1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá kết quả điều trị mộng thịt nguyên phát bằng phẫu thuật cắt mộng - xoay vạt kết mạc kết hợp áp mitomycin-C

6 117 3

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 438,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của nghiên cứu nhằm so sánh hiệu quả phương pháp xoay vạt kết mạc kết hợp áp mitomycin C (MMC) và phẫu thuật ghép kết mạc rời tự thân vùng rìa trong điều trị mộng thịt nguyên phát. Đề tài được tiến hành từ tháng 6/2010 đến tháng 8/2011, gồm 88 mộng thịt nguyên phát của 84 bệnh nhân.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ MỘNG THỊT NGUYÊN PHÁT

BẰNG PHẪU THUẬT CẮT MỘNG - XOAY VẠT KẾT MẠC KẾT HỢP

ÁP MITOMYCIN-C

Nguyễn Văn Thi*, Lê Minh Thông**

TÓM TẮT

Mục tiêu: So sánh hiệu quả phương pháp xoay vạt kết mạc kết hợp áp Mitomycin C (MMC) và phẫu thuật

ghép kết mạc rời tự thân vùng rìa trong điều trị mộng thịt nguyên phát

Phương pháp nghiên cứu: Đề tài được tiến hành từ tháng 6/2010 đến tháng 8/2011, gồm 88 mộng thịt

nguyên phát của 84 bệnh nhân Chia mẫu ngẫu nhiên nhóm A là lô chứng thực hiện phương pháp ghép kết mạc rìa tự thân, Nhóm B là lô nghiên cứu thực hiện phương pháp xoay vạt kết mạc kết hợp áp MMC 0,02mg/ml trong 3 phút rồi rửa sạch bằng 100ml dung dịch NaCl 0,9% Thời gian theo dõi ngắn nhất là 6 tháng và dài nhất

là 12 tháng So sánh sự khác biệt bằng kiểm định Chi Square test hoặc t-test Giá trị p<0,05 có ý nghĩa thống kê

Kết quả: Tỷ lệ tái phát của phương pháp xoay vạt kết mạc kết hợp áp MMC là 6,8% và của phẫu thuật ghép

kết mạc rời là 6,8% Không có biến chứng trầm trọng nào ảnh hưởng đến thị lực của bệnh nhân xảy ra ở cả 2

nhóm

Kết luận: Phương pháp xoay vạt kết mạc kết hợp áp MMC có hiệu quả ngang bằng với phẫu thuật ghép kết

mạc rời trong việc ngăn ngừa sự tái phát của mộng thịt

Từ khóa: Củng mạc trần, phương pháp xoay vạt kết mạc, phẫu thuật ghép kết mạc rời tự thân, mộng thịt,

Mitomycin C

ABSTRACT

EVALUATION OF PRIMARY PTYGERIUM TREATMENT METHOD: PTYGERIUM EXCISION –

ROTATION CONJUNCTIVAL FLAP PLUS MITOMYCIN-C

Nguyen Van Thi, Le Minh Thong

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 1 - 2012: 54 - 59

Objectives: To compare the efficacy of limbal conjunctival autograft transplantation (LCAT) to rotation

conjunctival flap plus intraoperative application of MMC in the prevention of pterygium recurrence after surgical

removal

Method: Eighty four eyes of 84 patients with primary pterygia were randomly allocated to two groups The

first group (Group A, 44 eyes) underwent surgical excision, limbal conjunctival autograft transplantation without MMC The second group (Group B 44 eyes) underwent surgical removal with rotation conjunctival flap technique plus intraoperative application of MMC (0,02mg/ml) over bare sclera for 3 minutes The study was performed between June 2010 and August 2011, and follow up was performed for 6 months postoperatively Differences between frequencies in both groups were compared by the Chi-square test or Fisher exact test P value

<0,05 was considered significant

Results: The rate of pterygium recurrence was 6.80% in Group A and 6.80% in Group B at 1 year

postoperatively (p>0,05) No serious postoperative complications occurred in either group

Khoa Mắt, BV Nguyễn Đình Chiểu, Bến Tre; ** Bộ môn Mắt, Đại học Y Dược TP.HCM

Trang 2

Conclusion: Rotation conjunctival flap technique plus intraoperative topical application of 0.02mg/ml

MMC is as effective as LCAT for preventing pterygium recurrence after surgical removal

Keywords: bare sclera, rotation conjunctival flap technique, Mitomycin C, pterygium, limbal conjunctival

autograft transplantation

ĐẶT VẤN ĐỀ

Mộng thịt là bệnh lành tính ở mắt, xuất hiện

ở vùng khe mi góc trong và góc ngoài của mắt

Đã có nhiều phương pháp điều trị trong hai lĩnh

vực, nội và ngoại khoa nhưng chỉ có phẫu thuật

mới mang lại kết quả tốt Năm 1963 Kunitomo

và Mori công bố hiệu quả của Mitomycin-C

(MMC) sau mổ trong phòng ngừa mộng thịt tái

phát Từ đó đến nay việc sử dụng Mitomycin-C

trong điều trị mộng thịt ngày càng được sử

dụng rộng rãi Tuy rằng có nhiều cảnh báo biến

chứng xảy ra liên quan đến MMC nhưng hiệu

quả của thuốc đã được công nhận(1,4,7,10,14) Sự kết

hợp MMC với một phương pháp phẫu thuật là

một khả năng hoàn hảo để cho tỷ lệ thành công

cao là xu hướng hiện nay trong điều trị mộng

thịt(10) Đồng thời cũng chính nhờ sự kết hợp nầy

mà làm giảm đi biến chứng MMC ở liều thấp

như phủ kết mạc lên vùng khiếm khuyết để

tránh biến chứng vô mạch củng mạc(8)

Phương pháp xoay vạt kết mạc theo kỹ thuật

của Arruga kết hợp áp MMC có nhiều ưu điểm

như kỹ thuật mổ tương đối đơn giản, phục hồi

được cấu trúc bình thường của vùng rìa, nhằm

tạo một rào cản ngăn chặn sự tái phát của mộng

thịt bằng vai trò của tế bào mầm(10), và ức chế

tăng sinh mô sợi mạch bằng vai trò của MMC

Liều lượng thuốc được kiểm soát chặt chẽ nên

hạn chế đến mức thấp nhất các biến chứng có

thể xảy ra(2,5,12) Đặc biệt phương pháp nầy không

có nguy cơ xảy ra biến chứng hoại tử mãnh

ghép như trong ghép kết mạc rời, không đòi hỏi

các phương tiện đặc biệt Do vậy có thể thực

hiện ở y tế tuyến huyện, phù hợp với khả năng

tài chính của bệnh nhân Quan trọng nhất là

giảm được tỷ lệ tái phát sau mổ đồng thời đảm

bảo sự thành công và tính cả tính thẩm mỹ(10)

Phương pháp ghép kết mạc rời đạt hiệu quả

cao, tỷ lệ tái phát thấp, đã được kiểm chứng trên

thực tế lâm sàng Tuy nhiên kỹ thuật của

phương pháp nầy khá phức tạp, đòi hỏi nhiều yếu tố hổ trợ như kinh nghiệm của PTV, trang thiết bị phẫu thuật vi phẫu, chi phí cao và thời gian mất khá nhiều cho một case phẫu thuật(2,5,8,10,14)

Vì vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài nầy với mục đích có thể chọn lựa một phương pháp điều trị mộng thịt đơn giản, mà kết quả đạt được có thể so sánh với phẫu thuật ghép kết mạc rời Hy vọng nghiên cứu nầy có thể góp thêm một sự lựa chọn trong điều trị mộng thịt nhằm đem lại kết quả tốt nhất cho bệnh nhân

Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá hiệu quả điều trị mộng thịt nguyên phát bằng phẫu thuật xoay vạt kết mạc kết hợp với áp Mitomycin-C So sánh với ghép kết mạc rìa

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu tiến cứu, thực nghiệm lâm sàng, ngẫu nhiên, có nhóm chứng

- Đề tài được tiến hành từ tháng 8-2010 đến tháng 8-2011, gồm tổng số 88 mộng thịt nguyên phát của 84 bệnh nhân được phẫu thuật tại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu Bến Tre Bốc thăm ngẫu nhiên chia làm 2 lô, bệnh có số lẻ vào lô 1

là lô chứng thực hiện phương pháp ghép kết mạc rìa tự thân, bệnh có số chẳn vào lô 2 là lô nghiên cứu thực hiện phương pháp xoay vạt kết

mạc kết hợp áp MMC

- Đánh giá trước mổ: Bệnh nhân được khám bằng sinh hiển vi kiểm tra phần trước nhãn cầu, xác định thị lực và đo nhãn áp kiểm tra đáy mắt khi có nghi ngờ bệnh lý ảnh hưởng thị lực

- Chẩn đoán lâm sàng mộng thịt dựa vào mức độ xâm lấn giác mạc của đầu mộng thịt và hình thái mộng Độ 1 tới rìa giác mạc Độ 2 qua rìa giác mạc <2mm Độ 3 qua rìa giác mạc từ 2 – 4mm Độ 4 qua rìa giác mạc >4mm hay vượt quá

bờ đồng tử

Trang 3

+ Mộng thân dày: Không thể quan sát lớp

mạch máu thượng củng mạc

+ Mộng trung gian:Có thể thấy một phần

mạch máu thượng củng mạc

+ Mộng teo: Có thể quan sát rõ các mạch

máu thượng củng mạc

Kỹ thuật mổ

Phương pháp xoay vạt kết mạc kết hợp áp

MMC

Sau khi đã cắt bỏ mộng và làm sạch mô xơ

giác mạc, tiến hành áp MMC:

- Dùng MMC nồng độ 0,02% (0,2mg/ml)

bằng cách hòa tan lọ MMC 2mg với 10ml dung

dịch muối đẳng trương (NaCl 0,9%)

- Dùng tâm bông vô trùng nhúng vào dung

dịch MMC 0,02% sau đó áp lên vùng củng mạc

đã bộc lộ khoảng 3 phút, xong rửa liên tục nhẹ

nhàng với 50ml dung dịch muối đẳng trương

khoảng 3 phút(2)

- Tránh áp MMC vào bờ kết mạc(2)

Tạo vạt kết mạc: Kỹ thuật của Arruga

Hình 1: Tạo vạt kết mạc rìa trên (Pterygium Surgery,

2000: 77 – 78)

Hình 2: Trượt vạt kết mạc và khâu cố định

(Pterygium Surgery, 2000: 77 – 78)

Vạt kết mạc sẽ được lấy từ kết mạc nhãn cầu phía trên bằng cách cắt một cách tỉ mỉ chạy dọc theo rìa phía trên rồi bẻ ngoặc ra sau và ra giữa hướng về phía cùng đồ kết mạc(2) Vạt kết mạc được tách khỏi củng mạc bên dưới rồi trượt (tịnh tiến) xuống dưới và được khâu vào vùng mộng đã cắt bỏ(2) Khâu: 2 mũi khâu rời, cố định mép rìa trên của vạt kết mạc vào củng mạc bên dưới và cũng cách rìa 2mm Các mũi khâu tiếp theo là khâu hai mép kết mạc lại với nhau(10)

Đánh giá

Đánh giá kết quả sau mổ với các mốc thời gian: sau một tuần, 1 tháng, 3 tháng và 6 tháng Bệnh nhân được đo thị lực, nhãn áp, test Fluoresein, và được khám cẩn thận để phát hiện các biến chứng xảy ra như hoại tử mảnh ghép kết mạc, nhiểm trùng vết mổ, viêm củng mạc

hoại tử, thủng nhãn cầu,

Mỗi thời điểm tái khám tình trạng mắt đều

được chụp ảnh lưu trử trong hồ sơ

Tái phát được xác định khi mô sợi mạch

xâm lấn vào giác mạc trên 1,5mm

Các số liệu được phân tích và xử lý bằng phần mềm chương trình thống kê SPSS 11.5 for Windows Kết quả được trình bày, minh họa dưới dạng tần số, tần xuất qua biểu đồ So sánh giữa các nhóm sử dụng phép kiểm Chi Square test hoặc t-test, p<0,05 có ý nghĩa thống kê

KẾT QUẢ Các đặc điểm dịch tễ lâm sàng của mẫu nghiên cứu

Bảng 1: Các đặc điểm dịch tễ lâm sàng của mẫu

nghiên cứu

Đặc điểm dịch

tễ

Lô chứng Lô nghiên

cứu

Chung 2 lô P

Trang 4

>60 7 15,9 8 17 15 17

Nhóm tuổi 40 – 60 nhiều nhất Giới nữ

mắc nhiều hơn nam (65,9 so với 34,1%) Mộng

độ 3 chiếm đa số trong mẫu nghiên cứu (84%)

Hình thái mộng thân dày chiếm gần 50% các

trường hợp

Hai lô nghiên cứu có tất cả đặc điểm khảo

sát tương đồng nhau

Trong số 88 mắt đủ các tiêu chí nghiên cứu

có 56 nữ (66,7%) và 28 nam (33,3%) Tuổi từ 30

đến 70 trung bình là 52,3 (SD=9,11)

Sự thay đổi thị lực

Trong 21 bệnh nhân tăng thị lực sau mổ lô

chứng có 11/44 bệnh nhân (25%) và lô nghiên

cứu có 10/44 bệnh nhân (22,7%) Không có

trường hợp nào bị giảm thị lực Sự khác biệt về

thị lực sau mổ ở 2 lô không có ý nghĩa thống kê,

Chi-Square Test p=0,80

Tăng nhãn áp

Ở 2 lô nghiên cứu không ghi nhận trường

hợp nào tăng nhãn áp sau mổ

Sự kích thích

Diễn tiến sự kích thích mắt ở các thời điểm 1

tuần và 1 tháng của lô nghiên cứu nhiều hơn lô

chứng, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (T Test

p=0,001) Ở các thời điểm 3 tháng và 6 tháng chỉ còn số ít trường hợp bị kích thích nhẹ không có

sự khác biệt (T Test p=0,51 và p=0,32)

Sự tổn thương giác mạc

Đánh giá qua test Fluorescein (+) Test Fluorescein dương tính nhiều hơn ở

lô nghiên cứu so với lô chứng Như vậy, sự tổn thương giác mạc ở lô nghiên cứu nhiều hơn Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê,

Chi-Square Test p=0,035

So sánh tỷ lệ tái phát

93.2% 93.2%

6.8% 6.8%

0.0%

10.0%

20.0%

30.0%

40.0%

50.0%

60.0%

70.0%

80.0%

90.0%

100.0%

% TỔNG SỐ BỆNH NHÂN

Không tái phát Tái phát

Lô chứng

Lô Nghiên Cứu

Biểu đồ 1: So sánh tỷ lệ tái phát ở thời điểm 6 tháng

sau mổ của 2 lô nghiên cứu

Tỷ lệ tái phát của 2 lô bằng nhau ở thời điểm sau mổ 6 tháng là 6,8%

Lô chứng và lô nghiên cứu đều có 44 mộng, tái phát 3 (6,8%), không có sự khác biệt

có ý nghĩa thông kê, cả hai lô không có trường hợp nào bị tăng nhãn áp, thay đổi thị lực tương đồng nhau p>0,05

Khảo sát các yếu tố nguy cơ liên quan đến tái phát

Bảng 2: Các yếu tố nguy cơ liên quan đến tái phát

Yếu tố Không tái phát Tái phát P

Trang 5

Trung gian 39 87,2 0 0

Tổn thương giác

mạc

0,012

Các yếu tố độ tuổi, kích thích kéo dài sau

mổ, hình thái mộng, sự tổn thương giác mạc

đều có liên quan đến tái phát Sự khác biệt có ý

nghĩa thống kê Chi Square test p<0.05

BÀN LUẬN

Qua khảo sát yếu tố dịch tễ và lâm sàng cho

thấy tần xuất mắc mộng thịt ở nữ cao hơn nam,

mộng độ 3 và hình thái mộng thân dày là đặc

thù của bệnh mộng thịt ở Bến Tre

Cả 2 phương pháp tiến hành đều thu được

kết quả tương đương nhau và không có sự khác

biệt (Chi-Square Test p=0,96), mỗi lô có trên 70%

kết quả tốt (đạt yêu cầu thẩm mỹ cao), 20% kết

quả đạt (yếu tố thẩm mỹ chỉ đạt tương đối), tỷ lệ

tái phát của mỗi lô nghiên cứu là 6,8% Kết quả

tỷ lệ tái phát của nghiên cứu nầy cũng tương tự

như các nghiên cứu của các tác giả trong và

ngoài nước về phẫu thuật mộng

Tuy có một số tác dụng phụ liên quan tới

MMC trong nhóm nghiên cứu như tổn thương

biểu mô giác mạc và kích thích mắt sau mổ

nhưng những ảnh hưởng của nó chỉ tồn tại

trong vòng 1-2 tuần đầu và không xảy ra các

biến chứng nặng nề ảnh hưởng đến thị lực của

bệnh nhân như hoại tử củng mạc, nhiểm trùng

hậu phẫu, viêm loét giác mạc, thải loại mảnh

ghép(4,8) Nghiên cứu của chúng tôi cũng tương

tự các nghiên cứu khác

Phương pháp Arruga(2) đảm bảo phục hồi

cấu trúc bình thường của vùng rìa nhằm tạo một

rào cản ngăn chặn sự tái phát của mộng thịt

bằng vai trò của tế bào mầm, thực chất phương

pháp nầy không khác biệt lắm so với phương

pháp ghép kết mạc rời nhưng về mặt kỹ thuật có

một số điểm dễ dàng hơn

Vạt kết mạc không bị cắt rời nên dinh dưỡng

của vạt kết mạc đầy đủ không có nguy cơ hoại

tử vạt kết mạc, đặc biệt không sợ hoại tử sau khi

áp MMC

Nghiên cứu của chúng tôi cũng tương tự nhiều nghiên cứu sử dụng MMC trong phẫu thuật điều trị mộng, không ghi nhận một biến chứng trầm trọng nào, và báo cáo kết quả tái phát giảm khác biệt với nhóm không áp MMC(6,12,13,16)

Liên quan đến sự tái phát có nhiều yếu tố tác động vào như độ tuổi nhỏ hơn 40 tuổi, kích thích kéo dài sau mổ, hình thái mộng thân dày

và sự chậm lành sẹo giác mạc Trong đó 2 yếu tố nguy cơ giữ vai trò chính yếu liên quan đến sự tái phát là độ tuổi nhỏ hơn 40 tuổi và sự kích thích kéo dài trên 3 tháng sau mổ

KẾT LUẬN

Đề tài được tiến hành từ tháng 8/2010 đến tháng 8/2011, gồm tổng số 88 mộng thịt nguyên phát của 84 bệnh nhân được phẫu thuật tại BV Nguyễn Đình Chiểu, Bến Tre, chia làm 2 lô, lô 1

là lô chứng thực hiện phương pháp ghép kết mạc rìa tự thân, lô 2 là lô nghiên cứu thực hiện phương pháp xoay vạt kết mạc kết hợp áp MMC Qua kết quả nghiên cứu, chúng tôi xin nêu những kết luận như sau:

- Tỷ lệ mắc bệnh ở nữ cao hơn nam và hình thái mộng thân dày là đặc điểm dịch tễ nổi bật của cư dân tỉnh Bến Tre

- Kết quả nghiên cứu phương pháp xoay vạt kết mạc kết hợp áp MMC tỷ lệ thành công 93,2%, tỷ lệ tái phát của mộng thịt 6,8%, và là phương pháp an toàn, đơn giản, không gây biến chứng trầm trọng nào Kết quả tương đương với phương pháp phức tạp hơn là ghép kết mạc rời

- Các yếu tố nguy cơ chính yếu liên quan đến khả năng tái phát như dưới 40 tuổi và kích thích kéo dài trên 3 tháng sau mổ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

techniques for pterygium surgery” Clin Ophthalmol, 3: 69 – 74

Slack: 3 – 4, 7 – 9, 11, 15, 17, 27 – 28, 33 – 34, 37 – 42, 43 – 45, 85 –

88, 73 – 75

Trang 6

3 Cardillo JA (1995) “Single Intraoperative Application Verus

Postoperative Mitomycin-C Eye Drops in Pterrygium”

Ophthalmology, 102: 1949 – 1952

limbal-conjunctival autograft transplantation for management of

recurrent Pterygium” Clin Ophthalmol, 5: 123 – 127

Degenerations” In: Yanopp Durker, Opthalmology, Second

Edition: 248 – 249

A (2006) “Conjunctival autografting combined with low-dose

mitomycin C for prevention of primary pterygium recurrence”

Am J Ophthalmol, 141(6): 1044 – 1050

Mohamed Z (2011) ”Preoperative Subconjunctival Injection of

Mitomycin C Versus Intraoperative Topical Application as an

Adjunctive Treatment for Surgical Removal of Primary

Pterygium” Middle East Afr J Ophthalmol, 18(1): 37 – 41

of three methods for the treatment of Pterygium: Amniotic

membrane graft, Conjunctival autograft and Conjunctival

autograft plus Mitomycin C” Clinical research: 5 – 13

pterygium: Role of limbal stem cells and conjunctival autograft

transplantation” Oman J Ophthalmol, 2(1): 23 – 26

subconjunctival 5-fluorouracil in the management of recurring pterygium” Br J Ophthalmol, 91(3): 398 – 399

pterygium: long term evaluation” Br J Ophthalmol, 88(11): 1425 – 1428

“Combined mitomycin C application and free flap conjunctival autograft in pterygium surgery” Cornea, 22(7): 598 – 603

conjunctival flap transposition" and intraoperative low-dose mitomycin C in the treatment of primary pterygium” Clin Experiment Ophthalmol, 34(3): 219 – 25

“Pterygium Surgery with Mitomycin and Tarsorrhaphy” Trans

Am Ophthalmol Soc, 103: 108 – 115

randomised trial comparing 0,02% Mitomycin C and limbal conjunctival autograft after excision of primary pterygium” Br J Ophthalmol, 88(8): 995 – 997

(2009) “Prospective study on the safety and efficacy of combined conjunctival rotational autograft with intraoperative 0.02% mitomycin C in primary pterygium excision” Cornea; 28(2): 166 – 169

Ngày đăng: 23/01/2020, 06:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm