1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân thoát vị đĩa đệm thắt lưng tại phòng khám ngoại trú

5 97 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 383,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại Việt Nam, các nghiên cứu đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân thoát vị đĩa đệm thắt lưng thường được thực hiện trên bệnh nhân nhập viện. Vì vậy, nghiên cứu được thực hiện tương tự trên bệnh nhân tại phòng khám ngoại trú. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết.

Trang 1

THOÁT VỊ ĐĨA ĐỆM THẮT LƯNG TẠI PHÒNG KHÁM NGOẠI TRÚ 

Đặng Lê Phương*, Phạm Anh Tuấn** 

TÓM TẮT 

Đặt vấn đề: Tại Việt Nam, các nghiên cứu đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân thoát vị đĩa đệm (TVĐĐ) thắt 

lưng thường được thực hiện trên bệnh nhân (BN) nhập viện. Vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu tương tự  trên BN tại phòng khám ngoại trú. 

Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm lâm sàng của BN TVĐĐ thắt lưng tại phòng khám ngoại trú. 

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: BN đã được chẩn đoán xác định TVĐĐ thắt lưng bằng hình ảnh 

cộng hưởng từ (CHT). BN được hỏi bệnh sử và khám các triệu chứng lâm sàng của bệnh. 

Kết  quả:  Có 75 bệnh nhân được khảo sát đặc điểm lâm sàng. Mức độ đau là 3,9±0,9 điểm, chức năng cột 

sống là 3,4±1,0 điểm. Tỉ lệ triệu chứng đau lưng là 82,7%, đau chân theo rễ thần kinh 77,3% và nghiệm pháp  Lasègue dương tính 72,0%. TVĐĐ L5S1 liên quan với giảm phản xạ gân gót (p=0,003). TVĐĐ L4L5 liên quan  với yếu cơ duỗi ngón cái dài (p=0,000), yếu cơ chày trước (p=0,002), giảm cảm giác ngón chân và mặt lưng bàn  chân (p=0,010), dị cảm chân (p=0,027). 

Kết  luận:  Đau lưng, đau chân theo rễ thần kinh, nghiệm pháp Lasègue dương tính là những triệu chứng 

hay gặp nhất ở BN TVĐĐ thắt lưng. Có thể phân biệt được TVĐĐ L4L5 và L5S1 trên lâm sàng. Đặc điểm lâm  sàng của BN tại phòng khám có điểm khác biệt với BN nội trú. 

Từ khóa: Thoát vị đĩa đệm thắt lưng, đau lưng, đau theo rễ thần kinh, nghiệm pháp Laseque. 

ABSTRACT 

SURVEY OF CLINICAL FEATURES 

OF OUT‐PATIENTS WITH LUMBAR DISC HERNIATION 

Dang Le Phuong, Pham Anh Tuan 

 * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6‐ 2014: 50 – 54 

Rationale: In Vietnam, researches of clinical features of patients with lumbar disc herniation (LDH) were 

often performed on in‐patients. Therefore, we performed a similar research on out‐patients  

Objective: To survey the clinical features of out‐patients with LDH. 

Subjects and methods: We selected patients who had been determined LDH by magnetic resonance images. 

Those patients were asked for medical history and examined. 

Results: The research included 75 patients. The level of pain was 3.9 ± 0.9 points, the level of spine function 

was 3.4 ± 1.0 points. The rate of low back pain was 82.7%, radiculopathy was 77.3% and positive Lasegue sign  was  72.0%.  L5S1  disc  herniation  was  associated  with  decreased  Achilles  tendon  reflex  (p  =  0.003).  L4L5  disc  herniation was associated with extensor hallucis longus muscle weakness (p = 0.000), with anterior tibialis muscle  weakness  (p  =  0.002),  with  decreased  sensation  of  large  toe  web  and  dorsum  of  foot  (p  =  0.010),and  with  leg  paresthesias (p = 0.027). 

Conclusions:  Back  pain,  radiculopathy,  positive  Lasegue  sign  is  the  most  common  of  LDH.  Signs  and 

symptoms are only associated with L4L5 and L5S1 disc herniation. Clinical features of out‐patients are difference 

* Bộ môn Ngoại Thần kinh Đại Học Y Dược TP. HCM  ** Bệnh viện Nguyễn Tri Phương 

Tác giả liên lạc: BS Phạm Anh Tuấn,   ĐT: 0989031007,   Email: tuandoctor2000@gmail.com 

Trang 2

from those of in‐patients. 

Keywords: Lumbar disc herniation, low back pain, radiculopathy, Laseque sign. 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

TVĐĐ  thắt  lưng  là  sự  dịch  chuyển  cục  bộ 

của nhân đĩa đệm vượt quá giới hạn của khoang 

gian đốt sống. Triệu chứng lâm sàng điển hình là 

đau theo rễ thần kinh ở mức dưới tầng thoát vị. 

Trường hợp khối thoát vị lớn chèn ép vào chùm 

đuôi  ngựa  gây  ra  hội  chứng  chùm  đuôi  ngựa. 

Hầu hết bệnh nhân đáp ứng với điều trị bảo tồn 

cũng như điều trị ngoại khoa nên chẩn đoán và 

điều  trị  sớm  giúp  bệnh  nhân  sớm  quay  trở  lại 

với công việc và sinh hoạt bình thường là vấn đề 

quan trọng. Trong thực hành lâm sàng hiện nay, 

TVĐĐ  thắt  lưng  được  chẩn  đoán  bằng  triệu 

chứng  lâm  sàng  và  được  xác  định  bằng  chụp 

cộng  hưởng  từ  (CHT)  cột  sống  thắt  lưng.  Tuy 

nhiên, không phải ở cơ sở y tế nào tại Việt Nam 

cũng  được  trang  bị  máy  chụp  CHT  nên  chẩn 

đoán  và  điều  trị  ban  đầu  dựa  vào  triệu  chứng 

lâm sàng vẫn đóng vai trò quan trọng. 

Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về triệu 

chứng  lâm  sàng  của  bệnh  TVĐĐ  thắt  lưng.  Tại 

Việt Nam, nghiên cứu về TVĐĐ thắt lưng cũng 

được chú trọng.Đa phần nghiên cứu hướng vào 

mục tiêu điều trị, còn lại là những nghiên cứu về 

chẩn  đoán  bệnh.  Trong  số  những  nghiên  cứu 

liên quan đến triệu chứng lâm sàng gần đây, đa 

số  khảo  sát  triệu  chứng  lâm  sàng  và  đặc  điểm 

hình  ảnh  CHT  ở  bệnh  nhân  TVĐĐ  thắt  lưng 

được  phẫu  thuật.  Các  nghiên  cứu  này  đã  cung 

cấp những đặc điểm của bệnh TVĐĐ thắt lưng 

tại Việt Nam, hỗ trợ cho công tác chẩn đoán và 

điều trị bệnh. 

Tuy  nhiên,  đối  tượng  nghiên  cứu  trong  các 

nghiên cứu trên đều là bệnh nhân nội trú nên có 

khả  năng  kết  quả  nghiên  cứu  không  thể  hiện 

chính xác đặc điểm lâm sàng của bệnh trên bệnh 

nhân ngoại trú trong khi lượng bệnh nhân ngoại 

trú có bệnh lại chiếm đa số. Hơn nữa, tại phòng 

khám  ngoại  trú,  việc  chẩn  đoán  chỉ  bằng  triệu 

chứng  và  dấu  hiệu  của  bệnh  lại  có  vai  trò  chủ 

yếu nên chúng tôi thực hiện nghiên cứu này. Kết 

quả của nghiên cứu sẽ làm sáng tỏ đặc điểm lâm  sàng  của  bệnh  TVĐĐ  thắt  lưng  của  bệnh  nhân  tại  phòng  khám  ngoại  trú,  đóng  góp  những  số  liệu quan trọng để làm cơ sở cho chẩn đoán khi  không  có  sẵn  những  phương  tiện  kỹ  thuật  cao  như chụp CHT. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  Đối tượng nghiên cứu 

Có 75 BN đến phòng khám được chẩn đoán  TVĐĐTL  bằng  hình  ảnh  CHT  từ  tháng  05/2014  đến tháng 08/2014. 

Phương pháp nghiên cứu 

Mô tả cắt ngang 

Tiêu chuẩn chọn mẫu 

Tiêu chí đưa vào 

Bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên. 

Có  chẩn  đoán  xác  định  là  TVĐĐTL  bằng  chụp CHT. 

Đồng ý tham gia nghiên cứu. 

Tiêu chí loại ra 

Bệnh  nhân  có  kèm  bệnh  lí  cột  sống  đi  kèm  như trượt đốt sống thắt lưng, gãy đốt sống, lao  cột sống, ung thư cột sống. 

Đã từng phẫu thuật cột sống thắt lưng. 

Từ chối tham gia nghiên cứu trong quá trình  thăm khám. 

Các bước tiến hành

Chúng tôi áp dụng tiêu chuẩn chọn mẫu để  chọn  những  bệnh  nhân  đến  khám  tại  phòng  khám Ngoại Thần kinh vào mẫu nghiên cứu. Tất 

cả  bệnh  nhân  trên  18  tuổi  đến  khám  đều  được  hỏi  đã  từng  chụp  CHT  chẩn  đoán  TVĐĐ  thắt  lưng hay chưa. Bệnh nhân có kết quả chẩn đoán  TVĐĐ  thắt  lưng  được  cung  cấp  thông  tin  về  mục  tiêu  nghiên  cứu  và  quá  trình  thu  thập  số  liệu.  Nếu  bệnh  nhân  đồng  ý  bằng  cách  ký  vào  phiếu  xác  nhận  đồng  ý  tham  gia  nghiên  cứu  chúng tôi sẽ tiến hành thu thập số liệu trên BN. 

Trang 3

nền,  triệu  chứng  cơ  năng,  triệu  chứng  thực  thể 

và  ghi  nhận  tầng  đĩa  đệm  bị  thoát  vị  trên  hình 

ảnh CHT. 

Xử lí số liệu 

Thống kê mô tả cho biến số nghiên cứu được 

tính bằng tần số và tỉ lệ phần trăm. 

Thống  kê  phân  tích  bằng  kiểm  định  chi 

bình phương. 

Nhập  và  xử  lí  số  liệu  bằng  phần  mềm 

STATA 12.0. 

KẾT QUẢ 

Phân  tích  75  trường  hợp  từ  tháng  05/2014 

đến tháng 08/2014, chúng tôi có kết quả sau: 

Tuổi  mắc  bệnh  thấp  nhất  là  21  tuổi,  cao 

nhất là 75 tuổi và trung bình là 49,7±14,3 tuổi. 

Tỉ lệ nam/ nữ là 0,97. 

Thời gian diễn tiến bệnh: 50% dưới 1 năm, 

25% từ 1 đến 5 năm, 13% từ 6 đến 10 năm và 

12% trên 10 năm. 

Mức độ đau và chức năng cột sống 

 

Biểu đồ 1: Phân bố mức độ đau và chức năng cột sống 

Theo thang điểm Duggal,  số điểm  càng  cao 

thì mức độ đau và chức năng cột sống càng xấu. 

Mức độ đau trung bình là 3,9±0,9. Chức năng cột 

sống trung bình là 3,4±1,0. 

Triệu chứng cơ năng 

 

Biểu đồ 2: Phân bố các triệu chứng cơ năng

BN  xuất  hiện  các  triệu  chứng  yếu  chân  và  triệu  chứng  bàng  quang  thường  kèm  theo  các  triệu chứng cơ năng còn lại. 

Các nghiệm pháp: 

 

Biểu đồ 3: Phân bố tỉ lệ các nghiệm pháp dương tính 

Tầng thoát vị 

 

Biểu đồ 4: Phân bố tỉ lệ các tầng thoát vị trên tổng số 

đĩa thoát vị (n=124)

0.0%

6.7%

28.0%

37.3%

28.0%

1.3%

16.0%

34.7%

33.3%

14.7%

0.0%

5.0%

10.0%

15.0%

20.0%

25.0%

30.0%

35.0%

40.0%

Mức độ đau Chức năng cột sống

82.7%

77.3%

4.0%

62.7%

1.3% 0.0%

10.0%

20.0%

30.0%

40.0%

50.0%

60.0%

70.0%

80.0%

90.0%

Đau lưng chân lan Đau  theo rễ

Yếu chânDị cảm ở 

chân

Triệu  chứng  bàng  quang

72.0%

20.0%

49.3%

0.0%

10.0%

20.0%

30.0%

40.0%

50.0%

60.0%

70.0%

80.0%

Lasègue Lasègue chéo Ấn đau

khuyết tọa

L3L4,  11.3%

L4L5,  43.5%

L5S1,  45.2%

Trang 4

Hiệu tỉ lệ thoát vị tầng L4L5 và L3L4 lên tới 

32,2%, trong khi hiệu tỉ lệ thoát vị tầng L5S1 và 

L4L5 chỉ có 1,7%. Tổng tỉ lệ thoát vị tầng L4L5 và 

L5S1 là 88,7%. 

Liên quan giữa tầng thoát vị và triệu chứng 

TVĐĐ L3L4 không liên quan với bất kì triệu 

chứng nào

TVĐĐ  L4L5  liên  quan  có  ý  nghĩa  thống  kê 

với  triệu  chứng  yếu  cơ  duỗi  ngón  chân  cái  dài 

(p=0,000), yếu cơ chày trước (p=0,002), giảm cảm 

giác ngón chân và mặt lưng bàn chân (p=0,010), 

dị cảm ở chân (p=0,027). (Bảng 1) 

Bảng 1: Liên quan giữa TVĐĐ L4L5 và các triệu chứng 

TVĐĐ L4L5

P value

Có (n=54)

Không (n=21)

Không 30 21

Không 35 21

Không 26 17

Không 16 12

(1): Yếu cơ duỗi ngón chân cái dài 

(2): Yếu cơ chày trước 

(3): Giảm cảm giác ngón chân và mặt lưng bàn chân 

(4): Dị cảm ở chân 

TVĐĐ  L5S1  liên  quan  có  ý  nghĩa  thống  kê 

với giảm phản xạ gân gót (p=0,003). (Bảng 2) 

Bảng 2: Liên quan giữa TVĐĐ L5S1 với triệu chứng 

giảm phản xạ gân gót 

TVĐĐ L5S1

P value

0,003

BÀN LUẬN 

Nghiên cứu của chúng tôi có tỉ lệ bệnh nhân 

diễn tiến bệnh < 1 năm (50%) ít hơn nghiên cứu 

của  Silverplats(13)  (72,3%)  và  Huỳnh  Hồng 

Châu[11](87,5%)  cũng  vì  bệnh  nhân  e  ngại  phẫu 

thuật. Nhưng tỉ lệ này lại cao hơn so với nghiên 

cứu của Lê Thái Bình Khang[8](32,4%) vì nơi lấy 

mẫu  là  tại  phòng  khám.  Tại  đây  thường  tiếp 

nhận  bệnh  nhân  mới,  triệu  chứng  còn  chưa  nghiêm  trọng  đến  mức  bệnh  nhân  muốn  phẫu  thuật dù đã có chỉ định. 

Nghiên cứu của Lê Thái Bình Khang(8) cũng 

sử  dụng  thang  điểm  Duggal  đánh  giá  mức  độ  đau và chức năng cột sống của bệnh nhân trước 

mổ với số điểm trung bình lần lượt là 4,35 ± 0,48 

và  3,57  ±  0,55.  Nghiên  cứu  của  chúng  tôi  trên  bệnh  nhân  tại  phòng  khám  có  số  điểm  trung  bình  lần  lượt  là  3,9  ±  0,9  và  3,4  ±  1,0.  Như  vậy  điểm đánh giá trên 2 phương diện đều thể hiện  bệnh  nhân trước  phẫu  thuật  có  mức  độ đau  và  chức năng  cột sống  nặng  nề hơn  bệnh  nhân  tại  phòng  khám.  Nếu  xét  riêng  về  chức  năng  cột  sống,  chúng  tôi  thấy  số  điểm  chênh  nhau  chỉ  0,17,  nhưng  mức  độ  đau  của  bệnh  nhân  phẫu  thuật  lớn  hơn  bệnh  nhân  tại  phòng  khám  đến  0,45. Vậy, đau có thể là triệu chứng đóng vai trò  quan trọng hơn khiến bệnh nhân phẫu thuật.  Nghiên  cứu  của  Wenger,  Blaauw,  Huỳnh  Hồng Châu, Nguyễn Hữu Hữu và chúng tôi đều 

có  điểm  giống  nhau  là  tỉ  lệ  đau  thắt  lưng,  đau  chân lan theo rễ và dị cảm chân chiếm tỉ lệ cao  nhất. Kết quả này phù hợp với cơ chế của bệnh  ban đầu là sự thoái hóa vòng sợi và nhân nhầy  đĩa đệm làm cho lực phân bố ra vòng sợi không  đồng đều. Sự bất đồng này kích thích các thụ thể  cảm giác của vòng sợi phía ngoài làm bệnh nhân  đau  lưng.  Sau  đó,  nhân  nhầy  chèn  vào  các  rễ  thần kinh thắt lưng gây đau chân lan theo rễ và 

dị cảm chân. 

Tỉ  lệ  các  triệu  chứng  cơ  năng  trong  nghiên  cứu của chúng tôi thấp hơn đa số các nghiên cứu  khác  vì  đối  tượng  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  được  lấy  tại  phòng  khám,  còn  các  nghiên  cứu  khác  có  đối  tượng  là  những  bệnh  nhân  được  phẫu thuật, triệu chứng nặng nề và rõ ràng hơn.  Nghiệm pháp Lasègue (+) trong nghiên cứu  của  Greenberg(2),  Kortelainen(7),  Huỳnh  Hồng  Châu(6)  và  Nguyễn  Tiến  Cường(11]đều  cho  thấy 

có  độ  nhạy  cao  (80‐94%).  Dù  nghiên  cứu  của  chúng tôi có tỉ lệ TVĐĐ tầng L4L5, L5S1 rất cao,  nhưng  nghiệm  pháp  Lasègue  (+)  với  tỉ  lệ  thấp 

Trang 5

hơn  các  nghiên  cứu  khác,  chỉ  72,0%.  Nguyên 

nhân cũng chính là việc lấy mẫu nghiên cứu tại 

phòng  khám  của  chúng  tôi.Tại  đây,  bệnh  nhân 

có triệu chứng chưa nặng nề. 

Giảm  phản xạ  gân  gót  liên  quan  với  TVĐĐ 

L5S1  là  điểm  chung  trong  kết  quả  nghiên  cứu 

của  Reihani‐Kermani(12),  Nguyển  Tiến  Cường(11) 

và chúng tôi. Mối liên quan này có thể do phản 

xạ  gân  gót  được  chi  phối  bởi  rễ  TK  S1,  S2  mà 

TVĐĐ  L5S1  thường  chèn  ép  rễ  S1  trong  khi 

TVĐĐ  L3L4  thường  chén  ép  rễ  L4  và  TVĐĐ 

L4L5 thường chèn ép rễ L5. 

Ngoài ra, nghiên cứu của chúng tôi còn tìm 

ra  được  mối  liên  quan  giữa  yếu  cơ  duỗi  ngón 

chân  cái  dài  với  TVĐĐ  L4L5  tương  tự  nghiên 

cứu  của  Reihani‐Kermani(12).  Chúng  tôi  chưa 

tìm  được  nghiên  cứu  nào  có  kết  quả  tương  tự 

chúng  tôi  về  mối  liên  quan  giữa triệu  chứng  dị 

cảm  ở  chân,  yếu  cơ  chày  trước,  giảm  cảm  giác 

các  ngón  chân  và  mặt  lưng  bàn  chân  liên  quan 

với TVĐĐ L4L5. 

KẾT LUẬN 

Đau  lưng,  đau  chân  theo  rễ  thần  kinh, 

nghiệm pháp Lasègue dương tính là những triệu 

chứng hay  gặp nhất  ở BN  TVĐĐ  thắt  lưng.  Có 

thể phân biệt được TVĐĐ L4L5 và L5S1 trên lâm 

sàng.  Đặc  điểm  lâm  sàng  của  BN  tại  phòng 

khám có điểm khác biệt với BN nội trú. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Blaauw G, Braakman R, Gelpke GJ, Singh R (1988), ʺChanges 

in  radicular  function  following  low‐back  surgeryʺ.  J 

Neurosurg, 69 (5), pp.649‐652. 

2 Greenberg  MS  (2010),  Spine  and  spinal  cord,  in:  Greenberg 

MS, Handbook of Neurosurgery. 7th edition, Thieme Medical 

Publishers, New York, pp.428‐476. 

3 Huang  SR,  Shi  YY,  Zhan  HS  (2013),  ʺClinical  significance  of 

specific  lumbocrural  pain  for  the  diagnosis  of  lumbar 

intervertebral  disc  herniationʺ.  Zhongguo  Gu  Shang,  26(12),  pp.1041‐1047. 

4 Huang  SR,  Shi  YY,  Zhan  HS  (2014),  ʺIdeas  and  methods  of  differential  diagnosis  of  lumbar  intervertebral  disc  herniationʺ. Zhongguo Gu Shang, 27(2), pp.148‐152. 

5 Huang  SR,  Shi  YY,  Zhan  HS  (2014),  ʺSpecific  lumbocrural  pain  and  the  individual  diagnosis  of  lumbar  intervertebral  disc herniationʺ. Zhongguo Gu Shang, 27(3), pp.216‐219. 

6 Huỳnh  Hồng  Châu  (2011),  ʺĐặc  điểm  lâm  sàng  và  cộng  hưởng từ chẩn đoán thoát vị đĩa đệm thắt lưngʺ. Tạp Chí Y  Học TP HCM, tập 15(2), tr.318‐322. 

7 Kortelainen  P,  Puranen  J,  Koivisto  E.,  Lahde  S  (1985),  ʺSymptoms  and  signs  of  sciatica  and  their  relation  to  the  localization  of  the  lumbar  disc  herniationʺ.  Spine  (Phila  Pa  1976), 10(1), pp.88‐92. 

8 Lê  Thái  Bình  Khang  (2012),Điều  trị  phẫu  thuật  thoát  vị  đĩa  đệm cột sống thắt lưng ‐ cùng qua kỹ thuật banh cơ có hỗ trợ  nguồn  sáng,  Luận  văn  chuyên  khoa  cấp  II,  Đại  học  Y  dược  TP.HCM, TP. Hồ Chí Minh. 

9 Nguyễn Hữu Hữu (2011),Khảo sát lâm sàng, hình ảnh học và  kết quả phẫu thuật thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng – cùng,  Luận văn Chuyên khoa cấp II, Đại học Y Dược TP.HCM, TP. 

Hồ Chí Minh. 

10 Nguyễn Mai Hương (2001), ʺĐối chiếu đặc điểm lâm sàng và  hình  ảnh  cộng  hưởng  từ  của  thoát  vị  đĩa  đệm  cột sống  thắt  lưngʺ,Tạp chí Y học thực hành, tập 403(10), tr.26‐30. 

11 Nguyễn Tiến Cường (2003),Khảo sát lâm sàng và cộng hưởng 

từ trong thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng, Luận văn Thạc sĩ 

Y học, Đại học Y dược TP.HCM, TP. Hồ Chí Minh. 

12 Reihani‐Kermani  H  (2004),  ʺCorrelation  of  clinical  presentation  with  intraoperative  level  diagnosis  in  lower  lumbar disc herniationʺ. Ann Saudi Med, 24(4), pp.273‐275. 

13 Silverplats  K,  Lind  B,  Zoega  B,  Halldin  K,  Rutberg  L,  Gellerstedt M, Brisby H (2010), ʺClinical factors of importance  for  outcome  after  lumbar  disc  herniation  surgery:  long‐term  follow‐upʺ. Eur Spine J, 19(9), pp.1459‐1467. 

14 Wenger M, Mariani L, Kalbarczyk A, Groger U (2001), ʺLong‐ term  outcome  of  104  patients  after  lumbar  sequestrectomy  according to Williamsʺ. Neurosurgery, 49(2), pp.329‐334. 

  Ngày nhận bài báo:       20/10/2014 Ngày phản biện nhận xét bài báo:   18/11/2014  Ngày bài báo được đăng: 05/12/2014

 

Ngày đăng: 23/01/2020, 06:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm