1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Kháng thể đồng đặc hiệu - một hướng đi mới trong liệu pháp miễn dịch chống ung thư

6 128 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 335,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Liệu pháp miễn dịch ung thư được đề xuất cách đây nhiều thập kỷ nhưng gần đây mới được nhận ra là một hướng tiếp cận đầy hứa hẹn để cách mạng hóa việc điều trị ung thư. Kháng thể đồng đặc hiệu đóng vai trò tập hợp các tế bào miễn dịch tham gia và tiêu diệt các tế bào khối u, chúng đang được nghiên cứu ở giai đoạn lâm sàng và sẽ trở thành thế hệ tiếp theo của các liệu pháp dựa trên kháng thể.

Trang 1

KHÁNG THỂ ĐỒNG ĐẶC HIỆU – MỘT HƯỚNG ĐI MỚI

TRONG LIỆU PHÁP MIỄN DỊCH CHỐNG UNG THƯ

Trần Thị Thanh Hương *

Trường Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông – ĐH Thái Nguyên

TÓM TẮT

Liệu pháp miễn dịch ung thư được đề xuất cách đây nhiều thập kỷ nhưng gần đây mới được nhận

ra là một hướng tiếp cận đầy hứa hẹn để cách mạng hóa việc điều trị ung thư Kháng thể đồng đặc hiệu đóng vai trò tập hợp các tế bào miễn dịch tham gia và tiêu diệt các tế bào khối u, chúng đang được nghiên cứu ở giai đoạn lâm sàng và sẽ trở thành thế hệ tiếp theo của các liệu pháp dựa trên kháng thể Dựa trên hình dạng, các kháng thể đồng đặc hiệu có thể được chia thành 2 nhóm: Nhóm giống IgG và các phân tử phân đoạn đồng đặc hiệu Các kháng thể đồng đặc hiệu giống IgG giữ lại cấu trúc của một phân tử IgG với một vùng Fc chức năng, nó có thể gây độc tế bào phụ thuộc kháng thể hoặc độc tính gây độc có thể làm tăng thời gian bán hủy huyết thanh do kích thước phân

tử lớn và cơ chế tái chế FcRn qua trung gian Tuy nhiên, việc sản xuất kháng thể loại này có một

số khó khăn nhất định về việc bắt cặp của chuỗi nặng và chuỗi nhẹ, người ta đã đề xuất một số giải pháp để khắc phục vấn đề này Các phân tử phân đoạn đồng đặc hiệu có khả năng liên kết kháng nguyên mạnh, chúng có kích thước nhỏ hơn nên có khả năng thâm nhập mô khối u tốt hơn và đảm bảo hiệu quả điều trị mạnh hơn

Từ khóa: ung thư; miễn dịch; kháng thể đồng đặc hiệu; Fc; bắt cặp

MỞ ĐẦU*

Ung thư là một trong những nguyên nhân

hàng đầu gây tử vong trên toàn thế giới Sau

nhiều thập kỷ nghiên cứu và phát triển chuyên

sâu, tỷ lệ sống sót của bệnh nhân ung thư đã

được cải thiện đáng kể Ví dụ, bệnh bạch cầu

myeloid mãn tính (CML - chronic myeloid

leukemia), vốn từng là một căn bệnh gây tử

vong do phản ứng tổng hợp oncogene

BCR-ABL thì nay có thể dễ dàng kiểm soát nhờ các

thuốc ức chế tyrosine kinase [1] Tuy nhiên,

đối với nhiều bệnh ung thư khác, vẫn còn

thiếu phương pháp điều trị hiệu quả

Liệu pháp miễn dịch ung thư được đề xuất

cách đây nhiều thập kỷ nhưng gần đây mới

được nhận ra là một hướng tiếp cận đầy hứa

hẹn để cách mạng hóa việc điều trị ung thư

Điều trị miễn dịch ung thư, khai thác hệ thống

miễn dịch của cơ thể để chống ung thư, được

đặt tên là "Bước đột phá của năm 2013" của

khoa học Liệu pháp miễn dịch chống ung thư

trở thành một phương pháp đột phá xuất phát

từ sự thành công của các kháng thể kiểm soát

miễn dịch điểm, đó là kháng thể đơn dòng

*

Tel: 01652 314946, Email: ttthuong@ictu.edu.vn

chống CTLA-4 (cytotoxic T-lymphocyte– associated antigen 4) và 2 kháng thể đơn dòng kháng PD-1(programmed death 1) (nivolumab và pembrolizumab), chúng đều có hiệu quả chống lại nhiều loại khối u rắn, bao gồm khối u ác tính, ung thư biểu mô phổi và ung thư biểu mô thận [6] Những nghiên cứu này cho thấy rằng sự biến đổi của hệ thống miễn dịch là một cách khả thi để chống ung thư Trái ngược với hóa trị liệu truyền thống

và liệu pháp nhắm mục tiêu, chủ yếu tập trung vào các tế bào ung thư, liệu pháp miễn dịch chống ung thư giúp bệnh nhân có thể kích hoạt hệ miễn dịch để nhận biết và chống lại các tế bào ung thư Hiện nay, các kháng thể điều hòa miễn dịch, kháng thể đồng đặc hiệu, các thụ thể kháng nguyên đối với tế bào T và các công nghệ khác vẫn đang được nghiên cứu rất tích cực Trong số đó, kháng thể đồng đặc hiệu đang được nghiên cứu ở giai đoạn lâm sàng và sẽ trở thành thế hệ tiếp theo của các liệu pháp dựa trên kháng thể

Trong bài báo này, chúng tôi sẽ thảo luận về một loại kháng thể mới - kháng thể đồng đặc hiệu, chúng đóng vai trò tập hợp các tế bào miễn dịch tham gia và tiêu diệt các tế bào khối u

Trang 2

NỘI DUNG

Các ưu điểm của kháng thể đồng đặc hiệu

Sử dụng kháng thể đồng đặc hiệu là một

chiến lược đầy hứa hẹn để chống lại ung thư

bằng cách trực tiếp thu hút các tế bào miễn

dịch trong cuộc chiến chống lại các tế bào

khối u

Vậy kháng thể đồng đặc hiệu là gì? Kháng

thể đồng đặc hiệu là loại kháng thể có thể

nhận biết và liên kết hai kháng nguyên khác

nhau cùng một lúc Chúng có thể được tạo ra

theo nhiều cách, hơn 50 năm trước đây, một

kháng thể đồng đặc hiệu có thể được tạo ra

bằng cách tái tổ hợp hai hợp chất hóa học

được oxy hóa của hai kháng thể đơn dòng

tinh khiết khác nhau [9] Tuy nhiên, trong khi

một kháng thể thông thường chỉ liên kết với

một mục tiêu cụ thể, thì một kháng thể đồng

đặc hiệu có thể nhận biết và liên kết hai kháng

nguyên khác nhau cùng một lúc Dựa vào lợi

thế này, kháng thể đồng đặc hiệu có thể được

thiết kế để ức chế cùng lúc hai thụ thể trên bề

mặt tế bào hoặc phối tử [4 ]

Phải thừa nhận rằng, hiệu quả tương tự cũng

có thể đạt được bằng cách kết hợp hai hoặc

nhiều kháng thể đơn dòng với nhau, tuy

nhiên, sử dụng kháng thể đồng đặc hiệu giúp

giảm hàng loạt chi phí về thử nghiệm lâm

sàng cũng như quy trình sản xuất Một ưu

điểm khác của kháng thể đồng đặc hiệu là nó

có thể chuyển hướng các tế bào phản ứng

miễn dịch đến gần các tế bào khối u, điều này

không thể đạt được nếu sử dụng kháng thể

đơn dòng kết hợp

Ngày nay, kỹ thuật sinh học phân tử đã được

ứng dụng rộng rãi để tạo ra nhiều loại kháng

thể khác nhau Kỹ thuật di truyền cũng giúp

chúng ta linh hoạt hơn trong việc thiết kế một

kháng thể đồng đặc hiệu về kích thước, hóa

trị, tính đặc hiệu, chu kỳ bán rã và phân phối

sinh học Những kháng thể đồng đặc hiệu này

đại diện cho nhiều dạng công nghệ, bao gồm

TrioMab, hoạt động tế bào T không chính xác

(BiTE), kháng thể song song (TandAbs), đoạn

Fv chuỗi đơn IgG (scFv), CrossMab

Hầu hết các kháng thể đồng đặc hiệu là đặc hiệu đối với CD3 để thu nhận tế bào T vào tế bào khối u, do đó nó được nhắm tới bởi một loạt các kháng thể đặc hiệu kháng nguyên khối u Các tế bào T được tuyển chọn, sau đó chúng gây độc tế bào mạnh đối với các tế bào khối u Ngoài các tế bào T, tế bào giết tự nhiên (NK – natural killer) và tế bào đuôi gai (DC- dendritic cell) cũng đã được nhắm mục tiêu bởi các kháng thể đồng đặc hiệu

Dựa trên hình dạng, các kháng thể đồng đặc hiệu có thể được chia thành 2 nhóm: Nhóm giống IgG và các phân tử phân đoạn đồng đặc hiệu

Các kháng thể đồng đặc hiệu giống IgG giữ lại cấu trúc của một phân tử IgG với một vùng Fc chức năng Vùng Fc tạo điều kiện thanh lọc, cải thiện khả năng hòa tan và tính

ổn định Hơn nữa, vùng Fc có thể gây độc tế bào phụ thuộc kháng thể hoặc độc tính gây độc có thể làm tăng thời gian bán hủy huyết thanh do kích thước phân tử lớn và cơ chế tái chế FcRn qua trung gian Những tính năng này có thể hữu ích cho một số ứng dụng trị liệu [5]

Ngược lại, các phân tử phân đoạn đồng đặc hiệu thiếu các vùng Fc nên chúng chỉ dựa vào khả năng liên kết kháng nguyên của chúng để thực hiện các hoạt động trị liệu của mình Tuy nhiên, do các phân tử phân đoạn đồng đặc hiệu có kích thước nhỏ hơn nên nó có khả năng thâm nhập mô khối u tốt hơn và đảm bảo hiệu quả điều trị mạnh hơn

Cơ chế tác dụng của kháng thể đồng đặc hiệu: Kháng thể đồng đặc hiệu liên kết cùng lúc hai loại kháng nguyên khác nhau Trong hình 1, nhánh thứ nhất của kháng thể đồng đặc hiệu liên kết với kháng nguyên của tế bào khối u, nhánh thứ hai liên kết với một yếu tố ràng buộc CD3 trên bề mặt của tế bào T Điều này dẫn đến sự liên kết chéo giữa tế bào khối u và

tế bào đáp ứng (tế bào giết tự nhiên, macrophages), đồng thời kích hoạt tế bào T, kết quả là tế bào ung thư được nhắm mục tiêu

và dễ dàng bị giết chết

Trang 3

Hình 1 Kháng thể đồng đặc hiệu

(Nguồn: Internet)

Định dạng kháng thể đồng đặc hiệu giống IgG

Đây là một định dạng thường sử dụng của

kháng thể đồng đặc hiệu, sự đồng đặc hiệu có

thể đạt được thông qua sự hợp nhất của hoặc

là nhóm carboxyl, hoặc là gốc amin của một

trong hai chuỗi nặng hoặc chuỗi nhẹ với các

đơn vị liên kết kháng nguyên bổ sung

Kháng thể đồng đặc hiệu ở dạng này là

catumaxomab (năm 2009), được phát triển để

điều trị bệnh cổ trướng ác tính ở những bệnh

nhân có khối u dương tính với EpCAM, nó

cũng đang được thử nghiệm lâm sàng giai

đoạn I chống lại ung thư dạ dày và các thử

nghiệm pha I/II chống ung thư biểu mô

Catumaxomab được sản xuất từ chuột lai,

chúng tạo ra kháng thể lai của IgG2b và

IgG2a của chuột với khả năng chống chịu

CD3 và chống EpCAM Phân đoạn Fab kháng

EpCAM của catumaxomab có thể bám với

các tế bào khối u – chúng biểu hiện EpCAM,

còn phân đoạn Fa kháng CD3 có thể tập hợp

các tế bào lympho T đến các tế bào khối u

Vùng Fc của catumaxomab có thể liên kết và

kích hoạt các tế bào là thụ thể tích cực Fcγ,

chẳng hạn như tế bào mono, đại thực bào, DC

và tế bào NK (natural killer) Catumaxomab

thể hiện khả năng gây độc tế bào đối với các

tế bào ung thư buồng trứng, ngăn ngừa hoặc

làm giảm sự tích tụ của cổ trướng [3]

Một số kháng thể đồng đặc hiệu khác đã được

tạo ra bằng cách sử dụng công nghệ

quadroma tương tự Ví dụ: FTBA05 (được thiết kế để chuyển hướng các tế bào lympho T đến các tế bào lympho B bằng cách nhắm vào CD20) và ertumaxomab (được thiết kế chống lại các tế bào khối u biểu hiện HER2) hiện đang trong các giai đoạn phát triển lâm sàng khác nhau cho bệnh nhân bị u lympho tế bào

B bị tái phát hoặc ung thư vú di căn [12] Việc sản xuất kháng thể lai đồng đặc hiệu là một thách thức lớn bởi vì các dạng kháng thể được tiết ra không đồng nhất, ngoài ra các chuỗi nhẹ có thể không khớp với các chuỗi nặng không cùng họ

Sự đồng hóa của hai chuỗi IgG nặng được cảm ứng bởi sự tương tác giữa các miền CH3

Để khắc phục vấn đề về việc bắt cặp của các chuỗi nặng không mong muốn, người ta đã phát triển chiến lược “nút bấm vào lỗ” Phương thức nút bấm vào lỗ sử dụng một

“nút” đột biến (T366W) và ghép nối với các

“lỗ” đột biến trong các vùng CH3 Trên cơ sở của phương pháp này, một loạt các chiến lược khác được đề xuất để tăng khả năng tạo chuỗi nặng dị hợp như sử dụng các đột biến thay thế và lai các vùng CH3 bắt nguồn từ IgG và IgA [1]

Ngoài việc bắt cặp của chuỗi nặng, một vấn

đề khác với các kháng thể đồng đặc hiệu ở dạng IgG là vấn đề bắt cặp của chuỗi nhẹ Để khắc phục vấn đề này, người ta đã biểu hiện

và thanh lọc các nửa kháng thể chứa “nút” hoặc “lỗ” thành hai dạng tế bào chủ, tiếp theo

là lắp ráp trong ống nghiệm thành các kháng thể đồng đặc hiệu đầy đủ Một lợi thế lớn của chiến lược lắp ráp trong ống nghiệm là khả năng ứng dụng rộng rãi của nó đối với các kháng thể đã tồn tại từ trước, do đó làm giảm chi phí nghiên cứu và phát triển Ngoài ra, hai chuỗi nhẹ khác nhau thường tăng áp lực liên kết kháng nguyên và tính đặc hiệu của kháng thể tạo ra [8]

Một giải pháp khác cho các vấn đề với ghép nối chuỗi nặng và chuỗi nhẹ là kết hợp một đơn vị liên kết kháng nguyên thứ hai với đầu cuối N hoặc C của một trong hai chuỗi nặng

Trang 4

hoặc chuỗi nhẹ của kháng thể đơn dòng đầu

tiên của cha mẹ để đạt được cả hai tính đa

dạng và lưỡng tính Trong trường hợp này,

các đơn vị liên kết kháng nguyên có thể là các

đoạn Fc đơn lẻ (scFv- single-chain Fv

fragment) hoặc các kháng thể đơn miền (VL-

variable light chain domain) hoặc (VH-

variable heavy chain domain) Người ta có

thể thu được loại kháng thể có khả năng bám

đặc hiệu cao hơn nhờ sự bám đồng thời giữa

kháng nguyên với tất cả các vùng biến đổi

Dạng đoạn đồng đặc hiệu

Dạng kháng thể đồng đặc hiệu này có thể

được tạo ra mà không cần một vài hay tất cả

các vùng hằng định của một kháng thể Do

kích thước của nó nhỏ hơn so với kháng thể

khác nên nó có thể thâm nhập vào mô khối u

tốt hơn so với các dạng kháng thể giống IgG

khác Tuy nhiên, kích thước nhỏ hơn cũng

làm giảm thời gian bán hủy huyết thanh Một

cách tiếp cận phổ biến là kết hợp hai phân tử

scFv khác nhau theo định hướng VH-VL hoặc

VL-VH, với một mối liên kết ngắn (1–10

amino acid) giữa hai scFvs Công nghệ DNA

tái tổ hợp cho phép xây dựng một kháng thể

đồng đặc hiệu ở các dạng biến đổi rất linh hoạt

Một số dạng đã được đề xuất, bao gồm BiTE

(bispecific T-cell engager), TandAbs (tandem

antibody), DART (dual-affinity-retargeting

format) và ImmTac (immune-cell-mobilizing

monoclonal TCRs against cancer) [11]

Một kháng thể BiTE là một protein tái tổ hợp

55 kDa gồm 2 scFv BiTE là một trong những

định dạng được đề xuất đầu tiên về kháng thể

đồng đặc hiệu và hiện là phương pháp tiên

tiến nhất để phát triển lâm sàng Có 2 scFv,

một được thiết kế để liên kết với CD3 trên các

tế bào T và một liên kết với một kháng

nguyên liên quan đến khối u trên các tế bào

khối u trong dạng scFv Phương pháp BiTE

có thể được mở rộng thông qua sự kết hợp

của một đoạn scFv thứ ba, tạo thành kháng

thể tam đặc hiệu hay tam hóa trị BiTE được

sản xuất dưới dạng protein tái tổ hợp trong

các tế bào CHO

Mặc dù BiTEs có chu kỳ bán rã ngắn trong huyết thanh (vì chúng thiếu vùng Fc và có kích thước phân tử tương đối nhỏ), chúng có hiệu quả và có thể gây độc tế bào khối u cụ thể ở nồng độ picomolar trong ống nghiệm BiTE có thể gây kích hoạt tế bào T đa dòng phụ thuộc vào kháng nguyên, có khả năng gây độc qua trung gian tế bào T và gây tăng sinh tế bào T và nó có liên quan đến khả năng hoạt hóa hiệu quả của phức hợp thụ thể tế bào

T (TCR)

Kháng thể blinatumomab BiTE (AMG 103, MT103) được Cơ quan Quản lý Thực phẩm

và Dược phẩm Hoa Kỳ phê duyệt để điều trị bệnh nhân có bệnh bạch cầu lympho B-ALL cấp tính của bệnh nhân nhiễm sắc thể B (B-ALL) Blinatumomab bao gồm 2 scFv, một nhắm mục tiêu CD19 và một chống lại CD3, với hằng số phân ly cân bằng (KD) 10-9

và 10

-7

M tương ứng Sau khi tiếp hợp với các tế bào

T thông qua miền chống CD3, blinatumomab tạo ra một khớp thần kinh miễn dịch cấu trúc với các tế bào CD19+

, dẫn đến hoạt hóa tế bào

T và gây độc tế bào đối với tế bào CD19+

Cả hai tế bào T CD4+

và CD8+ có thể được cảm ứng để sinh sôi nảy nở và tham gia gây độc

mà không cần sự kích thích trước đó Perforin

và granzyme biểu hiện tăng sau khi tham gia với phức hợp, dẫn đến sự phân giải tế bào của các tế bào CD19+

Blinatumomab đã được chứng minh là có hiệu quả, vì bệnh nhân ung thư hạch không Hodgkin nhận blinatumomab như một tác nhân duy nhất cho thấy quá trình apoptosis của tế bào CD19+

ở liều thấp hơn nhiều so với anti-CD20 mAb rituximab Tuy nhiên, blinatumomab đòi hỏi truyền tĩnh mạch liên tục trong vài tuần bằng máy bơm di động để đảm bảo hoạt hóa liên tục của các tế bào T chống lại các tế bào đích do sự giải phóng nhanh chóng của blinatumomab [2] Các BiTE khác trong các giai đoạn phát triển khác nhau, nhắm vào các kháng nguyên liên quan đến khối u như EGFR, EpCAM, protein kích hoạt nguyên bào sợi, kháng nguyên tế bào gốc tiền liệt tuyến (PSCA), HER2, kháng

Trang 5

nguyên carcinoembryonic (CEA), ephrin A2

(EphA2), MET và CD33 Một cách tiếp cận

tương tự liên quan đến sự biểu hiện của 2

mảnh scFv khác nhau bằng một liên kết peptit

ngắn cho phép sự phân hóa kép của 2 đoạn bổ

sung Các đột biến có thể được đưa vào bề

mặt VL-VH để ưu tiên tính không đồng nhất

hóa qua quá trình đồng hóa để cải thiện năng

suất của định dạng mong muốn [10]

ImmTACs là các tác nhân đồng đặc hiệu hòa

tan bao gồm một scFv chống CD3 liên kết với

TCR có ái lực cao, nó nhận ra đích là các

phức hợp peptide MHC ImmTAC nhận ra

các tế bào khối u thông qua một TCR ái lực

cao được thiết kế (thường là một TCR đơn

dòng) thay vì thông qua một đoạn kháng thể

ImmTACs kích hoạt hoạt hóa tế bào T thông

qua synapse miễn dịch sinh học TCR đơn

dòng trên ImmTAC có thể nhắm mục tiêu

kháng nguyên liên quan đến khối u nội bào

bằng cách nhận ra phức hợp MHC-peptide

(trên bề mặt tế bào) mà hiếm khi tiếp cận với

kháng thể Khi tiếp xúc với các tế bào khối u,

ImmTACs bám đặc biệt với một phức hợp

MHC-peptid xác định được hiển thị trên bề

mặt tế bào thông qua việc nhận dạng dựa trên

TCR có ái lực cao Sau đó, nhánh CD3 tập

hợp các tế bào T đa dòng, do đó, hình thành

một khớp thần kinh miễn dịch và cuối cùng

giết chết các tế bào khối u Nhiều loại

ImmTAC đã được phát triển, bao gồm mục

tiêu gp100 (kháng nguyên phân biệt

melanocyte), MAGE-A3 (một loại ung thư

biểu hiện trong một loạt các khối u),

Melan-A/MART-1 (kháng nguyên dòng đặc trưng

được biểu hiện bằng u ác tính di căn) và

NY-ESO-1 (một neoantigen ung thư thể hiện

trong đa u tủy) Hiện nay, ImmTACs tiên tiến

nhất, IMCgp100, đang trong giai đoạn thử

nghiệm ở bệnh nhân u ác tính [7]

KẾT LUẬN

Là thế hệ tiếp theo của chiến lược chống ung

thư, kháng thể đồng đặc hiệu đã nhận được

nhiều sự chú ý vì cơ chế hoạt động độc đáo

của chúng và tác dụng diệt khuẩn mạnh

Những tiến bộ trong tương lai của công nghệ kháng thể đồng đặc hiệu sẽ tập trung vào việc phát triển các định dạng kháng thể mới để phù hợp với sự phức tạp của sinh học khối u Ngoài các kháng thể đồng đặc hiệu, người ta cũng tập trung nghiên cứu sâu hơn về các kháng thể đa kháng thể và kháng thể đa trị Bởi vì phần lớn các kháng thể đồng đặc hiệu hiện đang nhắm đến các kháng nguyên bề mặt

tế bào khối u, thế nên phát hiện ra các mục tiêu mới cũng rất cần thiết, bao gồm các kháng nguyên bề mặt tế bào khối u mới và phức hợp peptide-MHC kháng nguyên khối u nội bào, tăng hiệu quả và giảm tác dụng phụ của kháng thể đồng đặc hiệu

Ở Việt Nam, các nhà khoa học và các bác sỹ

đã bước đầu sử dụng liệu pháp miễn dịch ung thư đối với một số bệnh nhân không đáp ứng với các biện pháp trị liệu thông thường, đồng thời các bệnh nhân này phải có điểm kiểm soát miễn dịch Tuy nhiên, do giá thành cao nên liệu pháp miễn dịch ung thư vẫn chưa được sử dụng phổ biến và phương pháp dùng kháng thể đồng đặc hiệu trong liệu pháp miễn dịch ung thư vẫn chưa được sử dụng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Atwell S., Ridgway J B., Wells J A., Carter P., (1997), “Stable heterodimers from remodeling the domain interface of a homodimer using a phage

display library”, J Mol Biol., 270, pp 26-35;

PMID:9231898

2 Baeuerle P A., Kufer P., Bargou R (2009),

“BiTE: Teaching antibodies to engage T-cells for

cancer therapy”, Curr Opin Mol Ther., 11, pp

22-30; PMID:19169956

3 Heiss M M (2010), “The trifunctional antibody catumaxomab for the treatment of malignant ascites due to epithelial cancer: results of a

prospective randomized Phase II/III trial”, Int J Cancer, 127, pp 2209-2221; PMID:20473913

4 Kontermann R (2012), “Dual targeting

strategies with bispecific antibodies”, MAbs , 4,

pp.182-197; PMID:22453100

5 Lazar G A., (2006), “Engineered antibody Fc

variants with enhanced effector function”, Proc Natl Acad Sci USA, 103, pp 4005-4010

6 LeMercier I., Lines J L., Noelle R J Beyond, (2015), “CTLA-4 and PD-1, the generation Z of

Trang 6

negative checkpoint regulators”, Front Immunol,

pp 416-418; PMID:26347741

7 Liddy N., Bossi G., Adams K J., Lissina A.,

Mahon T M., Hassan N J., Gavarret J., Gavarret

J., Bianchi F., Pumphrey N J., Ladell K et al

(2012) “Monoclonal TCR-redirected tumor cell

killing”, Nat Med., 18, pp 980-987;

PMID:22561687

8 Merchant A M., Zhu Z., Yuan J Q., Goddard

A., Adams C W., Presta L G., Carter P (1998),

“An efficient route to human bispecific IgG”, Nat

Biotechnol., 16, pp 677-681; PMID:9661204

9 Nisonoff A., Rivers M M (1961),

“Recombination of a mixture of univalent

antibody fragments of different specificity”, Arch

Biochem Biophys, 93, pp 460-462;

PMID:13729244

10 Przepiorka D., Ko C W., Deisseroth A., Yancey C L., CandauChacon R., Chiu H J., Gehrke B J., Gomez-Broughton C., Kane R., Krishner S et al (2015), “FDA Approval:

Blinatumomab”, Clin Cancer Res., 21, pp

4035-4039; PMID:26374073

11 Spiess C., Zhai Q., Carter P J (2015),

“Alternative molecular formats and therapeutic

applications for bispecific antibodies”, Mol Immunol, 67, pp 195-106; PMID:25637431

12 Stanglmaier M., Faltin M., Ruf P., Bodenhausen A., Schroder P., Lindhofer H (2008), “Bi20 (fBTA05), a novel trifunctional bispecific antibody (anti-CD20 x anti-CD3), mediates efficient killing of B-cell lymphoma cells

even with very low CD20 expression levels”, Int

J Cancer , 123, pp 1181-1189; PMID:1854628

SUMMARY

BISPECIFIC ANTIBODY – A NEW WAY IN CANCER IMMUNOTHERAPY

Tran Thi Thanh Huong *

TNU - University of Information and Communication Technology

Cancer immunotherapy was proposed decades ago but has only recently been realized as a promising approach to revolutionize cancer treatment Bispecific antibodies play a role in the assembly of immune cells involved and destroy tumor cells, which are being studied at clinical stage and will become the next generation of antibody-based therapies On the basis of format, bispecific antibodies can be subdivided into 2 groups: IgG-like or bispecific fragment molecules IgG-like bispecific antibodies retain the structure of an IgG molecule with a functional Fc region, which can induce antibody-dependent cellular cytotoxicity or complement-dependent cytotoxicity and can increase the serum half-life due to the large molecular size and FcRn-mediated recycling mechanism However, the production of this type of antibody has some difficulties with the pairing of heavy and light chains, suggesting some solutions to overcome this problem The

bispecific-fragment formats have the ability to bind strong antigens, which are smaller in size, able

to penetrate better tumor tissue and ensure a more effective treatment

Key words: cancer, immunity; bispecific antibodies; Fc, pairing

Ngày nhận bài: 31/8/2018; Ngày phản biện: 14/10/2018; Ngày duyệt đăng: 31/10/2018

*

Tel: 01652 314946, Email: ttthuong@ictu.edu.vn

Ngày đăng: 23/01/2020, 07:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w