1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Gia tăng thời gian ngủ có liên quan với việc giảm tình trạng béo phì ở trẻ vị thành niên có thời gian ngủ ít?

6 75 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 449,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu mục tiêu nhằm xác định việc thay đổi thời gian ngủ có thể ảnh hưởng đến các chỉ số khách quan của tình trạng béo phì ở trẻ vị thành niên trong thời gian 5 năm hay không?. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết.

Trang 1

GIA TĂNG THỜI GIAN NGỦ CÓ LIÊN QUAN   VỚI VIỆC GIẢM TÌNH TRẠNG BÉO PHÌ Ở TRẺ VỊ THÀNH NIÊN  

CÓ THỜI GIAN NGỦ ÍT? 

Tăng Kim Hồng*  

TÓM TẮT 

Mục  tiêu: Nghiên cứu này nhằm xác định việc thay đổi thời gian ngủ có thể ảnh hưởng đến các chỉ số 

khách quan của tình trạng béo phì ở trẻ vị thành niên trong thời gian 5 năm hay không?  

Phương  pháp:  Một nghiên cứu đoàn hệ tiền cứu 5 năm được thực hiện từ năm 2004 đến năm 2009. 

Chiều cao, cân nặng, chu vi vòng eo, bề dày các nếp gấp da cùng với thời gian dành cho hoạt động thể lực,  xem tivi và cho việc ngủ hàng ngày của trẻ cùng với thói quen ăn uống được thu thập hàng năm từ 759 học  sinh cấp II TPHCM. Trẻ có thời gian ngủ ít hơn 6g/ngày vào lúc đầu nghiên cứu (64 trẻ/759 trẻ) được chia  thành hai nhóm: nhóm tăng thời gian ngủ để đảm bảo đủ ≥8giờ/ngày vào lúc kết thúc nghiên cứu (n =34); 

và  nhóm  trẻ  vẫn  duy  trì  thói  quen  ngủ  6giờ/ngày  hay  ít  hơn  (n=30).  Nhóm  trẻ  có  thời  gian  ngủ  đủ  (≥8giờ/ngày) từ lúc đầu nghiên cứu cho đến kết thúc nghiên cứu (n=695) được xem như là “nhóm chứng”. 

Sự thay đổi của các chỉ số của tình trạng béo phì cho mỗi nhóm có thời gian ngủ khác nhau được so sánh  bằng ANOVA. Mô hình hồi qui đa biến GLLAMM được áp dụng để khảo sát mối liên quan dọc giữa thay  đổi BMI và các yếu tố nguy cơ bằng STATA 12.0 

Kết  quả:  Hai nhóm trẻ có thời gian ngủ ngắn có các đặc điểm lúc bắt đầu nghiên cứu giống nhau.  Tuy 

nhiên, qua 5 năm khảo sát nhóm trẻ có thời gian ngủ ít và vẫn tiếp tục duy trì tình trạng này cho đến kết thúc  nghiên cứu có sự gia tăng BMI và mỡ cơ thể hơn nhóm trẻ có thời gian ngủ ít vào lúc bắt đầu nghiên cứu nhưng 

có cải thiện thời gian ngủ (1,21±0,33 kg/m 2  và 2,36±0,54 kg, p<0,05), sau khi hiệu chỉnh cho các yếu tố liên quan  khác. Chúng tôi không thấy sự khác biệt một cách có ý nghĩa trong các chỉ số của tình trạng béo phì giữa “nhóm  chứng” và nhóm có thời gian ngủ ngắn nhưng tăng thời gian ngủ lên dần. Phân tích đa biến cho thấy sau khi  hiệu chỉnh cho các yếu tố gây nhiễu khác, việc thay đổi thói quen ngủ làm BMI giảm đi 0,48. 

Kết luận: Nghiên cứu này gợi ý rằng việc thay đổi thời gian ngủ từ ít sang đầy đủ có thể làm nhẹ bớt tình 

trạng tăng lượng mỡ cơ thể.  

Từ khóa: tình trạng béo phì, mỡ cơ thể, thời gian ngủ, trẻ vị thành niên 

ABSTRACT 

LONGER SLEEP DURATION ASSOCIATES WITH LOWER ADIPOSITY GAIN  

IN SHORT SLEEPER ADOLESCENTS 

Tang Kim Hong* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3 ‐ 2013: 153 ‐ 158 

Objective: To verify whether an increase in sleep duration over 5 years could impact objective indicators of 

adiposity in adolescents. 

Methods: A 5‐year prospective cohort study was conducted between 2004 and 2009. Height, weight, waist 

circumferences and skinfold measures as well as time spent for physical activity, TV viewing and sleeping time as  well as eating behaviors were collected annually among 759 junior high school students in Ho Chi Minh City.  Short sleeper with less than 6hours/day at the baseline (64/759 adolescents) were divided into two groups: those 

* Bộ môn Dịch tễ học cơ bản ‐ dân số học ‐ Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch. 

Trang 2

who increased their sleep duration to 8hours/day or more at year 5 (n=34); and those who maintained their short  sleep duration habits (n=30). Students who reported sleeping ≥ 8hours/day at both baseline and year 5 (n=695)  were used as a control group. Change in adiposity indicators for each sleep‐duration group was compared using  ANOVA.  Multivariate  regressions  with  generalized  linear  latent  and  mixed  models  were  applied  to  assess  longitudinal relationship between BMI and other risk factors using STATA 12.0. 

Results: The two short‐sleep‐duration groups had similar baseline characteristics. However, short‐duration 

sleepers who maintained their short sleep duration experienced a greater increase BMI and body fat over the 5‐ year  follow‐up  period  than  short  duration  sleepers  who  increased  their  sleep  duration  (1,21±0,33  kg/m 2   and  2,36±0,54 kg, respectively, p<0,05), after adjustment for other covariates. We found no significant difference in  adiposity changes between the control group and short‐duration sleepers who increased their sleep duration. After  adjustment  for  other  confounders  in  multivariate  analysis,  changing  sleeping  habit  was  associated  with  a  reduction in BMI of 0.48. 

Conclusion: This study suggests that shifting sleep duration from a short to a healthier length is associated 

with an attenuation of body fat gain. 

Key words: Adiposity, body fat, sleep duration, adolescents 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Đã  có  nhiều  bằng  chứng  chứng  minh  thời 

gian ngủ ít là cũng một yếu tố nguy cơ của tình 

trạng  béo  phì(14,13).  Kết  quả  của  những  nghiên 

cứu  tiền  cứu  cũng  đã  cho  thấy  rằng  thời  gian 

ngủ ít có liên quan với việc tăng cân và tăng tỷ 

suất  mới  mắc  béo  phì  ở  trẻ  em  và  trẻ  vị  thành 

niên(1,7). Có nghiên cứu còn tìm thấy rằng cứ với 

mỗi  giờ  ngủ  tăng  thêm  sẽ  làm  giảm  khả  năng 

béo phì 80%(8).  

Ngủ đủ giấc là một yếu tố đánh giá sức khỏe 

và  hành  vi  liên  quan  đến  sức  khỏe  của  trẻ  vị 

thành  niên(3).  Vì  thiếu  ngủ  mãn  tính  đang  trở 

thành  một  đặc  tính  thường  thấy  của  cuộc  sống 

hiện đại, những nghiên cứu nhằm khảo sát mối 

liên  hệ  giữa  việc  ngủ  ít  và  béo  phì  là  rất  cần 

thiết. Đồng thời, cũng cần có những nghiên cứu 

khảo sát ảnh hưởng của việc gia tăng thời gian 

ngủ với việc giảm nguy cơ tăng trọng để từ đó 

có những khuyến cáo thích hợp về thời gian ngủ 

hàng  ngày  cho  trẻ  em.  Cho  đến  nay,  có  rất  ít 

nghiên cứu quan sát khảo sát ảnh hưởng này, do 

đó chúng tôi thực hiện nghiên cứu cắt dọc trong 

5 năm trên trẻ vị thành niên nhằm tìm hiểu xem 

việc gia tăng thời gian ngủ có hiệu quả gì không. 

Giả thiết nghiên cứu đặt ra là việc thay đổi thời 

gian  ngủ  từ  ít  (≤  6giờ/ngày)  sang  đầy  đủ 

(≥8giờ/ngày) có thể làm nhẹ bớt tình trạng tăng  lượng mỡ cơ thể.  

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  Đối tượng nghiên cứu 

Các  đối  tượng  được  khảo  sát  trong  đề  tài  này là những học sinh cấp II TPHCM tham gia  trong nghiên cứu đoàn hệ tiền cứu 5 năm được  thực hiện từ năm 2004 đến năm 2009, với 5 lần  thu  thập  số  liệu,  mỗi  lần  cách  nhau  một  năm,  nhằm tìm các yếu tố nguy cơ của béo phì ở trẻ vị  thành niên. Chi tiết của nghiên cứu đoàn hệ này  cũng  như  việc  chọn  mẫu  và  tính  cở  mẫu  cần  thiết đã được trình bày trong một bài báo công 

bố trước  đây(12).  Thời  gian  trung  bình  dành  cho  ngủ nếu ≤ 6giờ/ngày thì được gọi là “ngủ ít”(15).  Những  học  sinh  “ngủ  ít”  vào  lúc  đầu  nghiên  cứu  (64  trẻ/759  trẻ)  được  chia  thành  hai  nhóm:  nhóm trẻ vẫn duy trì thói quen ngủ ít sau 5 năm  (n=30) là nhóm 1, và nhóm tăng thời gian ngủ để  đảm  bảo  đủ  (≥  8giờ/ngày)  vào  lúc  kết  thúc  nghiên cứu (n =34) là nhóm 2. Vì thời gian ngủ 

đủ đã được chứng minh là có liên quan với việc  phòng  ngừa  một  số  bệnh  thông  thường(6)  nên  trong  nghiên  cứu  này  chúng  tôi  so  sánh  thêm  với  một  “nhóm  chứng”  có  thời  gian  ngủ  đủ  (≥  8giờ/ngày) (n=695) (nhóm 3).  

Trang 3

Chiều cao học sinh được đo bằng thước đo 

chiều  cao  đứng  (Microtoise)  với  độ  chính  xác 

đến  0,1  cm  khi  học  sinh  không  mang  giày  và 

đứng thẳng, tựa gót, mông, chẩm đầu vào mặt 

phẳng cứng. Cân nặng học sinh được đo bằng 

cân  điện  tử  (Tanita)  với  độ  chính  xác  đến  0,1 

kg khi học sinh không mang giày và mặc đồng 

phục nhẹ. Chu vi vòng eo (CVVE) được đo tại 

đường  giữa  điểm  thấp  nhất  của  xương  sườn 

và  giới  hạn  trên  của  mào  chậu,  với  độ  chính 

xác  đến  0,1  cm.  Bề  dày  nếp  gấp  da  (BDNGD) 

được đo tại 4 điểm: tam đầu, sau vai, bụng và 

bắp chân, mỗi điểm đo 2 lần. BDNGD tại mỗi 

điểm là trung bình cộng của 2 lần đo. Với mỗi 

đối  tượng  nghiên  cứu,  số  đo  trung  bình  của 

BDNGD là trung bình cộng của số đo BDNGD 

tại  4  điểm  nêu  trên.  Trình  độ  học  vấn  của  mẹ 

và kinh tế gia (đánh giá qua các loại vật dụng 

sẵn  có  trong  nhà)  được  thu  thập  bằng  bảng 

câu  hỏi  (BCH).  BCH  cũng  được  dùng  để  thu 

thập  thông  tin  về  thời  gian  trung  bình  mỗi 

ngày  dành  cho  hoạt  động  vừa  và  nặng,  cho 

xem tivi và  thời  gian  dành  cho  ngủ  cũng  như 

thói quen về ăn uống của học sinh.  

Phân tích số liệu 

Đặc  tính  của  các  đối  tượng  vào  lúc  đầu 

nghiên cứu được so sánh giữa 3 nhóm (có tăng 

thời  gian  ngủ,  không  tăng  thời  gian  ngủ  và 

nhóm chứng) bằng phép kiểm ANOVA (đối với 

biến  số  định  lượng)  hay  chi  bình  phương  (đối 

với biến số định tính), sau đó phép kiểm Scheffe 

được sử dụng để so sánh từng cặp (biến số định 

lượng). Kinh tế gia đình được đánh giá dựa vào 

chỉ số tài sản (Wealth Index) ‐ được tính dựa vào 

phương  pháp  phân  tích  thành  phần  chủ  yếu 

(principal  component  analysis)  và  có  cân  nhắc  đến  tỷ  trọng  của  từng  thành  phần  khi  tính  toán(4).  Trình  độ  học  vấn  của  mẹ  được  xem  là 

“cao”  khi  mẹ  có  trình  độ  học  vấn  từ  cấp  3  trở  lên. Việc ăn rau/quả, uống nước ngọt được định  nghĩa là thường xuyên khi trẻ ăn hay uống gần  như mỗi ngày. Do nghiên cứu sử dụng phương  pháp  chọn  mẫu  cụm  nhiều  bậc  và  số  liệu  của  từng  đối  tượng  được  thu  thập  nhiều  lần  trong  quá  trình  nghiên  cứu  5  năm,  mô  hình  hồi  qui  tuyến tính đa biến GLLAMM (generalized linear  latent  and  mixed  models)  được  áp  dụng  nhằm  khảo sát mối liên quan dọc giữa thay đổi BMI và  các  yếu  tố  nguy  cơ.  Số  liệu  được  xử  lý  bằng  STATA 12.0.  

KẾT QUẢ 

Trong số 759 trẻ (của cả 3 nhóm) được khảo  sát  vào  năm  2004,  chúng  tôi  chỉ  còn  lại  585  trẻ  vào  lúc  kết  thúc  nghiên  cứu.  Tỷ  lệ  bỏ  cuộc  là  23%.  Phân  tích  các  đặc  tính  vào  lúc  bắt  đầu  nghiên cứu của nhóm trẻ bỏ cuộc và nhóm còn  lại  trong  nghiên  cứu  thì  thấy  không  khác  nhau  một cách có ý nghĩa. Trong số trẻ bỏ cuộc không  tham gia nghiên cứu đến năm cuối cùng, có 3 trẻ  thuộc  nhóm  1  (còn  27  trẻ),  7  trẻ  thuộc  nhóm  2  (còn  27  trẻ)  và  164  trẻ  thuộc  nhóm  3  (còn  531  trẻ). Đặc tính của các đối tượng vào lúc bắt đầu  nghiên  cứu  được  mô  tả  ở  Bảng  1.  Kết  quả  cho  thấy  2  nhóm  có  thời  gian  ngủ  ít  có  đặc  tính  không  khác  biệt  nhau  một  cách  có  ý  nghĩa.  Ngược lại, nhóm chứng có thời gian ngủ dài hơn 

rõ rệt. Thời gian dành cho hoạt động thể lực của  nhóm chứng hoàn toàn thấp hơn, trong khi thời  gian xem tivi thì nhiều hơn 2 nhóm có thời gian  ngủ ít vào lúc bắt đầu nghiên cứu.  

Bảng 1: Đặc điểm của các nhóm đối tượng ‐ phân chia theo thời gian ngủ lúc bắt đầu nghiên cứu (n=759)  

ngủ đủ (≥ 8giờ/ngày) (n=695)

Không tăng thời gian ngủ vào cuối nghiên cứu (n=30)

Có tăng thời gian ngủ vào cuối nghiên cứu (n=34)

Giới tính

Nam

Nữ

15 (50,0%)

15 (50,0%)

18 (52,2%)

16 (47,8%)

355 (51,1%)

340 (48,9%)

Trang 4

Nhóm có thời gian ngủ ít (≤ 6giờ/ngày) Nhóm có thời gian

ngủ đủ (≥ 8giờ/ngày) (n=695)

Không tăng thời gian ngủ vào cuối nghiên cứu (n=30)

Có tăng thời gian ngủ vào cuối nghiên cứu (n=34)

Cân nặng (kg)

BMI (kg/m2)

BDNGD** (cm)

CCVE*** (cm)

50,3 ± 12,6 19,1 ± 2,1 14,3 ± 5,9 65,8 ± 9,1

50,9 ± 12,7 18,9 ± 2,6 14,1 ± 5,6 63,9 ± 9,6

48,9 ± 13,3 17,7 ± 2,3 13,9 ± 5,6 60,5 ± 5,8

Thời gian dành cho hoạt động

thể lực (phút/ngày)

Thời gian xem tivi (phút/ngày) 75,7 ± 56,3 73,3 ± 55,4 85,3 ± 50,7

*TB± ĐLC = Trung bình±Độ lệch chuẩn, **BDNGD = Bề dày nếp gấp da, ***CVVE = Chu vi vòng eo 

Qua 5 năm khảo sát, nhóm 1 có sự gia tăng 

BMI và mỡ cơ thể hơn nhóm 2 (1,21±0,33 kg/m2 

và 2,36±0,54 kg, p<0,05). Tuy nhiên CVVE không 

khác  biệt  có  ý  nghĩa  giữa  nhóm  1  và  nhóm  2. 

Các  chỉ  số  của  tình  trạng  béo  phì  không  khác 

biệt một cách có ý nghĩa giữa nhóm 2 và nhóm 

3. Thời gian dành cho hoạt động thể lực vừa và  nặng không khác biệt một cách có ý nghĩa giữa  nhóm 1 và 2. Thay đổi thời gian ngủ qua 5 năm  của nhóm 1 là 0,13±0,24 giờ/ngày và của nhóm 2 

là 1,63±0,53 giờ/ngày (Bảng 2). 

Bảng 2: Thay đổi về thời gian ngủ, BMI, bề dày nếp gấp da, chu vi vòng eo của các nhóm đối tượng trong thời 

gian 5 năm 

Nhóm có thời gian ngủ ít (≤ 6giờ/ngày)

Nhóm có thời gian ngủ đủ (≥ 8giờ/ngày) (n=695) Không tăng thời gian ngủ

vào cuối nghiên cứu (n=30)

Có tăng thời gian ngủ vào cuối nghiên cứu (n=34)

*TB± ĐLC = Trung bình±Độ lệch chuẩn, **BDNGD = Bề dày nếp gấp da, ***CVVE = Chu vi vòng eo 

Bảng 3 trình bày mô hình thể hiện mối liên 

quan dọc giữa việc tăng thời gian ngủ (thay đổi 

thói quen từ ngủ ít sang ngủ đủ) và BMI lúc kết 

thúc  nghiên  cứu.  Số  liệu  được  trình  bày  với  sự 

có mặt (mô hình đa biến 2) và không có mặt của 

biến số BMI (mô hình đa biến 1) ở thời điểm bắt 

đầu  nghiên  cứu  để  đánh  giá  tác  động  của  việc 

thay  đổi  thời  gian  ngủ  lên  BMI  ở  lúc  kết  thúc 

nghiên cứu. Các biến số giới tính (nữ), trình độ 

học vấn của mẹ (cao), kinh tế gia đình (khá giả), 

thời  gian  xem  tivi,  thường  xuyên  uống  nước  ngọt  có  ga  có  liên  quan  thuận  với  sự  thay  đổi  BMI,  trong  khi  các  biến  số  hoạt  động  thể  lực,  thay  đổi  thói  quen  ngủ  (từ  ngủ  ít  sang  ngủ  đủ  vào lúc kết thúc nghiên cứu), thường xuyên  ăn  rau quả làm giảm BMI lúc kết thúc nghiên cứu. 

Sau  khi  hiệu  chỉnh  cho  các  yếu  tố  gây  nhiễu  khác, việc thay đổi thói quen ngủ làm giảm BMI  khoảng 0,48. 

Bảng 3: Hệ số hồi qui tuyến tính (và khoảng tin cậy 95%) của mô hình thể hiện mối liên quan dọc giữa thời gian 

ngủ và BMI lúc kết thúc nghiên cứu với các biến số khác ở những trẻ ngủ ít (n=64) 

Mô hình 2*

BMI lúc bắt đầu nghiên cứu 0,97 (0,87 - 1,15) - 0,91 (0,81 - 1,09)

Trang 5

Biến số Phân tích đơn biến Phân tích đa biến

Mô hình 2*

Thời gian ngủ (vẫn ngủ ít so với tăng

thời gian ngủ) −0,51 (−1,06 - −0,07) −0,48 (−0,96 - −0,01) −0,32 (−0,72 - −0,06) Giới tính (nữ so với nam) 0,45 (0,19 - 0,79) 0,53 (0,09 - 0,67) 0,65 (0,14 - 1,09) Trình độ học vấn của mẹ (cao so với

thấp)

0,52 (0,09 - 1,23) 0,56 (0,12 - 1,38) 0,59 (0,08 - 0,93) Kinh tế gia đình (giàu so với không

giàu)

0,10 (0,06 - 0,26) 0,12 (0,05 - 0,19) 0,11 (0,01 - 0,22) Thời gian dành cho hoạt động thể lực

(phút/ngày) −0,25 (−1,12 - −0,55) −0,27 (−1,29 - −0,38) −0,19 (−1,21 - −0,34) Thời gian xem tivi (phút/ngày) 0,31 (0,03 – 0,61) 0,26 (0,06 – 0,48) 0,15 (0,01 - 0,22) Uống nước ngọt có ga (thường xuyên

so với không thường xuyên)

1,25 (0,71 – 1,52) 1,28 (0,33 – 1,73) 1,19(0,58 – 1,54)

Ăn rau quả (thường xuyên so với

không thường xuyên)

−0,14(−0,23 - −0,07) −0,12 (−0,24 - −0,06) −0,15 (−0,21 - −0,09)

* Mô hình 1 không tính đến BMI của đối tượng lúc bắt đầu nghiên cứu, mô hình 2 có tính BMI lúc bắt đầu nghiên cứu 

BÀN LUẬN 

Nghiên  cứu  này  cho  thấy  việc  tăng  thời 

gian  ngủ  từ  ngủ  ít  sang  ngủ  đủ  sẽ  làm  giảm 

nhẹ bớt tình trạng tăng trọng. Cơ chế giải thích 

ảnh  hưởng  của  thời  gian  ngủ  ít  lên  sự  tăng 

trọng  của  cơ  thể  vẫn  còn  đang  được  xem  xét. 

Nhiều  báo  cáo  đã  chỉ  ra  rằng  việc  thiếu  ngủ 

làm  giảm  lượng  leptin  trong  máu,  đồng  thời 

tăng lượng ghrelin và cortisol, làm mất sự cân 

bằng  glucose  trong  máu,  kích  hoạt  hệ  thống 

orexin,  và  tất  cả  những  điều  này  sẽ  làm  tăng 

sự  ngon  miệng  và  tác  động  lên  sự  điều  hòa 

lượng thực phẩm lấy vào(17,16). Thiếu ngủ có thể 

đưa đến tình trạng tăng trọng và béo phì bằng 

cách gia tăng thời gian “dư thừa” để ăn và làm 

cho  việc  duy  trì  lối  sống  khỏe  mạnh  tích  cực 

trở nên khó khăn hơn. Đặc biệt nếu trong nhà 

luôn có sẵn thức ăn, lượng năng lượng lấy vào 

cơ  thể  có  thể  tỷ  lệ  thuận  với  thời  gian  thức, 

nhất là khi trẻ có thói quen ăn vặt và phần lớn 

thời gian thức là dành cho các hoạt động tĩnh 

như xem tivi, lướt mạng internet v.v (2). Thêm 

vào đó, tình trạng mệt mỏi do thiếu ngủ có thể 

làm  ảnh  hưởng  đến  hoạt  động  thể  lực  nói 

chung.  Từ  những  bằng  chứng  cho  thấy  việc 

ngủ  đủ  có  thể  là  một  yếu  tố  quan  trọng  giúp 

làm  giảm  cân,  chúng  ta  có  thể  thấy  rằng  can 

thiệp để giải quyết béo phì không chỉ nên tập 

Trẻ ngủ ít thật sự bị tăng nguy cơ béo phì.  Trong nghiên cứu này với 1 giờ tăng thời gian  ngủ  trẻ  sẽ  giảm  BMI  0,48  vào  năm  thứ  5.  Kết  quả  của  nghiên  cứu  này  tương  tự  với  nhiều  nghiên  cứu  cắt  dọc  khác,  trong  đó,  nguy  cơ  thừa  cân  béo  phì  của  trẻ  giảm  với  thời  gian  ngủ tăng lên (nguy cơ tương đối dao động từ  0,65  đến  0,8)(11,9).  Ngoài  ra  các  yếu  tố  nguy  cơ  của tăng BMI được tìm thấy trong nghiên cứu  này  cũng  tương  tự  như  những  nghiên  cứu  khác trên thế giới(5,1,7) 

Điểm  mạnh  của  nghiên  cứu  này  là  thiết  kế  nghiên cứu cắt dọc và việc sử dụng nhiều chỉ số  đánh giá khách quan tình  trạng  béo  phì  của  cơ  thể.  Tuy  vậy,  đề  tài  cũng  có  một  số  hạn  chế.  Trước hết, việc đánh giá thời gian ngủ dựa vào  bảng câu hỏi nên ít nhiều cũng bị sai lệch do nhớ  lại.  Ngoài  ra,  trong  nghiên  cứu  này  chúng  tôi  không khảo sát tại sao và làm thế nào những đối  tượng ngủ ít lại tăng thời gian ngủ. Đây cũng là  một vấn đề lý thú cần tìm hiểu sâu thêm. Và một 

số  yếu  tố  khác  có  thể  liên  quan  như  bệnh  đái  tháo  đường  không  được  khảo  sát  trong  nghiên  cứu này. 

Tóm lại, nghiên cứu này cho thấy việc tăng  thời gian ngủ từ ≤ 6giờ/ngày lên ≥ 8giờ/ngày đã  làm giảm bớt sự tăng trọng của cơ thể. Tuy vậy,  chúng ta thật sự cần phải thực hiện thêm các thử  nghiệm  ngẫu  nhiên  có  đối  chứng  để  đánh  giá 

Trang 6

bằng năng lượng, sự ngon miệng và chuyển hóa 

của cơ thể. 

Lời cảm ơn: Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn sự ủng hộ của Ban 

Giám  hiệu  trường  Đại  học  Y  khoa  Phạm  Ngọc  Thạch  và  Ban 

Giám đốc Trung tâm Dinh dưỡng TPHCM trong việc triển khai 

đề tài. Chúng tôi hết sức cám ơn sự hỗ trợ tích cực của các nhân 

viên  khoa  Dinh  dưỡng  Cộng  đồng  –  Trung  tâm  Dinh  dưỡng 

TPHCM, các bạn cộng tác viên của chương trình đã giúp chúng 

tôi hoàn thành nghiên cứu. Xin chân thành cám ơn Sở Giáo dục 

TPHCM, Ban Giám hiệu, Giáo viên chủ nhiệm các lớp thuộc 18 

trường  PTCS  TPHCM  được  chọn  tham  gia  trong  nghiên  cứu 

này. Số liệu phân tích trong bài báo này được rút ra từ kết quả 

của  nghiên  cứu  đoàn  hệ  5  năm  trên  học  sinh  cấp  2  TPHCM. 

Nhóm  nghiên  cứu  vô  cùng  cảm  kích  sự  đồng  hành  của  các  bậc 

phụ huynh và các em học sinh cùng với  chúng  tôi  trong  suốt  5 

năm vừa qua. Số liệu thu thập trong nghiên cứu này được thực 

hiện  với  sự  tài  trợ  của  Tổ  Chức  Nestle  (Nestle  Foundation)  ‐ 

Thụy sĩ. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Carter  PJ,  Taylor  BJ,  Williams  SM,  Taylor  RW  (2011) 

Longitudinal analysis of sleep in relation to BMI and body fat 

in children: the FLAME study. BMJ. 2011;342:d2712. 

2 Chaput  JP,  Klingenberg  L,  Astrup  A,  Sjodin  AM  (2011) 

Modern  sedentary  activities  promote  overconsumption  of 

food  in  our  current  obesogenic  environment.  Obesity 

Reviews. 2011 May;12(5):e12‐20. 

3 Chen  MY,  Wang  EK,  Jeng  YJ  (2006)  Adequate  sleep  among 

adolescents  is  positively  associated  with  health  status  and 

health‐related behaviors. BMC Public Health. 2006;6:59. 

4 Filmer  D,  Pritchett  LH  (2001)  Estimating  wealth  effects 

without  expenditure  data‐‐or  tears:  an  application  to 

educational enrollments in states of India. Demography. 2001 

Feb;38(1):115‐32. 

5 Foti  KE,  Eaton  DK,  Lowry  R,  McKnight‐Ely  LR  (2011) 

Sufficient  sleep,  physical  activity,  and  sedentary  behaviors. 

American  Journal  Preventive  Medicine.  2011  Dec;41(6):596‐

602. 

6 Gangwisch  JE  (2009)  Epidemiological  evidence  for  the  links 

between sleep, circadian rhythms and metabolism. Obes Rev. 

2009 Nov;10 Suppl 2:37‐45. 

7 Golley  RK,  Maher  CA,  Matricciani  L,  Olds  TS  (2013)  Sleep 

duration or bedtime? Exploring the association between sleep 

timing behaviour, diet and BMI in children and adolescents. 

Int J Obes (Lond). 2013 Apr;37(4):546‐51. 

8 Gupta  NK,  Mueller  WH,  Chan  W,  Meininger  JC  (2002)  Is  obesity associated with poor sleep quality in adolescents? Am 

J Hum Biol. 2002 Nov‐Dec;14(6):762‐8. 

9 Landhuis  CE,  Poulton  R,  Welch  D,  Hancox  RJ  (2008)  Childhood sleep time and long‐term risk for obesity: a 32‐year  prospective  birth  cohort  study.  Pediatrics.  2008  Nov;122(5):955‐60. 

10 Leproult R, Van Cauter E (2010) Role of sleep and sleep loss 

in  hormonal  release  and  metabolism.  Endocrine  Development. 2010;17:11‐21. 

11 Lumeng  JC,  Somashekar  D,  Appugliese  D,  Kaciroti  N,  Corwyn  RF,  Bradley  RH  (2007).  Shorter  sleep  duration  is  associated with increased risk for being overweight at ages 9 

to 12 years. Pediatrics. 2007 Nov;120(5):1020‐9. 

12 Nguyen Hoang Hanh Doan Trang, Tang Kim Hong, Dibley 

MJ  (2012)  Cohort  profile:  Ho  Chi  Minh  City  Youth  Cohort‐‐ changes  in  diet,  physical  activity,  sedentary  behaviour  and  relationship  with  overweight/obesity  in  adolescents.  BMJ  Open. 2012;2(1):e000362. 

13 Nielsen  LS,  Danielsen  KV,  Sørensen  TIA  (2011).  Short  sleep  duration as a possible cause of obesity: critical analysis of the  epidemiological evidence. Obesity Reviews. 2011;12(2):78‐92. 

14 Ozturk  A,  Mazicioglu  M,  Poyrazoglu  S,  Cicek  B,  Gunay  O,  Kurtoglu  S  (2009)  The  relationship  between  sleep  duration  and  obesity  in  Turkish  children  and  adolescents.  Acta  Paediatr. 2009 Apr;98(4):699‐702. 

15 Patel  SR  (2009)  Reduced  sleep  as  an  obesity  risk  factor.  Obesity Reviews. 2009 Nov;10 Suppl 2:61‐8. 

16 Spiegel  K,  Leproult  R,  LʹHermite‐Baleriaux  M,  Copinschi  G,  Penev PD, Van Cauter E (2004)Leptin levels are dependent on  sleep  duration:  relationships  with  sympathovagal  balance,  carbohydrate  regulation,  cortisol,  and  thyrotropin.  J  Clin  Endocrinol  Metab.  [Research  Support,  Non‐U.S.  Govʹt.Research  Support,  U.S.  Govʹt,  P.H.S.].  2004  Nov;89(11):5762‐71. 

17 Spiegel K, Tasali E, Leproult R, Van Cauter E (2009) Effects of  poor and short sleep on glucose metabolism and obesity risk.  Nature  Reviews  Endocrinology.  [10.1038/nrendo.2009.23].  2009;5(5):253‐61. 

18 Von  Kries  R,  Toschke  AM,  Wurmser  H,  Sauerwald  T,  Koletzko B (2002) Reduced risk for overweight and obesity in  5‐ and 6‐y‐old children by duration of sleep‐‐a cross‐sectional  study. Int J Obes Relat Metab Disord. 2002 May;26(5):710‐6. 

   

Ngày nhận bài báo      12‐04‐2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo:  24‐05‐2013  Ngày bài báo được đăng:     25–09‐2013 

 

Ngày đăng: 23/01/2020, 05:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w