1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Trường hợp lâm sàng về điều trị nhiễm khuẩn trong viêm xương tủy mạn bàn chân đái tháo đường ‐ hướng dẫn điều trị của Hiệp Hội Bệnh Nhiễm khuẩn Hoa Kỳ

6 75 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 430,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Viêm xương tủy mạn tính có kèm tổn thương mô mềm là lý do nhập viện thường gặp ở người bệnh đái tháo đường, và là vấn đề nan giải cho các bác sĩ chỉnh hình lẫn đái tháo đường. Để áp dụng lâm sàng chiến lược điều trị nhiễm khuẩn dựa vào hướng dẫn chẩn đoán và điều trị nhiễm khuẩn bàn chân đái đái đường của Hiệp Hội Bệnh Nhiễm khuẩn Hoa Kỳ 2012, bài viết trình bày một trường hợp lâm sàng viêm xương tủy bàn chân đái tháo đường.

Trang 1

TRONG VIÊM XƯƠNG TỦY MẠN BÀN CHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG ‐   HƯỚNG DẪN ĐIỀU TRỊ CỦA HIỆP HỘI BỆNH NHIỄM KHUẨN HOA KỲ 2012 

Lê Tuyết Hoa* 

TÓM TẮT 

Viêm xương tủy mạn tính có kèm tổn thương mô mềm là lý do nhập viện thường gặp ở người bệnh đái tháo  đường (ĐTĐ), và là vấn đề nan giải cho các bác sĩ chỉnh hình lẫn đái tháo đường. Điều trị kinh điển vẫn là  kháng sinh (KS) thích hợp dài ngày, phẫu thuật dẫn lưu nhiều lần và chăm sóc vết thương tích cực. Để áp dụng  lâm sàngchiến lược điều trị nhiễm khuẩn dựa vào Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị nhiễm khuẩn bàn chân ĐTĐ  của Hiệp Hội Bệnh Nhiễm khuẩn Hoa Kỳ 2012, bài viết trình bày một trường hợp lâm sàng viêm xương tủy bàn  chân đái tháo đường. 

Từ khóa: viêm xương tủy mạn, đái tháo đường. 

ABSTRACT 

CHRONIC OSTEOMYELITIS ASSOCIATED WITH SOFT‐TISSUE OF DIABETIC FOOT 

INFECTIONS REGARDING THE APPLICATION OF 2012 INFECTIOUS DISEASES SOCIETY OF 

AMERICA 

 Le Tuyet Hoa * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3 ‐ 2013: 178 ‐ 183 

Chronic osteomyelitis associated with soft‐tissue defect is not an uncommon complication in diabetic foot. It 

is one of the most severe problems that both orthopaedic surgeons and diabetologist face. It typically requires a  strategic  treatment  protocol  that  involves  multiple  operations,  long‐term  antibiotic  use,  and  thorough  wound  care.  To  encourage  the  clinical  use  of  evidence‐based  treatment,  we  report  the  case  of  a  diabetic  patient  with  chronic osteomyelitis in foot  regarding  the  application  of  2012  Infectious  Diseases  Society  of  America  Clinical  Practice Guideline for the Diagnosis and Treatment of Diabetic Foot Infections. 

Keywords: Chronic osteomyelitis, diabetes. 

TRƯỜNG HỢP LÂM SÀNG 

Bệnh  nhân  nam  50  tuổi  nhập  viện  ngày 

2/3/2012 vì loét bàn chân P. Bị phỏng bô xe bàn 

chân  P  5  tuần  trước,  điều  trị  ngoại  trú  tại  BV 

quận nhưng vết thương vẫn nhiều dịch hôi phải 

nhập BV thành phố. Bệnh nhân biết ĐTĐ 4 năm, 

viêm  gan  siêu  vi  C  8  năm,  thường  uống  rượu, 

hút thuốc lá.  

Lúc  nhập  viện  M  80,  T  370C,  HA  110/70, 

cân  nặng  65kg;  bàn  chân  P  sưng  to,  loét  ở  bờ 

trong  bàn  chân  P  cách  gốc  ngón  1  3cm,  kích 

thước  3x3cm,  tiết  dịch  hôi,  vùng  da  xung 

quanh đỏ lan rộng (độ Wagner 4). Xét nghiệm 

cho  thấy  Hb  11.4g/dL,  bạch  cầu  22.200  (đa  nhân  trung  tính  18.100),  TC  140.000,  glucose  máu 385mg/dL, AST 139 ALT 139, albumin 29.  X‐quang bàn chân có gãy hủy xương bàn ngón  1P  (hình  1).  Siêu  âm  mạch  máu  chi  dưới  ghi  nhận hẹp nhẹ từ đùi đến mạch chày sau bên P 

và mắc cá trong đến mu chân T, không đo chỉ 

số ABI. Cấy mủ lần 1: E. coli.  

Điều trị từ 3– 17/3/12 với insulin, dalacin tĩnh  mạch  và  gentamycin,  cắt  lọc  tháo  nhiều  mủ  và  gặm chỏm xương bàn ngón 1. 10 giờ sau mổ lần 

2  BN  than  mệt,  lạnh  run,  vã  mồ  hôi  T039,  HA  90/60, M 126 lần/ph, thở co kéo, phổi nhiều ran 

* Bộ môn Nội ‐ Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch 

Trang 2

sốc  nhiễm  khuẩn/viêm  xương  tủy  bàn  chân  P‐ 

ĐTĐ  típ  2‐  Viêm  gan  siêu  vi  C  mạn  tính.  Xét 

nghiệm  lúc  này:  HCO3  7,2  mmol/L,  lactate 

12,5ng/mL (BT 0,5 ‐  2,2  mmol/L),  AST  115  ALT 

39,  glucose/máu  59  mg/dL,  creatinine  214 

μmol/L. Cấy mủ lần 2 S. aureus coagulase (‐) và 

Klesiela pneumonia; cấy máu âm tính. Bệnh nhân 

được hồi sức tích cực, đổi kháng sinh imipenem 

và  vancomycin.  Ra  khỏi  sốc  sau  3  ngày,  vết 

thương cạnh trong bàn chân P từ gốc ngón 1 đến 

gần mắt cá trong, 14cm x 4cm x sâu 6cm, nhiều 

mủ vàng mô hoại tử rất hôi, hai bàn chân sưng  nhiều (phân độ loét 3B theo thang điểm của Đại  học  Texas).  Tuy  động  mạch  mu  chân  và  chày  sau không bắt được nhưng bàn chân ấm và khi  cắt lọc có máu chảy nên ít nghĩ BN có bệnh động  mạch  ngoại  biên.  Từ  22/3  đến  23/4/12,  vancomycin  kết  hợp  Piperacin/Tazobactam  và  săn  sóc  vết  thương  tích  cực.  Mô  hoại  tử  giảm, 

mô  hạt  đầy  dần,  bàn  chân  bớt  sưng  (hình  3),  động mạch mu chân và chày sau bắt rõ, BN ăn  uống  tốt  được  xuất  viện.  Theo  dõi  4  tháng  sau  bàn chân lành tốt. 

 

 

Hình 1. Hủy xương bàn ngón 1 chân P  Hình 2. Sang thương loét sạch mủ, ít mô hạt. Bàn chân còn sưng nhẹ 

(chụp ngày 3/4/2012) 

BÀN LUẬN DỰA THEO KHUYẾN CÁO IDSA 

2012 

Chẩn đoán viêm xương tủy 

Trước tiên xin trình bày phân loại độ mạnh 

của khuyến cáo và chất lượng của chứng cứ đề 

cập  trong  Hướng  dẫn  mới  năm  2012  về  Chẩn 

đoán  và  Điều  trị  Nhiễm  khuẩn  bàn  chân  ĐTĐ 

của  Hiệp  Hội  các  bệnh  Nhiễm  khuẩn  Hoa  Kỳ 

(IDSA)(8). 

‐  Khuyến  cáo  mạnh,  mức  độ  chứng  cứ  cao:  áp 

dụng  cho  hầu  hết  BN.  Nếu  có  thêm  những  kết 

quả nghiên cứu, khó thay đổi độ tin cậy khi xem 

xét để thay đổi thực hành (mạnh/cao). 

‐  Khuyến  cáo  mạnh,  mức  độ  chứng  cứ  trung 

bình: áp dụng cho hầu hết BN. Có thêm nghiên 

cứu khác có thể tác động đến độ tin cậy khi ước 

tính  ảnh  hưởng,  và  có  thể  làm  thay  đổi  thực 

hành (viết tắt là mạnh/trung bình). 

‐  Khuyến cáo mạnh, mức độ chứng cứ thấp:  có 

thể  thay  đổi  khuyến  cáo  nếu  có  thêm  bằng  chứng  chất  lượng  cao  hơn.  Nghiên  cứu  thêm  nữa có thể tác động đến độ tin cậy khi ước tính  ảnh  hưởng  và  có  thể  thay  đổi  xem  xét 

(mạnh/thấp). 

‐ Khuyến cáo yếu, mức độ chứng cứ cao: có thể 

thay  đổi  hành  động  tạm  cho  là  tốt  tùy  tình  huống hoặc tùy qui ước xã hội. Nghiên cứu hơn  nữa không thay đổi độ tin cậy khi ước  tính  tác 

động (yếu/cao). 

‐ Khuyến cáo yếu, mức độ chứng cứ trung bình: 

cách tiếp cận khác có thể tốt hơn cho một số BN  trong  vài  tình  huống.  Nghiên  cứu  thêm  có  thể 

Trang 3

thể phải thay đổi khuyến cáo. 

‐  Khuyến  cáo  yếu,  mức  độ  chứng  cứ  thấp: 

những điều trị khác vẫn cho phép. 

Đây là trường hợp nhiễm khuẩn bàn chân ở 

người ĐTĐ sau một chấn thương trực tiếp. Chẩn 

đoán  viêm  xương  tủy  mạn  được  đưa  ra  vì  lâm 

sàng  có  một  loét  nhiễm  khuẩn  lâu  lành  (>  4 

tuần),  bạch  cầu  tăng  và  X  quang  bàn  chân  có 

hình ảnh hoại tử xương (khuyến cáo mạnh, mức độ 

chứng cứ trung bình). Bất kỳ một vết thương bàn 

chân hở trên người ĐTĐ cần phải thăm dò bằng 

que  để  đánh  giá  đầy  đủ  tình  trạng  vết  thương, 

và là một thực hành được khuyến cáo mạnh để 

xác định sớm một viêm xương tủy nếu nghi ngờ 

(mạnh,  trung  bình).  Sau  đó  cần  thiết  có  một  X 

quang bàn chân, đây là phương tiện chẩn đoán 

viêm xương tủy rẻ tiền, dễ thực hiện cho tất cả 

các trường hợp kể cả giai đoạn sớm dù độ nhạy 

và độ đặc hiệu thấp (yếu, trung bình), mà không 

cần đến MRI bàn chân.  

Xác định tác nhân gây bệnh 

Xét nghiệm vi sinh dịch tiết hoặc mủ để xác 

định tác nhân gây bệnh và sự nhạy cảm kháng 

sinh luôn cần thiết. Nhưng đối với viêm xương 

tủy  mạn,  từ  khuyến  cáo  năm  2004  đến  nay, 

IDSA vẫn cho rằng cấy xươngcó giá trị hơn cấy 

mủ  trong  định  danh  vi  khuẩn  (mạnh,  trung 

bình)(8).  Trong  lúc  mổ,  phẫu  thuật  viên  nên 

nạo/gặm xương chết và gởi mẫu đi cấy hoặc xét 

nghiệm  mô  học  (mạnh, thấp). Thực  tế  các  cơ  sở 

vẫn chỉ cấy mủ cho những BN ĐTĐ viêm xương 

mạn, không cấy xương. Do vi khuẩn tìm thấy ở 

xương  và  phết  mủ  không  hoàn  toàn  như  nhau 

dẫn đến dùng kháng sinh không phù hợp(13).  

Tiến triển xấu của vết thương và bệnh cảnh 

sốc  nhiễm  khuẩn  cho  thấy  ở  bệnh  nhân  này 

kháng  sinh  ban  đầu  không  hiệu  quả  đối  với 

E.coli  (nhưng  lại  được  dùng  >  10  ngày).  Sau  2 

ngày  dùng  KS  phải  đánh  giá  lại  vết  thương  và 

toàn trạng người bệnh, xem xét mức độ đáp ứng 

KS,  cân  nhắc  đổi  sớm  nếu  lâm  sàng  không  cải 

thiện (không chờ KSĐ) và hoặc cấy mủ lần hai. 

Cấy  lần  2  ra  S.aureus  kháng  methicillin  và 

Klebsiella  kháng  nhiều  kháng  sinh  (chủng  tiết 

ESBL‐bảng 1) nghi ngờ BN bị nhiễm khuẩn bệnh  viện.  Nhiễm  đa  khuẩn  làm  việc  điều  trị  thêm  khó khăn. 

Bảng 1. Kết quả cấy mủ lần 2 và tính nhạy cảm 

kháng sinh của bệnh nhân 

Lần 1

E.coli

Lần 2

K.pneumonia

Lần 2 S.aureus coagulase (-)

Cefotaxim S

Piperacillin/

Ticarcilin/

  (Nhạy: S, Kháng: R, Trung gian: I) 

Phần  lớn  những  chứng  cứ  về  chọn  lựa  KS  điều  trị  nhiễm  khuẩn  bàn  chân  đều  từ  những  nghiên  cứu  ở  các  nước  phát  triển.  Tác  nhân  nhiễm khuẩn bàn chân ĐTĐ ở giai đoạn sớm nổi  bật  là  các  cocci  Gr+  hiếu  khí  (thường  là 

Staphylococcus aureus  và  Streptococcus  tiêu  huyết 

beta)(8);  nhưng  với  nhiễm  khuẩn  dai  dẳng  hoặc  người bệnh đã được điều trị kháng sinh ở tuyến  trước  (đã  làm  sạch  vi  khuẩn  Gr+  ban  đầu)  thì  phổ khuẩn là Gr+ kết hợp với Gr‐ hiếu khí. Lúc  này nguy cơ chọn lọc dòng Gr+ kháng thuốc rất  cao(7,8,10). Riêng những vết loét hoại tử nhiều hoặc 

có tắc hẹp mạch máu, có thể hiện diện vi khuẩn 

kỵ khí. Một ít trường hợp cấy đa khuẩn nhưng 

do ngoại nhiễm hoặc vi khuẩn  thường  trú…  vì  vậy cân nhắc để nhận ra tác nhân sinh bệnh thực 

Trang 4

sự.  Ở  đây  phương  pháp  lấy  mẫu  cấy  chuẩn  là 

rất  quan  trọng:  lấy  mẫu  mô,  nạo  mô/xương, 

chọc hút mủ sâu có giá trị cao hơn là lấy mủ bề 

mặt  hoặc  lấy  mủ  nhưng  không  làm  sạch  ổ  loét 

trước. 

Bảng 2. Tác nhân gây nhiễm khuẩn bàn chân 

Nhiễm khuẩn

bàn chân Tác nhân gây bệnh

Viêm mô tế bào, không

có vết thương hở

Streptococcus tiêu huyết βa,

Staphylococcus aureus

Loét nhiễm khuẩn và

chưa dùng KS

Thường đơn khuẩn:

Staphylococcus aureus,

Streptococcus tiêu huyết β Loét nhiễm khuẩn mạn

tính hoặc trước đã điều

trị bằng KS

Streptococcus tiêu huyết β,

Staphylococcus aureus

Enterobacteriaceae

Loét mủn do ngâm nước Pseudomonase aeruginosahợp với những vi khuẩn khác) (kết

Loét không lành kéo dài

có dùng KS phổ rộng

Thường đa khuẩn và có chủng kháng thuốc cocci Gr+ hiếu khí

(Streptococcus tiêu huyết β,

Staphylococcus aureus

Enterococci ), Enterobacteriaceae,

Pseudomonase spp., chuỗi Gr- không lên men, nấm Bàn chân có mùi hôi,

hoại tử hay hoại thư lan

rộng

Đa nhiễm cocci Gr+ hiếu khí gồm

cả enterococci,

enterobacteriaceae, chuỗi Gr- không lên men, kỵ khí

a.Streptococcus nhóm A,B,C và G (Nguồn: Lipsky 

B A et al. Clin Infect Dis. 2004; 39:885‐891 (7) ). 

Qua  các  nghiên  cứu  ở  Châu  Á,  tác  nhân 

phân lập từ nhiễm khuẩn bàn chân ĐTĐ tại các 

trung tâm ĐTĐ thường là Gr‐. Tại Ấn Độ, 64% là 

khuẩn  Gr+,  30%  là  Gr‐(12);  Gadepalli  ghi  nhận 

13,8%  Gr+  và  28,7  %  Gr‐  trên  183  mẫu  cấy(2); 

Shankar  báo  cáo  Gr+  33,3%,  hiếu  khí  Gr‐ 

51,4%(14).  Những  nghiên  cứu  từ  Malaysia,  Gr‐ 

chiếm 52% (Proteus spp, K. pneumoniae, E. coli và 

Enterobacter  cloacae)(11).  Khảo  sát  tại  Bệnh  viện 

Chợ  Rẫy  năm  2011  phân  lập  được  trên  50  loét 

bàn  chân  ĐTĐ  thì  cocci  Gr+  41,9%,  trực  khuẩn 

Gr‐ 56,5%(6). 

Chọn lựa kháng sinhtheo chứng cứ 

Nhiễm khuẩn bàn chân trên BN này là nặng 

do tổn thương loét sâu đến xương, kèm theo sốt, 

bạch cầu máu hơn 12.000 và viêm gan mạn tính. 

Kháng  sinh  cần  chỉ  định  sớm,  thích  hợp.  Bệnh 

nhân  này  được  chỉ  định  kháng  sinh  ban  đầu 

không hợp lý, nên diễn tiến nặng đến sốc nhiễm  khuẩn là điều khó tránh. Khuyến cáo của IDSA  chọn KS mạnh phổ rộng cho nhiễm khuẩn nặng 

(trung  bình,  thấp);  và  khi  có  kháng  sinh  đồ  cần 

xem xét nên tiếp tục hay đổi KS, với nguyên tắc  chọn  KS  phổ  hẹp  và  an  toàn  nhất  cho  người  bệnh nhằm hạn chế đề kháng KS.  

Ngay từ khi chưa có kết quả cấy, khả năng 

BN  này  nhiễm  cocci  Gr+  và  nhất  là  MRSA  rất  cao do nhiễm khuẩn kéo dài và dùng nhiều KS  trước đó. Vì vậy khởi dùng vancomycin kết hợp  với một thuốc ức chế tiết beta lactamase ngay từ  đầu sẽ hợp lý hơn dalacin và gentamycin. Theo  bảng  1,  MRSA  nhạy  với  levofloxacin  nhưng  không  có  nhiều  bằng  chứng  về  hiệu  quả  của  levofloxacin  trên  MRSA  mắc  phải  trong  bệnh  viện(1);  MRSA  cũng  nhạy  immipenem  (bảng  1),  nhưng trên lâm sàng không dùng imipenem cho 

S.aureus.  Với  Klebsiella  pneumonia  kháng  thuốc 

trên BN này, tigecycline hay carbapemem là lựa  chọn  đầu  tiên,  hoặc  thay  thế  bằng  piperacillin/  tazobactam. 

Tại Hội  Nghị  thường  niên  về  Bàn  chân  Đái  Tháo Đường (California, Hoa Kỳ) năm 2011, các  chuyên gia khuyến cáo đối với nhiễm khuẩn mô  sâu,  và  hoặc  cấy  xương  mọc  MSSA  và 

Streptococcus  tiêu  huyết  β  nên  khởi  trị  với 

vancomycin  và  piperacillin/tazobactam(3).  Nhiễm  MRSA  trung  bình‐nặng,  dùng  vancomycin, linezolide (TM/uống), daptomycin.  Tháng  9/2010  FDA  đã  chấp  thuận  ceftaroline,  một  cephalosporine  thế  hệ  thứ  5  cho  nhiễm  khuẩn  da‐mô  mềm  có  biến  chứng.  Ceftaroline 

hiệu quả trên S. aureus đa kháng, các trực khuẩn  Gr‐ nhưng không tác dụng trên Pseudomonas hay 

vi  khuẩn  tiết  ESBL  (extended‐spectrum  beta  lactamse) và rất hạn chế với kỵ khí. Hiện nay ghi  nhận  vi  khuẩn  Gr‐  tiết  carbapenemase  không  nhiều  nhưng  có  xu  hướng  tăng  trong  nhiễm  khuẩn bàn chân ĐTĐ(3).  

Đừng quên tham khảo KS đã dùng ở tuyến  trước và số liệu về tính nhạy cảm KS sẵn có tại 

cơ sở để chọn KS phù hợp. Những báo cáo đến 

từ khu vực Châu Á cho thấy vi khuẩn tiết ESBL 

Trang 5

Tại BV Chợ Rẫy, E.coli ESBL chiếm đến 44%; vi 

khuẩn Gr âm nhạy kém với gentamicin (31%) và 

fluoroquinolones  (40%),  còn  nhạy  khá  với 

cephalosporins thế hệ thứ 3 (> 60%), thế hệ thứ 4 

(77%),  nhạy  cao  với  carbapenem  (>90%)  và 

neltimicin  (93%).  Dòng  S.  aureus  kháng  với 

oxacillin  hay  ciprofloxacillin  tỉ  lệ  nhạy  chỉ  26%; 

trimethoprim/sulfamethoxazol  hay  fosfomycin 

(> 80%) và vancomycin (100%)(6).  

Đường dùng, thời gian dùng KS 

Vì  là  nhiễm  khuẩn  nặng  nên  bệnh  nhân 

được chích KS 4 tuần. Dù liệu trình chuẩn được 

khuyến  cáo  là  6  tuần,  nhưng  chứng  cứ  về  thời 

gian dùng KS cho viêm xương mạn tính còn khá 

ít,  chỉ  dựa  vào  thực  nghiệm  ở  chuột  và  một  số 

nghiên cứu trên người với cỡ mẫu nhỏ. Hướng 

dẫn  cũ  năm  2004,  các  chuyên  gia  đồng  thuận 

nếu đảm bảo lấy hết xương chết, thời gian dùng 

KS cho phép ngắn hơn (trung bình, trung bình)(7). 

Hướng dẫn mới này khuyến cáo một khi loại bỏ 

tích cực không còn mô mềm hoại tử, KS có thể 

dùng  thời  gian  ngắn  2‐5  ngày  (mạnh,  thấp); 

nhưng nếu nhiễm khuẩn kéo dài hoặc có hoại tử 

xương, KS cần ≥ 4 tuần (thấp, thấp).  

Chưa đủ chứng cứ đường dùng KS như thế 

nào là tốt nhất cho viêm xương tủy. Thời gian và 

đường  dùng  KS  thay  đổi  tùy  tình  huống  lâm 

sàng và xét nghiệm vi khuẩn học, nghĩa là mức 

độ nhiễm khuẩn. Lấy đủ xương chết, khả năng 

sống của xương viêm cao, tưới máu xương đầy 

đủ và biết rõ tác nhân gây bệnh là những yếu tố 

giúp quyết định liệu trình KS và cách dùng KS 

tối  ưu(4).  Nếu  còn  sót  xương  chết,  nguy  cơ  tái 

phát rất cao, khi đó KS phải dùng hơn 6 tuần và 

theo dõi BN ít nhất 1 năm(4). Do vậy dài hơn hay 

ngắn  hơn  4‐6  tuần  là  tùy  trường  hợp.  Việc  áp 

dụng 6 tuần cho tất cả BN có thể sẽ khiến điều 

trị quá tay hoặc chưa đạt yêu cầu. 

Kháng sinh không nhất thiết phải chích tĩnh 

mạch  4‐6  tuần,  có  thể  2  tuần  rồi  chuyển  uống. 

Nên chọn KS uống vào được xương và sinh khả 

dụng  cao.  Quyết  định  chuyển  sang  uống  hoàn  toàn dựa trên đánh giá lâm sàng. 

Can  thiệp  phẫu  thuật:  thời  điểm  và  phương thức? 

Tích  cực  loại  bỏ  ổ  nhiễm  khuẩn,  gặm  bỏ  xương chết, dẫn lưu mủ hàng ngày, có thể phải  cắt  lọc  vài  lần  tại  phòng  mổ  nếu  nhiễm  khuẩn  không  cải  thiện.  Kháng  sinh  không  thể  đủ  nếu 

không  chăm  sóc  vết  thương  thích  hợp  (mạnh, 

thấp).  Can  thiệp  chỉnh  hình  khẩn  cấp  hay  bán 

khẩn trên BN này can thiệp phẫu thuật ở mức ít  khẩn  cấp  (đối  với  loét  hoại  tử  mô,  áp  xe  hoặc 

viêm  cân  hoại  tử,  viêm  xương  khớp)  (mạnh, 

thấp).  Chỉ  mổ  khẩn  khi  nhiễm  khuẩn  sinh  hơi. 

Nếu BN có bệnh động mạch ngoại biên, cần hội  chẩn với phẫu thuật viên mạch máu sớm và xem  xét tái thông mạch máu nhằm đảm bảo lành vết 

thương (mạnh, trung bình). 

Chăm sóc vết thương 

Chăm  sóc  vết  thương  tích  cực  là  điều  kiện  tiên quyết góp phần lành loét, bao gồm dẫn lưu 

mủ, loại bỏ mô hoại tử hàng ngày. Làm sạch bề  mặt  vết  thương  nhằm  giảm  số  lượng  vi  khuẩn 

và giảm chèn ép giúp  tăng  tưới  máu,  thuận  lợi  cho  kháng  sinh  và  oxy  đến  được  vết  thương.  Khuyến  khích  dùng  gạc  thích  hợp  tùy  thuộc  kích  thước,  độ  sâu  và  bản  chất  của  loét  (khô, 

xuất tiết, hay mủ) (mạnh, thấp). 

Theo dõi sau điều trị 

Ở  BN  này  vì  vi  khuẩn  phân  lập  lấy  từ  mủ  không  phải  là  xương  nên  dù  KS  dùng  theo  kháng sinh đồ, bác sĩ cần theo dõi ít nhất 6 tháng  viêm xươngtái phát nếu có. 

KẾT LUẬN  

Viêm  xương  tủy  bàn  chân  ở  người  ĐTĐ  là  một thách thức của người thầy thuốc. Trước một  loét bàn chân kéo dài nhiều tuần, cần cảnh giác 

có viêm xương, biết cách tiếp cận bệnh nhân và  tham khảo các khuyến cáo để ra quyết định điều  trị  phù  hợp  cho  từng  trường  hợp  (hướng  dẫn  không nhằm thay thế đánh giá lâm sàng cụ thể). 

Trang 6

1 Dang CN, Prasad YD, Boulton AJ (2003) Methicillin‐Resistant 

Staphylococcus  Aureus  In  The  Diabetic  Foot  Clinic:  A 

Worsening Problem. Diabet Med 20:159‐161. 

2 Gadepalli  R,  Dhawan  B,  Screenivas  V  (2006).  A  Clino‐

Microbiological  Study  Of  Diabetic  Foot  Ulcers  In  An  Indian 

Tertiary Care Hospital. Diab Care 29:1727‐1732. 

3 Joseph WS (2011). Drugs For Bugs Presented In The Diabetic 

Foot  Conference,  L.A.  March  2011,  Accessed  At 

Management  Of  Diabetic  Foot  Infections.  Expert  Rev  Anti 

Infect Ther, 8 (11):1293‐1305. 

Extended Spectrum Beta Lactamases Among Enterobactericeae 

spp.  Isolated  At  The  Teriary  Care  Institute.  Indian  J  Med 

Microbiol 24:208‐211. 

6 Lê  Quốc  Tuấn  (2011).  Đặc  điểm  lâm  sàng  và  vi  khuẩn  học 

trên  vết  loét  nhiễm  trùng  bàn  chân  ở  bệnh  nhân  đái  tháo 

đường  tại  bệnh  viện  Chợ  Rẫy.  Luận  văn  Bác  sĩ  Đa  khoa, 

chuyên ngành Nội tiết. Đại Học Y Dược TP. HCM. 

7 Lipsky  BA,  Anthony  R,  Benedict  H  (2004).  Diagnosis  And 

Treatment  Of  Diabetic  Foot  Infections.  Clin Infect Dis  39:885‐

891. 

8 Lipsky  BA,  Berendt  AR,  Cornia  PB  (2012).  Executive 

Summary: 2012 Disease Society Of America Clinical Practice 

Giudline  Management  Guidelines  For  The  Diagnosis  And 

Treatment Of Diabetic Foot Infections. Clin Infect Dis 54:1679‐

1684. 

9 Mohannty S, Kapil A, Dhawan B  (2004)  Bacteriological  And  Antimicrobial  Susceptibility  Profile  Of  Soft  Tissue  Infections 

From Northern India. Indian J Med Sci 58:10‐15. 

10 Nelson SB (2009) Management Of Diabetic Foot Infections In 

An Era Of Increasing Microbial Resistance. Curr Infect Dis Rep 

11:375‐382. 

11 Raja NS (2007) Microbiology Of Dfis In A Teaching Hospital 

In Malaysia: A Retrospective Study Of 194 Cases. J Microbiol 

Immunol Infect 40:39‐44. 

12 Ramakant  B  (2011).  Changing  microbiologic  profile  of  pathogenic  bacteria  In  DFI:  Time  for  a  rethink  on  which 

empirical therapy to choose ? Diabetologia 54 (1):58‐64. 

13 Senneville  E,  Lambart  A,  Beltrand  E  (2008).  Outcome  Of 

Diabetic Foot Osteomyelitis Treated Nonsurgically. Diab Care, 

31 (4):637‐642. 

14 Shankar EM, Mohan V, Premlatha G (2006) Bacterial Etiology 

Of Dfis In South India. Eur J Intern Med 16:567‐570. 

 

 

 

 

Ngày đăng: 23/01/2020, 06:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w