền phụ sau vách bên phải và 19 đường dẫn truyền phụ sau vách bên trái

- Độ tuổi trung bình 44,26 ± 14,68 (19 - 68), cho thấy đa số ở độ tuổi trung niên;

26 nam (61,9%) và 16 nữ (38,1%) Đặc điểm về tuổi và giới của những BN này phù hợp với nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước [6, 7, 8]

Trang 4

- Tần số tim lúc nhịp xoang của BN

trong điều kiện nghỉ ngơi trước khi thăm

dò điện sinh lý tim trong giới hạn bình

thường (76,31 ± 12,36 chu kỳ/phút)

[48/100] Theo nhiều tác giả, ngoại trừ

các thời điểm có rối loạn nhịp (cơn tim

nhanh trên thất, cơn rung nhĩ…), không

thấy sự khác biệt về tần số tim lúc nghỉ ở

BN có hội chứng WPW so với người bình

thường [2]

Kết quả cho thấy, thời gian khoảng

QRS ở nhóm đường dẫn truyền phụ sau

vách bên phải rộng hơn đáng kể so với

sau vách bên trái (137,83 ± 12,53 ms so

với 131,37 ± 10,85 ms), p < 0,05 Thời

gian khoảng PR ở BN có đường dẫn

truyền phụ sau vách bên phải 93,30 ±

14,35 ms, ở nhóm vách bên trái 101,16 ±

9,55 ms, p < 0,05, phù hợp với nghiên

cứu của một số tác giả khác [6, 9] Theo

các tác giả, đường dẫn truyền phụ bên

phải thường gây tiền kích thích thất nhiều

hơn so với đường dẫn truyền phụ bên

trái Do khác biệt về giải phẫu, xung động

từ nhĩ phải sẽ được dẫn nhanh hơn qua

đường dẫn truyền phụ bên phải xuống

tâm thất so với đường dẫn truyền phụ

bên trái, khối lượng cơ tâm thất được khử

cực sớm hơn đường dẫn truyền phụ bên phải Hiện tượng này sẽ làm cho khoảng

PR có xu hướng ngắn hơn và khoảng QRS có xu hướng dài hơn ở các đường dẫn truyền phụ bên phải [2, 6, 9]

2 Đặc điểm ĐTĐ với vị trí đường dẫn truyền phụ sau vách

Trước khi tiến hành thủ thuật, dự báo

vị trí đường dẫn truyền phụ bằng ĐTĐ bề mặt thông qua một số thông số: sóng delta (-)/(+) ở các chuyển đạo V1 gợi ý sau vách bên phải/sau vách bên trái, sóng delta (+)/(-) ở ít nhất 2/3 chuyển đạo sau dưới gợi ý đường dẫn truyền phụ trước/sau vách, sự chuyển tiếp QRS tại các CĐ trước tim V1V2 sẽ dự báo đường dẫn truyền phụ vùng vách; sau đó đối chiếu với kết quả vị trí đường dẫn truyền phụ sau khi thăm dò điện sinh lý tim và điều trị RF với kết quả dự báo ban đầu

* Đặc điểm sóng delta ở chuyển đạo V1 với các đường dẫn truyền phụ ở sau vách bên phải hay sau vách bên trái:

Trước khi tiến hành thủ thuật, chúng tôi dự báo vị trí đường dẫn truyền phụ bên phải hay bên trái bằng sóng delta âm hay dương ở V1

Bảng1: Tỷ lệ sóng delta (-) hay (+) ở V1

Sóng delta (-) hay (+) ở V1

Vị trí đường dẫn truyền phụ

22/23 BN (95,65%) sau vách bên phải

có sóng delta (-) ở V1 dự báo đường dẫn

truyền phụ ở bên phải Trong khi đó,

nhóm sau vách bên trái có 17/19 BN

(89,74%) có sóng delta (+) ở V1 dự báo đường dẫn truyền phụ bên trái Độ nhạy (Se) và độ đặc hiệu (Sp) tính theo bảng

2 x 2 trong chẩn đoán vị trí đường dẫn

Trang 5

truyền phụ nhóm bên phải là 91,67% và

94,44%; tương tự, nhóm bên trái, độ nhạy

94,44% và độ đặc hiệu 91,67%

Theo một số tác giả, phân nhóm

đường dẫn truyền phụ bên phải như vùng

trước bên phải gặp delta có thể âm hay

đẳng điện ở V1 Vùng sau bên phải có

delta âm ở DIII và V1; QRS âm ở DIII và

V1 Vùng trước vách hay gặp delta

dương hoặc đẳng điện ở DIII, đẳng điện

ở V1 Còn ở một số phân nhóm đường

dẫn truyền phụ bên trái như: vùng sau

bên trái có sóng delta dương ở V1, âm ở

DIII; QRS âm ở DIII, dương ở V1 Vùng

thành bên bên trái có sóng delta dương ở

V1 [5] Kết quả này phù hợp với một số

tác giả đã nghiên cứu [5, 7]

Điều này cho thấy, đặc điểm của sóng delta ở V1 cho phép phân biệt độ chính xác cao đường dẫn truyền phụ ở bên phải (95,65%) hay trái (89,74%) với độ nhạy/độ đặc hiệu 91,67% và 94,44%; sẽ giúp cho bác sỹ tim mạch quyết định can thiệp đưa ống thông đốt qua đường tĩnh mạch hay động mạch

* Đặc điểm sự chuyển tiếp phức bộ QRS trên chuyển đạo trước tim với vị trí đường dẫn truyền phụ sau vách:

Đối với đường dẫn truyền phụ ở vùng vách, chúng tôi dự báo vị trí đường dẫn truyền phụ dựa vào đặc điểm chuyển tiếp phức bộ QRS tại chuyển đạo trước tim V1V2

Bảng 2: Đặc điểm chuyển tiếp phức bộ QRS tại các chuyển đạo trước tim

Vị trí chuyển tiếp QRS

Vị trí đường dẫn truyền phụ

Chuyển tiếp phức bộ QRS của trường

hợp đường dẫn truyền phụ ở vùng sau

vách tại 2 chuyển đạo V1V2 có 37/42 BN

(88,1%); trong đó đường dẫn truyền phụ

sau vách bên phải có chuyển tiếp ở V1V2

là 19/23 BN (82,61%), còn đường dẫn

truyền phụ sau vách bên trái 18/19 BN

(94,74%)

Kết quả nghiên cứu khá phù hợp với

một số tác giả khác: chuyển tiếp của phức

bộ QRS tại vùng vách xảy ra chủ yếu ở

V1V2 (ở V1 dạng rSv1, ở V2 dạng RSv2)

[5] Vùng vách chuyển tiếp chủ yếu ở V1V2,

vùng trước vách đẳng điện ở V1, vùng

sau vách QRS dạng rS ở V1, Rs ở V2 [5]

Trong nghiên cứu, 5/42 BN (11,9%) với 4 đường dẫn truyền phụ sau vách bên phải và 1 sau vách bên trái ban đầu được

dự báo có thể là vùng vách hoặc vùng thành bên do có sự chuyển tiếp QRS ở giữa V2 và V3; chúng tôi vẫn dự báo nghi ngờ vùng SV Theo một số tác giả, vùng vách bên phải có QRS chuyển tiếp giữa V2 và V3 hoặc chuyển tiếp giữa V3 và V4 với sóng delta ở DII > 10 mm Còn vùng bên bên phải có QRS chuyển tiếp sau V4 hoặc QRS chuyển tiếp giữa V3 và V4 với sóng delta ở DII < 10 mm [10]

Như vậy, căn cứ vào chuyển tiếp QRS, có thể dự báo độ chính xác cao

Trang 6

đường dẫn truyền phụ là trong vùng vách

hay không phải vùng vách (thành bên)

Việc định khu này sẽ giúp bác sỹ định

hướng vị trí đích triệt đốt nhằm rút ngắn

thời gian làm thủ thuật cũng như thời gian

chiếu tia đối với người làm can thiệp và

người bệnh

* Đặc điểm sóng delta ở chuyển đạo vùng sau dưới (DII, DIII, AVF) với vị trí đường dẫn truyền phụ sau vách:

Dự báo vị trí đường dẫn truyền phụ sau vách dựa vào đặc điểm sóng delta (-)

ở ít nhất 2/3 chuyển đạo sau dưới sẽ gợi

ý vị trí đường dẫn truyền phụ sau vách

Bảng 3: Đặc điểm sóng delta (-) hay (+) ở chuyển đạo sau dưới

Sóng Delta ở chuyển đạo

sau dưới

Vị trí đường dẫn truyền phụ

Âm ít nhất 2/3

Vùng sau vách có sóng delta (-) ở

2/3 chuyển đạo sau dưới (38/42 BN =

90,48%); trong đó độ chính xác trong

chẩn đoán vị trí sau vách bên phải 20/23 BN

(86,96%) và sau vách bên trái 18/19 BN

(94,74%)

Kết quả này phù hợp với các tác giả

khác [5, 6, 9, 10] Theo một số tác giả,

đường dẫn truyền phụ ở phía sau có

sóng delta âm ở các chuyển đạo sau

dưới [8]

Do đó, dựa vào đặc điểm sóng delta (-)

ít nhất 2/3 chuyển đạo sau dưới sẽ giúp

dự báo đường dẫn truyền phụ ở thành

SV; Khi cả 3 chuyển đạo đều có sóng

delta (+) hay (-), việc phán đoán có thể

chính xác hơn Chẩn đoán phân biệt

đường dẫn truyền phụ thuộc về thành SV

có thể giúp bác sỹ làm thủ thuật nhanh

chóng, định khu vị trí đường dẫn truyền phụ trên vòng van về phía sau Do vậy, tạo thuận lợi cho mapping và triệt đốt, rút ngắn thời gian thủ thuật

3 Thăm dò điện sinh lý học tim và điều trị triệt bỏ đường phụ bằng RF

Kỹ thuật triệt đốt đường dẫn truyền phụ dựa trên việc đưa đầu ống thông đốt tới tiếp xúc với một điểm trên vòng van hai lá hoặc ba lá nơi có đường dẫn truyền phụ đi qua [1, 2]

Tiến hành thăm dò điện sinh lý tim và điều trị RF cho những trường hợp này Trước khi can thiệp, chúng tôi dự báo trước vị trí định khu đường dẫn truyền phụ theo các thông số trên Tỷ lệ triệt đốt thành công đường dẫn truyền phụ vùng SV là 100% Đối chiếu vị trí định khu vùng SV đã xác định bằng thăm dò

Trang 7

và triệt đốt thành công với dự báo ban

đầu cho thấy độ chính xác cao, quá

trình thăm dò và triệt đốt đường dẫn

truyền phụ khá thuận lợi do đã định

hướng chính xác được vị trí của đường

dẫn truyền phụ, rút ngắn thời gian thủ

thuật trung bình cho mỗi BN 51,31 ± 26,64 phút cũng như thời gian chiếu tia

X quang trung bình cho mỗi BN 7,74 ± 5,25 phút, có những ca chỉ mất 2 phút cho chiếu tia và trường hợp chiếu tia nhiều nhất khoảng 20 phút

Hình 1a: ĐTĐ 12 chuyển đạo sau vách bên phải

(Lưu ý: có sóng delta (-) ở V1, chuyển tiếp QRS ở V2 (V1V2), sóng delta (-) ở

2/3 chuyển đạo sau dưới (DII, DIII, AVF)

Hình 1b: ĐTĐ 12 chuyển đạo sau vách bên trái

(Lưu ý: có sóng delta (+) ở V1, chuyển QRS ở V1 (V1V2), sóng delta (-) ở 2/3 chuyển

đạo sau dưới (DII, DIII, AVF)

Khi thăm dò điện sinh lý tim, đối với

những đường dẫn truyền phụ sau vách ở

bên phải, việc lập bản đồ nội mạc xác

định vị trí đường dẫn truyền phụ được

tiến hành ở phía nhĩ của vòng van ba lá

Tiếp cận vòng van ba lá bằng dây thông

điện cực đưa qua tĩnh mạch đùi lên tĩnh

mạch chủ dưới vào nhĩ phải Đầu dây

thông điện cực được điều khiển uốn cong

để tỳ vào mặt trên của vòng van ba lá và

dò tìm vị trí đường dẫn truyền phụ [3]

Dựa theo vị trí của dây thông điện điện cực ở vị trí đốt thành công trên hình ảnh

X quang chụp tư thế chếch trước trái 300, chúng tôi xác định vị trí giải phẫu của đường dẫn truyền phụ [1, 2, 3, 4]

Năm 1986, thế giới bắt đầu sử dụng

RF điều trị triệt bỏ thành công đường dẫn truyền phụ nhĩ thất ở Hội chứng WPW

Một số nghiên cứu về vị trí định khu

Trang 8

đường dẫn truyền phụ nhưng còn chưa

hệ thống hoặc trên cỡ mẫu nhỏ, việc dự

báo vị trí đường dẫn truyền phụ còn nhiều

khó khăn Lemery (1992) cho thấy thời

gian thủ thuật và chiếu tia là 216 ± 90

phút và 66 ± 33 phút [7], Hugh Calkins

(1992) đánh giá thời gian thủ thuật, thời

gian chiếu tia X quang 134 ± 75 phút và

47 ± 33 phút [8]

Ở Việt Nam, mặc dù giai đoạn đầu mới

triển khai ứng dụng kỹ thuật này trong

điều trị hội chứng WPW, Trần Văn Đồng

cũng rút ra nhiều kinh nghiệm từ những

nghiên cứu trước, nên rút ngắn thời gian

làm thủ thuật và thời gian chiếu tia so với

nhiều tác giả trên thế giới (117,5 ± 56,8

phút và 23,2 ± 12,8 phút) (nhóm SV 99,8

± 48,0 phút và 23,2 ± 12,8 phút) [1]

Với phương pháp điều trị RF, thời gian

làm và thời gian chiếu tia phụ thuộc nhiều

vào trình độ, kỹ thuật của người làm thủ

thuật cũng như kinh nghiệm và chiến

lược trong điều trị RF, trong đó việc chẩn

đoán định khu vị trí đường dẫn truyền phụ

bằng ĐTĐ bề mặt ban đầu rất hữu ích [1]

So sánh với những nghiên cứu trước

cho thấy đã rút ngắn thời gian làm thủ

thuật cũng như thời gian chiếu tia X quang

Điều đó thực sự có ích cho bác sỹ làm

can thiệp cũng như người bệnh

Một số tác giả đã đưa ra khuyến cáo

nếu thời gian chiếu tia cho mỗi ca > 48

phút, 1 tuần không nên làm quá 4 ca, vì

có thể gây biến loạn nhiễm sắc thể [7, 11]

KẾT LUẬN

Giá trị chẩn đoán định khu đường dẫn

truyền phụ sau vách ở hội chứng WPW

điển hình bằng ĐTĐ bề mặt:

- Dự báo vị trí đường dẫn truyền phụ vùng vách bên phải hay bên trái bằng ĐTĐ bề mặt với sóng delta (-) hay (+) ở

V1: đường dẫn truyền phụ sau vách bên

phải thường có sóng delta (-) ở V1, đường dẫn truyền phụ sau vách bên trái thường có sóng delta (+) ở V1

- Dự báo ĐTĐ bề mặt với các đường dẫn truyền phụ nằm ở vùng vách: đường dẫn truyền phụ vùng vách thường có chuyển tiếp phức bộ QRS tại các chuyển đạo V1-V2

- Dự báo vị trí đường dẫn truyền phụ bằng ĐTĐ bề mặt với đường dẫn truyền phụ ở vùng sau vách: đường dẫn truyền phụ thành sau (SV) thường có sóng delta (-) ở ít nhất 2 trong 3 chuyển đạo sau dưới

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Trần Văn Đồng Nghiên cứu điện sinh lý

tim và điều trị hội chứng Wolff- Parkinson-White bằng năng lượng sóng có tần số radio Luận án Tiến sỹ Y học, Học viện Quân y

2006

2 Surawicz B et al Chou’s Electrocardiography

in clinical practice: Adult and Pediaric Elservier Saunder 2008

3 Tarex B et al Prospective validation of A

Sezer ECG algorithm for localization of accessory pathways in patients with Wolff-Parkinson-White syndrome AAMJ 2012, 10, Supp l-2

4 Macedo P.G, Bisco S.E, Asirvathm S.J

Septal accessory pathway: Anatomy, causes for difficulty, and an approach to ablation Indian Pacing Electrophysiol J 2010, 10, pp.292-309

Trang 9

5 Lermery R, Stephen C.H, Douglas L.W

et al Value of the resting 12 lead

electrocardiogram and vectorcardiogram for

locating the accessory pathway in patients

with the Wolff-Parkinson-White Bristish Heart

Journal 1987, No 58, pp.324-332

6 Fananapazir L, German L.D, Gallagher

J.J et al Importance of preexcited QRS

morphology during induced atrial fibrillation to

the diagnosis and localization of multiple

accessory pattway Circulation Journal of the

American Heart Association 1990, No 81,

pp.578-585

7 Lemery R, Talajic M, Roy D et al

Success, safety, and late electrophysiological

outcome of low-energy direct-current ablation

in patients with the Wolff-Parkinson-White

syndrome Circulation Journal of the American

Heart Association 1992, No 85, pp.957-962

8 Calkins H, Langberg J, Sousa et al

Radiofrequency catheter ablation atrioventricular connections in 250 patients abbreviated therapeutic approach to Wolff-Parkinson-White syndrome Circulation 1992, 85, pp.1337-1346

9 Liebman J, Zeno J.A, Olshansky B et al

Electrocardiographic body surface potential mapping in the Wolff-Parkinson-White syndrome Noninvasive determination of the ventricular insertion sites of accessory atrioventricular connections Circulation 1991, Mar, 83 (3), pp.886-901

10 Muhammad A.D, Shabbir H.S, Abdul

R.A et al Localization of accessory pathways

according to AP Fitzpatrick ECG criteria in patients with Wolff-Parkinson-White syndrome

in our population Pakistan Heart Journal

2008, 41

11 Igor S Electrophysiologic study In

Igor Singer Clinical Manual of Electrophysiology Williams & Wilkins, Baltimore 1993, pp.52-58

Ngày đăng: 23/01/2020, 07:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w