1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tình hình sơ cứu và xử trí ban đầu trẻ bị rắn cắn điều trị tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 từ 7/2010 đến 7/2012

6 83 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 393,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung nghiên cứu với mục tiêu nhằm khảo sát tình hình sơ cứu của thân nhân bệnh nhân và xử trí ban đầu của cơ sở y tế tuyến trước đối với các trẻ bị rắn cắn nhập viện tại Bệnh Viện Nhi Đồng 2 từ tháng 7/2010 đến tháng 7/2012.

Trang 1

ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 2 TỪ 7/2010 ĐẾN 7/2012 

Trần Thị Ngọc Liên* 

TÓM TẮT 

Mục tiêu: Khảo sát tình hình sơ cứu của thân nhân bệnh nhân và xử trí ban đầu của cơ sở y tế tuyến trước 

đối với các trẻ bị rắn cắn nhập viện tại Bệnh Viện Nhi Đồng 2 từ tháng 7/2010 đến tháng 7/2012. 

Phương pháp nghiên cứu: hồi cứu, cắt ngang, mô tả 30 hồ sơ bệnh án các trẻ bị rắn cắn nhập viện tại bệnh 

viện Nhi Đồng 2 từ tháng 7/2010 đến tháng 7/2012. Các số liệu được thu thập và xử lý bằng Microsoft Office  Excel 2007. 

Kết quả: Tỉ lệ thực hiện các biện pháp sơ cứu đúng (bất động, nẹp chi bị rắn cắn, rửa sạch vết thương, băng 

ép vùng chi bị rắn cắn) của thân nhân các trẻ bị rắn cắn là 0% và không đúng (garrot vùng bị rắn cắn, nặn máu,  hút nọc, đắp nọc rắn, tự mua thuốc uống) là 0 –13,3%. Chỉ định huyết thanh kháng nọc rắn tại các cơ sở y tế  tuyến trước chỉ có 6,7%, các biện pháp khác (sử dụng kháng sinh, huyết thanh kháng uốn ván, truyền plasma)  chỉ thực hiện với tỉ lệ 0–20%.  

Kết  luận: Tỉ  lệ  thực  hiện  các  biện  pháp  sơ  cứu  đúng  của  thân  nhân  các  trẻ  bị  rắn  cắn  và  xử  trí  ban 

đầu đúng  của  cơ  sở  y  tế  tuyến  trước  còn  thấp.  Cần  tuyên  truyền,  huấn  luyện  các  biện  pháp  sơ  cứu  rắn  cắn  thường xuyên cho cộng đồng. Các cơ sở y tế cần trang bị huyết thanh kháng nọc rắn để việc cấp cứu được kịp  thời, hiệu quả và cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ sở y tế địa phương với các chuyên gia của tuyến trung  ương. 

Từ khóa: Rắn cắn, huyết thanh kháng nọc rắn, sơ cứu. 

ABSTRACT 

STUDY OF FIRST AID AND TREATMENT FOR CHILDREN WITH SNAKE BITES  

HOSPITALIZED IN CHILDREN’S HOSPITAL 2 FROM JULY 2010 TO JULY 2012 

Tran Thi Ngoc Lien* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 4 ‐ 2013: 60 ‐ 65 

Objectives: To  study  first  aid  and  treatment  for  children  with  snake  bites  hospitalized  in  Children’s 

Hospital 2 from July 2010 to July 2012. 

Methods: A  retrospective,  cross‐sectional  and  descriptive  study  was  conducted  on  30  medical  records  of 

children with snake bites hospitalized in Children’s Hospital 2 from July 2010 to July 2012. Statistical data was  collected and processed by Microsoft Office Excel 2007. 

Results: Ratio of right first aid (immobilization, clean the wound, negative pressure) of patients family was 

unfortunately  0%  and  inapproriate  first  aid  (tourniquet,  suction,  incision,  take  the  drug  without  opinion  of  doctor)  was  0  –  13.3%.  Indication  of  suitable  antivenom  in  the  province  hospitals  was  only  6.7%,  the  oher  measures (antibio therapy, serum antitetanos, plasma) was 0 – 20%. 

Conclusion: Ratio of right first aid of patient family and treatment of province hospitals were limited. There 

should be specific antivenom at province hospitals for an opportune and effective emergency treatment and an  association between local hospitals’ health care workers and central hospitals‘ experts.  

Key words: Snake bite, antivenom, first aid. 

* Bệnh viện Nhi Đồng 2. 

Trang 2

Rắn cắn là nguyên nhân quan trọng trong số 

các trường hợp nhiễm độc do động vật. Tổ chức 

y tế thế giới ước tính mỗi năm có ít nhất 2,5 triệu 

trường  hợp  bị  rắn  cắn  với  125000  người  bị  tử 

vong,  đặc  biệt  là  ở  vùng  nông  thôn  và  vùng 

miền núi thuộc các khu vực nhiệt đới. 

Tại nước Mỹ, có 6000 – 8000 người bị rắn cắn 

mỗi  năm,  tử  vong  do  rắn  hổ  cắn  là  9%,  do  rắn 

lục cắn là 0,2%. 

Ở Việt Nam có 2 nhóm rắn chính: 

‐ Rắn hổ (cạp nong, cạp nia, hổ mang): Nọc 

rắn hổ có tác dụng gây liệt cơ, nguy hiểm nhất là 

liệt cơ hô hâp, dẫn đến tử vong. 

‐  Rắn  lục  (rắn  lục  hốc  má,  rắn  lục  tre):  Nọc 

độc của rắn lục chủ yếu gây rối loạn đông máu, 

tán huyết, hoại tử tổ chức.  

Ngoài  ra,  vết  thương  do  rắn  cắn  có  thể  bị 

nhiễm khuẩn nặng do nhiễm bẩn. 

Triệu  chứng  thường  xuất  hiện  sớm  sau  khi 

bị rắn cắn khoảng 30 phút đến 4 giờ, nọc độc của 

rắn có thể gây tử vong hoặc gây tàn phế cho nạn 

nhân  nếu  không  được  sơ  cứu  và  xử  trí  đúng 

cách, kịp thời. 

Trên  thực  tế,  những  sai  lầm  trong  sơ  cứu 

cũng như những xử trí chưa đúng mức của các 

cơ sở y tế tuyến trước đã góp phần làm diễn tiến 

bệnh nặng và tiên lượng xấu hơn đối với các trẻ 

bị rắn cắn nhập viện tại BVNĐ2. Đó là lý do để 

chúng tôi làm nghiên cứu này. 

Mục tiêu nghiên cứu 

Mục tiêu tổng quát  

Khảo  sát  tình  hình  sơ  cứu  của  thân  nhân 

bệnh nhân và xử trí ban đầu của cơ sở y tế tuyến 

trước  đối  với  các  trẻ  bị  rắn  cắn  nhập  viện  tại 

BVNĐ2 từ tháng 7/2010 đến tháng 7/2012. 

Mục tiêu cụ thể 

Tỉ lệ của các biện pháp sơ cứu đúng và chưa 

đúng của thân nhân bệnh nhân đối với các trẻ bị 

rắn  cắn  nhập  viện  tại  BVNĐ2  từ  tháng  7/2010 

đến tháng 7/2012. 

Tỉ  lệ  của  các  phương  pháp xử  trí  ban  đầu đúng  và  chưa  đúng của  cơ  sở  y  tế  tuyến  trước  đối  với  các  trẻ  bị  rắn  cắn  nhập  viện  tại 

BVNĐ2 từ tháng 7/2010 đến tháng 7/2012 

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  Thiết kế nghiên cứu 

Cắt ngang, mô tả. 

Đối tượng nghiên cứu 

Dân số mục tiêu: Các trẻ bị rắn cắn.  

Dân  số  chọn  mẫu:  Các  trẻ  bị  rắn  cắn  nhập  BVNĐ2.  

Cỡ mẫu: 30. 

Kỹ thuật chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện. 

Cách tiến hành 

ĐD  tham  gia  nghiên  cứu  hồi  cứu  bệnh  án  của  các  trẻ  bị  rắn  cắn  nhập  BVNĐ2  từ  tháng  7/2010  đến  tháng  7/2012,  thu  thập  và  xử  lý  số  liệu bằng Microsoft Office Excel 2007. 

KẾT QUẢ  Đặc điểm mẫu nghiên cứu 

Bảng 1. Đặc điểm dịch tễ học và lâm sàng. 

Tuổi

Thời điểm (tháng) trong năm

Hoàn cảnh xảy

ra

Ngoài đường 20 66,7 Lao động 2 6,7

Trang 3

Đặc điểm n (%)

Địa phương

TpHCM Q2 Q9 Bình Thạnh Cần Giờ Thủ Đức Tỉnh Bắc Giang Bình Dương Bình Phước Cần Thơ Đak Lak Đak Nông Đồng Nai Quảng Ngãi Vũng Tàu

7 1

2

1

1

2

23 1

8

3

1

1

2

5

1

1

23,3 3,3 6,7 3.3 3,3 6,7 76,7 3,3 26,7

10 3,3 3,3 6,8 16,7 3,3 3,3

Loại rắn

Rắn lục 20 66,7 Chàm quạp 1 3,3

Vị trí bị cắn

Bệnh cảnh lâm

sàng

Rối loạn đông

Rối loạn thần

Nhiễm khuẩn

Các phương

pháp điều trị

Huyết thanh kháng nọc rắn

15

13 ca truyền 1 lần

2 ca truyền 2 lần (4 – 12 đơn vị/BN)

50

SAT 17 Huyết tương 5

Cắt lọc 2 Thở máy

Kết quả điều trị

Diễn tiến tốt 26 86,7

Bệnh nặng xin

về

3 (1 ca: rắn hổ (1 ca: rắn hổ mèo) (1 ca:

không rõ)

10

Bảng 2. Tình hình điều trị. 

Kết quả điều trị Ngày điều trị

(ngày)

Chi phí điều trị trung bình/ngày (đồng)

Di chứng 21 2.418.228

Kết quả nghiên cứu 

Bảng 3. Tình hình sơ cứu của thân nhân bệnh nhi. 

Các biện pháp

sơ cứu nên thực hiện

Các biện pháp không nên làm

Bảng 4. Tình hình xử trí ban đầu của y tế tuyến 

trước 

Các phương pháp xử trí ban đầu của cơ sở

y tế tuyến trước n %

Các phương pháp điều trị tại

cơ sở y tế tuyến trước

Huyết thanh kháng nọc rắn 2 6,7

Bảng 5. Thời gian tính từ lúc bị rắn cắn đến khi 

nhập BVNĐ2. 

Thời gian (giờ)/ Từ khi bị rắn

cắn đến khi đến cơ sở y tế địa phương

Điều trị tại

cơ sở y tế địa phương

Từ khi bị rắn cắn đến BVNĐ2 Kết quả điều trị

Diễn tiến tốt (0 – 2) 0,15 (0 – 48) 3,95 (1 – 57) 9

BÀN LUẬN 

Trong  khoảng  3000  loài  rắn,  có  khoảng  200  loài là rắn độc và 90% trong số đó thuộc 3 loài: 

rắn  biển,  rắn  hổ  và  rắn  lục.  Đa  số  trường  hợp  rắn cắn và tử vong do rắn cắn không được báo  cáo thống kê, nhất là ở các nước đang phát triển. 

Ở  Mỹ,  mỗi  năm  có  khoảng  4000  ‐7000  trường 

Trang 4

do  rắn  độc,  và  khoảng  0,2%  trong  số  đó  bị  tử 

vong. Ở Texas, 1 – 2 người dân chết mỗi năm do 

rắn  độc  cắn.  Tỉ  lệ  rắn  cắn  của  Mỹ  khoảng 

4/100.000 dân; North Carolina là bang có tỉ lệ bị 

rắn  cắn  nhiều  nhất  (≈19  trường  hợp  trong 

100.000 dân); Tuy nhiên, tổng kết 20 năm của Hệ 

thống  thống  kê  tử  vong  quốc  gia  Hoa  kỳ  cho 

thấy trong 97 trường hợp bị chết do rắn cắn thì 

Texas  có  tử  vong  cao  nhất,  kế  đó  là  Florida  và 

Giorgia. 

Rắn  cắn  là  một  bệnh  nghề  nghiệp  quan 

trọng ở Đông Nam Á: đa số nạn nhân bị rắn cắn 

là nông dân đang làm việc trên đồng hoặc công 

nhân  đồn  điền  cao  su  hoặc  người  nuôi  thú (1). 

95% trường hợp bị rắn cắn ở chi, nhất là ở tay và 

thường gặp từ tháng 4 – tháng 10 trong năm. Ở 

trẻ em, tai nạn rắn cắn thường xảy ra quanh nhà 

vào mùa hè và vết rắn cắn thường ở chi dưới. 

Không phải lúc nào rắn cắn cũng là rắn độc 

và mức độ nhiễm độc nặng tùy thuộc loại rắn 

và lượng chất độc vào cơ thể. Cân nặng của trẻ 

thấp  hơn  so  với  người  lớn  nên  trẻ  em  bị  rắn 

độc cắn thường nặng hơn. Khi bị rắn độc cắn, 

nếu không xử trí thích hợp, kịp thời sẽ dễ đưa 

đến tử vong(2). 

Việt Nam là một quốc gia đang phát triển và 

cũng  là  nước  nông  nghiệp  nên  tai  nạn  rắn  cắn 

không  hiếm,  tuy  nhiên  chưa  có  nhiều  công  bố 

chính thức về số liệu tai nạn và tử vong do rắn 

cắn. Theo Hội thảo chuyên đề “Cấp cứu và điều 

trị bệnh nhân rắn cắn” tổ chức tại Bệnh viện Chợ 

Rẫy  từ  18  –  19/4/2000,  tại  Việt  Nam,  ước  tính 

30.000 trường hợp rắn cắn mỗi năm và tử vong 

lên đến 22% trong 430 trường hợp do rắn chàm 

quạp cắn từ 1993 – 1998.  

Sơ cứu khi bị rắn cắn gồm trấn an nạn nhân, 

bất động và nẹp chi bị rắn cắn, để chi bị rắn cắn 

vị trí thấp hơn tim, cởi bỏ các nữ trang ở vùng bị 

rắn  cắn,  rửa  sạch  vết  thương,  băng  ép  vùng  bị 

rắn cắn (càng lên cao càng tốt) và nhanh chóng 

đưa  nạn  nhân  đến  cơ  sở  y  tế  có  đủ  điều  kiện 

điều  trị.  Các  biện  pháp:  Rạch  da,  hút  nọc  độc 

bằng miệng hay giác hút, garrot, đều không hiệu 

quả, thậm chí còn gây nhiễm khuẩn, tăng sự hấp  thu  nọc  độc  vào  cơ  thể  và  chảy  máu  tại  chỗ.  Thân nhân nạn nhân nên mang xác  rắn  đến  cơ 

sở y tế, nếu có thể, để nhân viên y tế nhận dạng  loại rắn mà chỉ định huyết thanh kháng nọc rắn  phù hợp. Tại cơ sở y tế, nạn nhân cần được theo  dõi  ít  nhất  trong  24  giờ,  ngay  cả  khi  rắn  cắn  là  rắn  lành;  tùy  theo  bệnh  cảnh  lâm  sàng  và  kết  quả xét nghiệm mà nạn nhân sẽ được hỗ trợ hô  hấp, điều trị rối loạn đông máu, sử dụng kháng  sinh, phòng ngừa uốn ván, chăm sóc vết thương 

và giải áp chèn ép khoang hay cắt lọc phù hợp 

(2,3,4).  Mẫu  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  gồm  hồ  sơ  bệnh án của 30 trẻ bị rắn cắn nhập viện từ tháng  7/2010 đến hết tháng 7/2012, trong đó trẻ nam và 

nữ  đều  có  khả  năng  bị  tai  nạn  như  nhau.  Mọi  lứa tuổi đều có thể bị, nhỏ nhất là 11 tháng tuổi,  nhưng tập trung vào lứa tuổi 2 – 11 tuổi (73,4%);  bệnh nhi được chuyển đến BVNĐ2 từ các quận,  huyện  ngoại  thành  TpHCM  và  các  tỉnh,  có  nơi  rất xa như Đak Lak, Đak Nông, Quảng Ngãi. Tai  nạn xảy ra quanh năm nhưng có vẻ tăng  trong  mùa mưa, từ tháng 4 – tháng 8 và rắn lục là tác  nhân chủ yếu gây tai nạn. Tai nạn vẫn có thể xảy 

ra cho trẻ trong khuôn viên nhà (10 trường hợp,  chiếm tỉ lệ 33,3%); do đó, các bậc cha mẹ ở vùng  nông  thôn  cần  chú  ý  thu  xếp  vật  dụng,  đồ  đạc  trong nhà gọn gàng, ngăn nắp, tránh những hốc  tối, những thùng, hộc tủ lỉnh kỉnh dễ làm nơi trú 

ẩn của rắn. Một vấn đề hết sức thương tâm là có 

2 trẻ (đều là nam và 11 tuổi) bị tai nạn trong khi  lao động ngoài đồng và 1 trong 2 trẻ đó hầu như 

đã không cứu được. Vị trí bị rắn cắn của 30 trẻ  đều ở chi: 15 trẻ bị cắn ở tay, 15 trẻ bị cắn ở chân 

và đầu chi (ngón, bàn) là vị trí bị cắn nhiều nhất  (86,7%).  Do  đa  số  là  do  rắn  lục  cắn  nên  bệnh  cảnh  rối  loạn  đông  máu  chiếm  chủ  yếu  (14  trường hợp chiếm tỉ lệ 46,7%); có 1 bệnh nhân bị  rối loạn thần kinh do rắn hổ mèo cắn.  

Tại  BVNĐ2,  15  trẻ  đã  được  truyền  huyết  thanh  kháng  nọc  rắn  (4  –  12  lọ)  bên  cạnh  việc  điều  trị  chống  shock,  hỗ  trợ  hô  hấp,  sử  dụng  kháng  sinh,  huyết  thanh  kháng  uốn  ván,  chăm 

Trang 5

(86,7% trường hợp) diễn tiến tốt và xuất viện với 

ngày điều trị trung bình là 6 ngày (2 – 18 ngày) 

và  chi  phí  điều  trị  trung  bình  là  486.971 

đồng/ngày. 1 trẻ bị rắn chàm quạp cắn xuất viện 

sau 21 ngày điều trị với di chứng nặng nề ở tay 

bị cắn với tổng chi phí điều trị lên đến 50.782.790 

đồng (≈ 2.418.228 đồng/ngày). 3 trẻ (10% trường 

hợp)  ra  về  trong  bệnh  cảnh  hấp  hối  sau  2  –  5 

ngày  điều  trị  với  chi  phí  nằm  viện  trung  bình 

1.061.249 đồng/ngày.  

Tình  hình  sơ  cứu  bệnh  nhân  rắn  cắn  của 

thân nhân bệnh nhân trong 30 trường hợp trên 

đã chưa thật tốt: không ghi nhận được trường 

hợp  nào  (0%)  được  bất  động,  nẹp  chi  bị  rắn 

cắn,  rửa  sạch  vết  thương,  băng  ép  trước  khi 

đưa  bệnh  nhân  đến  cơ  sở  y  tế.  Trái  lại,  có  7 

trường  hợp  đã  được  sơ  cứu  bằng  những  biện 

pháp không thích hợp: 4 trường hợp thực hiện 

garrot  chi  bị  rắn  cắn  (13,3%),  1  trường  hợp  bị 

đắp  mật  rắn  lên  vết  cắn  (?!)  (3,3%),  1  trường 

hợp  người  nhà  tự  mua  thuốc  cho  bệnh  nhân 

uống  (3,3%)  và  2  trường  hợp  bị  đưa  đến  thầy 

lang  để  nặn  máu  và  điều  trị  không  rõ  (6,7%); 

Tất cả những xử trí không phù hợp đó đã ảnh 

hưởng xấu đến tính mạng  của  bệnh  nhân  sau 

này, làm chậm thời gian mang bệnh nhân đến 

cơ sở y tế đủ điều kiện điều trị và kết quả là 4 

trong 7 trẻ đó đã ra viện trong bệnh cảnh gần 

như  tử  vong  hoặc  mang  di  chứng  nặng.  Có  6 

trường  hợp  mang  xác  rắn  tới  (20%  trường 

hợp), điều này giúp cho nhân viên tại cơ sở y 

tế  xác  định  được  loại  huyết  thanh  kháng  nọc 

rắn phù hợp để giải độc. Thời gian tính từ lúc 

bị  rắn  cắn  đến  lúc  đến  cơ  sở  y  tế  càng  dài  thì 

tiên  lượng  càng  xấu:  đối  với  nhóm  diễn  tiến 

tốt, thời gian này là 0,15 giờ (0  –  2  giờ),  trong 

khi  đối  với  nhóm  bệnh  nặng  xin  về  thì  thời 

gian đó là 16,67 giờ (2 – 26 giờ). 

Đối  với  các  cơ  sở  y  tế  tuyến  trước,  các  biện 

pháp  làm  chậm  hấp  thu  độc  tố  như  nẹp,  bất 

động  chi,  rửa  vết  thương,  băng  ép  (nếu  chưa 

thực hiện trước đó khi sơ cứu tại nơi xảy ra tai 

nạn),  sử  dụng  kháng  sinh,  huyết  thanh  kháng 

uốn  ván,  truyền  plasma  (nếu  có  rối  loạn  đông  máu), cũng chưa được thực hiện thường xuyên.  Băng ép chỉ thực  hiện  trong  16,7%  trường  hợp,  rửa vết thương chỉ thực hiện trong 10% trường  hợp  và  chỉ  có  20%  bệnh  nhân  được  sử  dụng  kháng  sinh  trước  khi  đến  BVNĐ2.  Chỉ  có  2  trường hợp được truyền huyết thanh kháng nọc  rắn  tại  tuyến  trước  (6,7%)  nhưng  1  trường  hợp  trong đó truyền chưa đủ liều, còn 1 trường hợp  thì không ghi rõ số lượng. Các bệnh nhân nặng  khi đến cơ sở y tế tuyến trước đều được chuyển  ngay đến BVNĐ2 nhưng vì khoảng cách địa lý  giữa cơ  sở  y  tế  tuyến  trước  và  BVNĐ2  quá  lớn 

và cũng vì các bệnh nhân được mang đến các cơ 

sở y tế này quá trễ nên thời gian từ khi bị tai nạn  đến khi đến được BVNĐ2 quá dài: 26,7 giờ (5 – 

41  giờ)  nên  việc  cứu  chữa  không  đạt  hiệu  quả!  Huyết thanh kháng nọc rắn chuyên biệt rất hiệu  quả nhưng cần được chỉ định kịp thời, tốt nhất 

là  trong  4  –  6  giờ  đầu  tiên  sau  tai  nạn;  Vì  vậy,  việc  chuyển  bệnh  nhân  đến  cơ  sở  y  tế  đủ  điếu  kiện  cần  phải  được  thực  hiện  hết  sức  nhanh  chóng và an toàn (1,2,3,4,5,6).  

KẾT LUẬN  

Với  mẫu  nghiên  cứu  gồm  30  trẻ  bị  rắn  cắn  điều  trị  tại  BVNĐ2  từ  tháng  7/2010  –  tháng  7/2012,  chúng  tôi  nhận  thấy  tỉ  lệ  thực  hiện  các  biện pháp sơ cứu đúng (bất động, nẹp chi bị rắn  cắn,  rửa  sạch  vết  thương,  băng  ép  vùng  chi  bị  rắn cắn) của thân nhân các trẻ bị rắn cắn là 0% 

và  không  đúng  (garrot  vùng  bị  rắn  cắn,  nặn  máu, hút nọc, đắp nọc rắn, tự mua thuốc uống) 

là 3,3 – 13,3%. Chỉ định huyết thanh kháng nọc  rắn tại các cơ sở y tế tuyến trước chỉ có 6,7%, các  biện  pháp  khác  (sử  dụng  kháng  sinh,  huyết  thanh  kháng  uốn  ván,  truyền  plasma)  chỉ  thực  hiện với tỉ lệ 0 – 20%. Việc di chuyển bệnh nhân  đến cơ sở y tế cỏ đủ  điều  kiện  chưa  được  thực  hiện  khẩn  trương  và  chính  vì  vậy  làm  ảnh  hưởng xấu đến kết quả cứu chữa bệnh nhân.   Rắn cắn là một tai nạn nghề nghiệp đối với  một  số  đối  tượng  có  ngành  nghề  đặc  biệt,  tuy  nhiên, đó cũng là một tai nạn có thể xảy ra cho  bất kỳ cá nhân nào, nhất là đối với xứ sở có khí 

Trang 6

hậu  nhiệt  đới  ẩm  như  nước  ta.  Xử  trí  ban  đầu 

không  đúng  sẽ  để  lại  những  hậu  quả  rất  đáng 

tiếc,  ảnh  hưởng  đến  sức  khỏe  lâu  dài  và  thậm 

chí,  đe  dọa  tính  mạng  nạn  nhân.  Việc  tuyên 

truyền, huấn luyện các biện pháp sơ cứu rắn cắn 

là  việc  làm  cần  thiết,  thường  xuyên  cho  cộng 

đồng.  Các  cơ  sở  y  tế  cần  trang  bị  huyết  thanh 

kháng  nọc  rắn  để  việc  cấp  cứu  được  kịp  thời, 

hiệu quả và cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ 

sở y tế địa phương với các chuyên gia của tuyến 

trung ương. 

Giới hạn của nghiên cứu là cỡ mẫu còn thấp 

nên các số liệu trên có tính cách tham khảo cho 

việc  hướng  dẫn  của  ngành  y  tế  về  những  biện 

pháp sơ cứu của thân nhân bệnh nhân và xử trí 

ban đầu của tuyến y tế cơ sở đối với các trường 

hợp  bị  rắn  cắn  để  phòng  tránh  những  biến 

chứng nặng do xử trí không đúng ban đầu. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Bộ Y Tế (2000). Trường Đại hoc Y Dược Tp.HCM. University of  Oxford,  Hội  thảo  chuyên  đề  “Cấp  cứu  và  điều  trị  bệnh  nhân  rắn cắn”. 

2 Phác  đồ  điều  trị  nhi  khoa  Bệnh  Viện  Nhi  Đồng  1  (2009).  Nhà 

xuất bản y học, chi nhánh Tp.HCM, tr. 122‐126. 

3 Phác  đồ  điều  trị  nhi  khoa  Bệnh  Viện  Nhi  Đồng  2  (2009).  Nhà 

xuất bản y học, chi nhánh Tp.HCM 2009, tr. 130‐131. 

4 Sotelo  N  (2008).  Review  of  treatment  and  complications  in  79 

childrens  with  rattlesnake  bite. Clin  Pediatr  (Phila), 47  (5),  pp. 

483‐9.  

5 Warrell DA (2010). Snake bite. Lancet, 375 (9708), pp. 77‐88.  

6 Whitley  RE  (1996).  Conservative  treatment  of  copperhead 

snakebites without antivenin. J Trauma, 41(2), pp. 219‐21.    

 

Ngày đăng: 23/01/2020, 05:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w