1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và hiệu quả của điều trị thay thế thận liên tục ở bệnh nhân hậu sản suy đa cơ quan

6 82 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 425,01 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài này được tiến hành để khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và hiệu quả của điều trị thay thế thận liên tục (CRRT) ở bệnh nhân hậu sản suy đa cơ quan (SĐCQ). Nghiên cứu tiến hành trên bệnh nhân hậu sản nhập khoa Hồi Sức Cấp Cứu, Bệnh viện Chợ Rẫy (HSCC-BVCR) được chẩn đoán suy đa cơ quan trong 2 năm 2009 và 2010.

Trang 1

ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG VÀ HIỆU QUẢ

CỦA ĐIỀU TRỊ THAY THẾ THẬN LIÊN TỤC Ở BỆNH NHÂN

HẬU SẢN SUY ĐA CƠ QUAN

Trần Thanh Linh*, Trần Đình Phùng*, Phan Thị Xuân*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và hiệu quả của điều trị thay thế thận liên tục (CRRT)

ở bệnh nhân hậu sản suy đa cơ quan (SĐCQ)

Đối tượng: Bệnh nhân hậu sản nhập khoa Hồi Sức Cấp Cứu, Bệnh viện Chợ Rẫy (HSCC-BVCR) được

chẩn đoán suy đa cơ quan trong 2 năm 2009 và 2010

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu mô tả

Kết quả: Trong 2 năm có 30 bệnh nhân hậu sản nhập khoa HSCC-BVCR, 25 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn

SĐCQ đưa vào nhóm nghiên cứu, trong đó 10 bệnh nhân được điều trị bằng CRRT Nguyên nhân dẫn đến SĐCQ thường gặp ở bệnh nhân hậu sản là tăng huyết áp thai kỳ (48%), kế đến là băng huyết sau sanh (24%) và nguyên nhân phối hợp của tăng huyết áp thai kỳ và băng huyết sau sanh (20%) Số cơ quan suy trung bình 3,3±1,2 Điểm APACHE II và SOFA ngày thứ nhất vào HSCC khá cao tương ứng là 21,9±9,3 và 12,7±3,8 CRRT được thực hiện với kỹ thuật CVVH ở 40% số bệnh nhân, thời điểm bắt đầu lọc máu được tiến hành hầu hết trong 24 giờ đầu nhập khoa HSCC (14,3±7,1 giờ), thời gian lọc trung bình 48,5±14,8 giờ, tuổi thọ trung bình quả lọc 25,8±7,2 giờ Kết quả cho thấy các chỉ số khám lâm sàng và cận lâm sàng đánh giá SĐCQ trước và sau CRRT cải thiện có ý nghĩa Tỉ lệ tử vong 24%, băng huyết sau sanh có bệnh cảnh nặng nhất với tỉ lệ tử vong lên đến 50%

Kết luận: Nguyên nhân dẫn đến SĐCQ nhiều nhất ở bệnh nhân hậu sản là tăng huyết áp thai kỳ và băng

huyết sau sanh Số cơ quan suy trung bình 3,3±1,2 Điểm APACHE II và SOFA ngày thứ nhất vào HSCC tương ứng là 21,9±9,3 và 12,7±3,8 CRRT được thực hiện ở 40% số bệnh nhân, trong 24 giờ đầu nhập khoa HSCC Tỉ lệ tử vong 24% Cần có thêm những nghiên cứu để xác định chỉ định CRRT ở nhóm bệnh nhân hậu sản có SĐCQ

Từ khóa: Suy đa cơ quan, điều trị thay thế thận liên tục

ABSTRACT

CLINICAL CHARACTERISTICS, LABORATORY AND EFFECT OF CONTINUOUS RENAL REPLACEMENT THERAPY FOR POSTPARTUM PATIENTS WITH MULTIPLE ORGAN

DYSFUNCTION SYNDROME

Tran Thanh Linh, Tran Dinh Phung, Phan Thi Xuan

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 4 - 2011: 476 - 481

Objective: To observe clinical, laboratory characteristics and effect of Continuous Renal Replacement

Therapy for postpartum patients with Multiple Organ Dysfunction Syndrome

Patients: Postpartrum patients were admitted to the ICU at Cho Ray hospital and diagnosed with MODS

in 2009-2010

* Khoa Hồi Sức Cấp Cứu, Bệnh viện Chợ Rẫy

Tác giả liên lạc: BSCK1.Trần Thanh Linh ĐT: 0918168846 Email: thanhlinhcr@gmail.com

Trang 2

Methods: Retrospective observational study

Results: For two years, there were 30 postpartum patients who were admitted to the ICU at Cho Ray

hospital, of them 25 met inclusion criteria and 10 patients in this group were received CRRT The most common cause of MODS in postpartum patients was pregnancy hypertension (48%), then postpartum hemorrhage (24%) and combination of pregnancy hypertension and postpartum hemorrhage (20%) The average number of organ failure was 3.3±1.2 APACHE II and SOFA score on the day of ICU admission were 21.9±9.3 and 12.7±3.8, respectively 40% of patients received CRRT with CVVH mode, most of the patients were initiated CRRT on the first 24 hours of ICU admission (14.3±7.1), median time of hemofiltration was 48.5± 14.8 hours, median life-time of a filter was 25.8±7.2 hours The results showed a significant improvement on clinical and laboratory criteria evaluating MODS at the time of pre-CRRT and post-CRRT Mortality rate was 24%, postpartum hemorrhage had the most serious illness with mortality rate was 50%

Conclusions: The most common cause of MODS in postpartum patients was pregnancy hypertension and

then postpartum hemorrhage, the average number of organ failure was 3.3±1.2 APACHE II and SOFA score on the day of ICU admission were 21.9±9.3 and 12.7±3.8, respectively CRRT was performed on the first 24 hours of ICU admission at 40% of the patients Mortality rate was 24% Further trials are needed to determine indications and timing of CRRT in postpartum patients with MODS

Key words: Multiple organ dysfunction syndrome, Continuous renal replacement therapy

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tỉ lệ bệnh nhân hậu sản điều trị tại khoa

HSCC ở các nước phát triển chỉ chiếm ≤ 2%,

nhưng tỉ lệ này lên đến ≥ 10% ở các nước đang

phát triển và có tỉ lệ tử vong cao(1,8,9) Tử vong mẹ

không những để lại ảnh hưởng nặng nề cho gia

đình và cộng đồng, mà còn phản ánh thực trạng

chăm sóc sức khỏe thai phụ và tình trạng kinh tế

xã hội của quốc gia Hàng năm, khoa

HSCC-BVCR tiếp nhận một số bệnh nhân hậu sản nặng

từ các bệnh viện phụ sản, phần lớn là bệnh nhân

SĐCQ Trong những năm qua, điều trị thay thế

thận liên tục (CRRT) được khuyến cáo áp dụng

sớm cho những bệnh nhân suy đa cơ quan(2,4),

tuy nhiên thời điểm cũng như chỉ định chưa

được xác định rõ Vì thế chúng tôi thực hiện

nghiên cứu này như bước khảo sát đầu tiên, làm

cơ sở cho việc thực hiện những nghiên cứu tiếp

theo, nhằm đưa ra các chỉ định của CRRT dựa

trên y học bằng chứng cho nhóm bệnh nhân hậu

sản SĐCQ

Mục tiêu nghiên cứu

Khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng

và hiệu quả của CRRT ở bệnh nhân hậu sản suy

đa cơ quan

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu

Hồi cứu mô tả

Đối tượng nghiên cứu

Tất cả bệnh nhân hậu sản nhập vào khoa HSCC-BVCR trong 2 năm 2009 và 2010 đáp ứng

đủ tiêu chuẩn SĐCQ Chẩn đoán SĐCQ theo tiêu chuẩn của hội Hồi Sức Cấp Cứu và hội lồng ngực Hoa Kỳ(SCCM/ACCP) năm 1992

Phương pháp tiến hành

Hồi cứu bệnh án để thu thập các dữ liệu: tuổi mẹ, tuổi thai, số lần sanh, tiền sử bệnh lý liên quan đến thai kỳ, tiền sử bệnh mạn tính, chẩn đoán xác định lúc nhập khoa HSCC, các thông số đánh giá suy đa cơ quan, điểm APACHE II và SOFA ngày nhập khoa, các dữ liệu liên quan đến CRRT, số ngày điều trị tại khoa HSCC và nằm viện, tỉ lệ tử vong

Điều trị thay thế thận liên tục:

• Máy Diapact-CRRT, Máy Frisma flex

• Mode: CVVH

• Đường vào tĩnh mạch: chủ yếu tĩnh mạch bẹn

• Kháng đông: Heparin chỉnh liều theo

Trang 3

APTT, theo dõi APTT mỗi 6 giờ

• Màng lọc: High flux, Acute

• Dịch lọc Hemosol hoặc tự pha

• Dịch thay thế 35ml/kg/giờ

Xử lý số liệu

Kết quả nghiên cứu được xử lý bằng phần

mềm SPSS13.0 Giá trị p < 0,05 được xem có ý

nghĩa thống kê

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Trong 2 năm 2009 và 2010, có 30 bệnh nhân hậu sản nhập khoa HSCC-BVCR, trong đó 25 trường hợp đủ tiêu chuẩn SĐCQ được đưa vào nhóm nghiên cứu Trong nhóm nghiên cứu có

10 bệnh nhân được điều trị bằng CRRT chiếm

tỉ lệ 40%

Bảng 1: Đặc điểm chung của bệnh nhân và chẩn đoán chính

Sau HSCC

Nhận xét: Phần lớn bệnh nhân từ nông thôn

(88%), tuổi trung bình của mẹ 30,2±6,1 với tuổi

thai trung bình tính theo tuần 35,1±3, thời gian

nằm HSCC và số ngày nằm viện trung bình là

10,4±6,1 và 16,1±7,9, tỉ lệ tử vong mẹ 24%(6

trường hợp), điểm APACHE II, SOFA ngày 1

nhập HSCC khá cao 21,9±9,3 và 12,7±3,8

Bảng 2: Bốn nhóm nguyên nhân chính gây suy đa cơ

quan

Tiền sản giật 6

Sản giật 6

HELLP 8

Sau sẩy thai Thai chết lưu 1 Hậu sản 1

Nhận xét: Hầu hết nguyên nhân gây SĐCQ phải nhập vào khoa là do Tăng huyết áp thai kỳ (48%), trong đó Tiền sản giật, Sản giật có tỉ lệ tương đương, hội chứng HELLP phần lớn nằm trong bệnh cảnh của Sản giật và Tiền sản giật nặng Kế đến là nhóm Chảy máu và nhóm kết hợp của Tăng huyết áp do thai + Chảy máu tương ứng là 24% và 20% Có một sự gia tăng có

ý nghĩa về độ tuổi trung bình mẹ, tuổi thai, số

Trang 4

lần sanh, thời gian nằm HSCC, số ngày nằm

viện, điểm APACHE II, điểm SOFA, số cơ quan

suy và tỉ lệ tử vong (3/6 trường hợp tử vong)

trong nhóm chảy máu so với các nhóm còn lại,

tiếp theo là nhóm phối hợp của Tăng huyết áp

thai kỳ và Chảy máu

Bảng 3: Phân loại cơ quan suy

Nhận xét: Suy chức năng gan chiếm tỉ lệ cao

nhất 92%, kế đến là suy chức năng thận (72%) và

suy hô hấp (64%), với số cơ quan suy trung bình

trong nhóm nghiên cứu là 3,3±1,2 (thấp nhất là 2,

cao nhất là 6)

Bảng 4: Các thông số đánh giá suy đa cơ quan ngày 1

PaO2/FiO2 244,3±135,8 272,4±149,4 195,7±101,2

AST(u/L) ±1634,31007,4 ±1097,2557,8 ±2135,71735,3

ALT(u/L) 471,2±545,5 214,7±275,9 898,3±625,6

Bilirubin TP

Bảng 5: Một số đặc điểm của 2 nhóm có CRRT và

không CRRT

Glassgow 11,2±4,1 6±3,9 0,013

APACHE II 16,5±8,5 29,0±4,5 0,0002

Tử vong mẹ 03 03 0,29

Số ngày nằm HSCC

9,4±3,1 11,9±7,8

Nhận xét: Kết quả cho thấy có sự khác biệt

có ý nghĩa giữa 2 nhóm có CRRT và không CRRT, ở nhóm CRRT các thông số đánh giá suy chức năng thần kinh, tuần hoàn, hô hấp, gan, thận thì trầm trọng hơn ở nhóm không CRRT, tương tự số bệnh nhân phải thở máy, sốc, số cơ quan suy, điểm APACHE II, SOFA ngày thứ 1 thì cao hơn nhiều ở nhóm CRRT Tuy nhiên không có sự khác biệt về tỉ lệ tử vong, thời gian nằm HSCC và số ngày nằm viện giữa hai nhóm

Bảng 6: Điều trị với CRRT

Thời điểm bắt đầu CRRT (giờ sau nhập ICU) 14,3±7,1(7 ; 24)

Tổng thời gian CRRT(giờ) 48,5±14,8(14 ; 74)

Số quả lọc sử dụng cho 1 b/nhân 2,4±1(1 ; 4) Tuổi thọ quả lọc(giờ) 25,8±7,2(14 ; 44)

Bảng 7: Thay đổi các thông số sau CRRT

Bilirubin TP

PaO 2 /FiO 2 195,7±101,2 393,5±169,7 0,0004

Nhận xét: Hầu hết bệnh nhân được bắt đầu điều trị thay thế thận trong vòng 24 giờ đầu nhập HSCC, số đợt điều trị là 1 và thời gian trung bình lọc 48,5±14,8 giờ, tuổi thọ trung bình quả lọc 25,8±7,2 giờ Kết quả cho thấy các chỉ số khám lâm sàng và cận lâm sàng đánh giá SĐCQ trước và sau CRRT cải thiện có ý nghĩa

Trang 5

BÀN LUẬN

Tăng huyết áp thai kỳ là nguyên nhân hàng

đầu gây suy đa cơ quan 48%, kế đến là băng

huyết sau sanh 24% và kết hợp của chảy máu và

tăng huyết áp do thai 20%, kết quả này khá phù

hợp với nghiên cứu tại Havana, Cuba(6) và

Leung NYW tại bệnh viện khu vực Hong

Kong(5), tăng huyết áp do thai bệnh ít nặng hơn,

đòi hỏi thở máy ít hơn, số cơ quan suy thấp hơn

và tỉ lệ tử vong cũng thấp hơn 8,3%(1/12 bệnh)

Trong khi đó mức độ bệnh nặng nhất ở nhóm

băng huyết sau sanh với tỉ lệ tử vong cao nhất

50% (3/6 bệnh) và có liên quan với tuổi trung

bình mẹ cao 37 ± 3 tuổi và số lần sanh cao hơn

nhóm khác 2,5 ± 1

Điểm APACHE II và phần trăm tỉ lệ tử vong

tiên đoán vượt mức so với tỉ lệ tử vong mẹ thực

tế trong nhóm nghiên cứu, điều này phù hợp

với một vài nghiên cứu đã được công bố(6,3,7).Có

vài lý do có thể giải thích, do sự thay đổi các

thông số sinh lý như nhịp tim, tần số hô hấp, thể

tích máu, Hct, pH máu…do quá trình mang thai

gây ra làm tăng giả tạo thang điểm, ngoài ra một

số rối loạn sinh lý xảy ra ở bệnh nhân sản khoa

nặng có thể được giải quyết tự nhiên sau đó khi

mà thai kỳ đã được chấm dứt(9)

Kỹ thuật CVVH được thực hiện hầu hết 24

giờ đầu nhập HSCC, tuy nhiên đa số bệnh nhân

nhập khoa đã mất một khoảng thời gian điều trị

tại các bệnh viện sản khoa trước khi chuyển đến

khoa HSCC-BVCR do đó thời điểm từ lúc suy đa

cơ quan đến khi thực hiện được CRRT thực tế

dài hơn nhiều Chỉ định CRRT chưa có sự thống

nhất đa phần còn phụ thuộc vào nhận định của

bác sĩ cũng như điều kiện kinh tế của bệnh nhân

Thời gian cho một đợt lọc máu và thời điểm bắt

đầu lọc máu lần sau chưa được nhất quán còn

phụ thuộc cảm tính của bác sĩ điều trị

Sự cải thiện có ý nghĩa các chỉ số khám lâm

sàng và cận lâm sàng đánh giá suy đa cơ quan

trước và sau CRRT cũng như tỉ lệ tử vong thấp

so với vài nghiên cứu suy đa cơ quan ở bệnh

nặng có thai(6,3,7) cho thấy hiệu quả của điều trị

thay thế thận liên tục

Mặc dù không có sự khác biệt số tử vong, thời gian nằm HSCC và số ngày nằm viện giữa hai nhóm được điều trị bằng thay thế thận liên tục và không được điều trị bằng thay thế thận liên tục, tuy nhiên trong 3 trường hợp tử vong thuộc nhóm CRRT tất cả điều bị ngừng tim trước nhập khoa Mặc khác các thông số đánh giá suy đa cơ quan ngày thứ nhất nhập HSCC thì trầm trọng hơn nhiều ở nhóm CRRT, cũng như các yếu tố tiên lượng nặng như thở máy, sốc, số cơ quan suy, điểm APACHE II, điểm SOFA ngày thứ 1 thì cao hơn nhiều ở nhóm

CRRT

06 bệnh nhân tử vong trong nhóm nghiên cứu tương đương 24% cao hơn trong các nghiên cứu ở quốc gia đang phát triển trong nghiên cứu của Afessa và cộng sự tại Florida 2,7%(1), nhưng thấp hơn trong nhóm nghiên cứu tại Enrique Cabrera General Teching Hospital, Havana, Cuba là 50%(6), tuy nhiên trong 02 nhóm nghiên cứu trên thì không có đề cập đến can thiệp điều trị Tỉ lệ này cũng thấp nếu so với tỉ lệ tử vong của các nguyên nhân gây suy đa cơ quan khác tại HSCC 40-100% Tất cả bệnh tử vong đều có

số cơ quan suy ≥ 5, giống như các nguyên nhân gây suy đa cơ quan khác với số cơ quan suy 5,6

cơ quan tỉ lệ tử vong gần 100%

Qua những kết quả trên chúng tôi đề nghị: (1) Bệnh nhân hậu sản có suy đa cơ quan cần sớm được chuyển đến đơn vị hồi sức tích cực (2) Nên mạnh dạn tiến hành CRRT sớm với những bệnh nhân hậu sản có số cơ quan suy từ

3-5 cơ quan (3) Cần có một qui trình thống nhất

về chỉ định CRRT, thời gian 1 lần lọc, thời điểm bắt đầu lọc lần sau, cũng như thời gian tối ưu sử

dụng quả lọc để đạt hiệu quả lọc tốt nhất

KẾT LUẬN

Nguyên nhân dẫn đến suy đa cơ quan ở bệnh nhân hậu sản thường gặp nhất là tăng huyết áp thai kỳ, tiếp theo đó là băng huyết sau sanh Bệnh cảnh của nhóm băng huyết sau sanh

là nặng nề nhất và tử vong trong nhóm này là cao nhất (50%) Số cơ quan suy trung bình 3,3 ± 1,2 Điểm APACHE II và SOFA ngày thứ nhất

Trang 6

vào HSCC tương ứng là 21,9 ± 9,3 và 12,7 ± 3,8

Suy chức năng gan, thận gặp hầu hết ở tất cả

bệnh nhân và chiếm tỉ lệ cao nhất 92% và 72%

Tỉ lệ tử vong 24% CRRT được thực hiện ở 40%

số bệnh nhân, trong 24 giờ đầu nhập khoa

HSCC, kết quả cho thấy các chỉ số khám lâm

sàng và cận lâm sàng đánh giá suy đa cơ quan

trước và sau CRRT cải thiện có ý nghĩa Cần có

thêm những nghiên cứu để xác định chỉ định

CRRT ở nhóm bệnh nhân hậu sản có SĐCQ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

inflammatory response syndrome, Organ fairlure, and

Outcome in Critically ill obstetric patients treated in an ICU,

Chest, 120; 1271-1277

phương pháp lọc máu liên tục trên bệnh nhân ong đốt có rối

loạn chức năng đa cơ quan, Tạp chí Y Học Tp.HCM, tập 12,

phụ bản số 1

Critical care in obstetrics-scenario in a developing country, J Obstet Gynecol India, 58:3

của lọc máu liên tục trong điều trị suy đa cơ quan tại khoa Điều Trị Tích Cực Bệnh viện Bạch Mai, Tạp chí Y Học Thực Hành (668), số 7

characteristic and outcomes of obstetric patients admitted to the Intensive Care Unit: a 10-year retrospective review, Hong Kong Med J, 16:1

Characterization of Obstetric patient with Multiple Organ Fairlure in the Intensive Care Unit of a Havana Teaching Hospital, 1998-2006, MEDICC Review, 12:2

pregnancy: An overview, Crit Care Med, 33:10

characteristics and outcomes of Obstetric patients requiring ICU admission, Chest 131; 718-724

Ngày đăng: 23/01/2020, 06:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w