1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Biến chứng rối loạn chức năng nút xoang sau phẫu thuật sửa chữa hồi lưu tĩnh mạch phổi bất thường bán phần

6 62 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 465,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Rối loạn chức năng nút xoang sau phẫu thuật sửa chữa hồi lưu bất thường tĩnh mạch phổi bán phần là một trong những biến chứng quan trọng trong giai đoạn hậu phẫu. Vì vậy, nghiên cứu tiến hành hồi cứu mô tả nhằm khảo sát tỉ lệ biến chứng này tại Viện Tim thành phố Hồ Chí Minh.

Trang 1

18 Takii Y, Shirai Y, Kanehara H (1994) Obstructive jaundice

caused by a cholesterol polyp of gallbladder: Report a case Jpn J

Surg 24, pp: 1104-1106

19 Trivedi V, Gumaste VV, Liu S, Baum J (2008) Gallbladder

cancer: Adenoma- carcinoma or dysplasia-carcinoma sequence

Gastroenterol Hepatol 4,10, pp: 735-741

20 Nguyễn Sào Trung (2003) Bệnh gan và đường mật, Bệnh học tạng và hệ thống Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh tr: 150-162

21 Yalcin S (2004) Carcinoma of gallbladder Orphanet : pp: 1-5

BIẾN CHỨNG RỐI LOẠN CHỨC NĂNG NÚT XOANG

SAU PHẪU THUẬT SỬA CHỮA HỒI LƯU TĨNH MẠCH PHỔI

BẤT THƯỜNG BÁN PHẦN

Tiêu Chí Đức*, Nguyễn Văn Phan**, Nguyễn Hoài Nam***

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Rối loạn chức năng nút xoang sau phẫu thuật sửa chữa hồi lưu bất thường tĩnh mạch phổi bán

phần là một trong những biến chứng quan trọng trong giai đoạn hậu phẫu Chúng tôi đã tiến hành hồi cứu mô

tả nhằm khảo sát tỉ lệ biến chứng này tại Viện Tim thành phố Hồ Chí Minh

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Tại Viện Tim thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2000 đến 2009, có

77 bệnh nhân (từ 6 tháng tuổi đến 53 tuổi, tuổi trung bình là 15,5 tuổi) được chẩn đoán là hồi lưu bất thường tĩnh mạch phổi bán phần (có kèm thông liên nhĩ) đã được phẫu thuật tất cả các bệnh nhân này trước mổ đều nhịp xoang Phương pháp phẫu thuật là dùng mảnh vá màng ngoài tim tự thân của bệnh nhân để đóng lỗ thông liên nhĩ, đồng thời hướng tĩnh mạch phổi về nhĩ trái

Kết quả: Về hình thái học bất thường 57 trường hợp tĩnh mạch phổi hồi lưu bất thường đổ về nhĩ phải,

14 trường hợp đổ về tĩnh mạch chủ trên, 4 trường hợp đổ về tĩnh mạch chủ dưới, còn lại 2 trường hợp đổ

về nhĩ phải và tĩnh mạch chủ trên Kết quả phẫu thuật cho thấy không có trường hợp nào có biểu hiện hẹp tĩnh mạch chủ trên hay tĩnh mạch phổi Ngay sau mổ có 4 trường hợp (5,2%) có biểu hiện rối loạn nhịp, đến thời điểm xuất viện thì chỉ còn 1 trường hợp (1,3%) Trong lần tái khám gần nhất của bệnh nhân thì tất cả đều về nhịp xoang bình thường

Kết luận: Với kết quả phẫu thuật như trên thì theo chúng tôi phương pháp dùng mảnh vá tự thân để đóng

lỗ thông liên nhĩ và hướng tĩnh mạch phổi về nhĩ trái cho kết quả tốt với tỷ lệ biến chứng thấp, duy trì được nhịp xoang sau mổ, về lâu dài thì bệnh nhân hồi phục tốt

Từ khóa: hồi lưu tĩnh mạch

ABSTRACT

SINUS NODE DYSFUNCTION AFTER REPAIR OF PARTIAL ANOMALOUS PULMONARY

VENOUS CONNECTION

Tieu Chi Duc,Nguyen Van Phan, Nguyen Hoai Nam

* Y hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 – No 1 – 2011: 88 - 93

Background and objective: Sinus node dysfunction is known as a major complication after repair of partial

anomalous pulmonary venous connection We retrospectively described the results of patch repair or direct suturing in the intra- atrial tunnel technique

* Khoa phẫu thuật Lồng ngực mạch máu BV Gia Định ** Viện Tim TP HCM

*** Bộ môn Phẫu thuật Lồng ngực và Tim mạch – ĐHYD TP HCM

Trang 2

Methods: Between 2000 and 2009, 77 patients (mean age, 15.5 years; range, 6 months- 53 years) with

partial anomalous pulmonary venous connection underwent surgical intervention All patients had normal sinus rhythm preoperatively The right anomalous venous pulmonary venous drained to either the right atrium or superior vena cava in 57 and 14 patients, respectively The right anomalous venous pulmonary venous drained to both of the right atrium and superior vena cava in 2 patients.The others drained to inferior vena cava All patients had repair with a patch in the intra- atrium technique

Results and discussion: No patients had signs of superior vena cava or pulmonary venous obstruction

within a mean follow- up of 2.7 years In the early posoperative period, sinus node dysfunction developed in 5.2% (4 patients) and was prolonged until dicherge in 1.3% (1 patient) At the most recent clinical visit, all patients had normal sinus rhythm

Conclusions: The intra- atrial technique with a patch or direct suture maintains normal sinus node

function posoperatively

Key word: venous connection

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh lý hồi lưu tĩnh mạch phổi bất thường

bán phần thì được Winlows mô tả đầu tiên vào

1739 Phương pháp điều trị hồi lưu tĩnh mạch

phổi bất thường bán phần bằng cách cắt thùy

phổi được báo cáo đầu tiên 1950

Năm 1953, Neptune và cộng sự đã báo cáo

về 17 trường hợp bệnh nhân có hồi lưu tĩnh

mạch phổi bất thường bán phần có kèm với

thông liên nhĩ đã được phẫu thuật Trường hợp

mổ sửa chữa hồi lưu tĩnh mạch phổi bất thường

bán phần đổ về tĩnh mạch phổi dưới được thực

hiện bởi Kirlin và cộng sự tại Mayo Clinic năm

1960 và cũng đã được báo cáo bởi Zubiate và

Kay năm 1962, bởi nhóm UAB vào năm 1971(5)

Về mặt phẫu thuật thì có rất nhiều phương

pháp sửa chữa hoàn toàn bệnh lý hồi lưu bất

thường tĩnh mạch phổi bán phần, nguyên tắc cơ

của phẫu thuật trong bệnh này là đóng lỗ thông

liên nhĩ và chuyển tĩnh mạch phổi bất thường về

nhĩ trái mà không gây các biến chứng như hẹp

tắc tĩnh mạch chủ trên hay tĩnh mạch phổi, hoặc

gây tổn thương nút xoang hay nguồn cung cấp

máu cho nút xoang

Theo y văn thì tỉ lệ rối loạn chức năng nút

xoang sau mổ dao động từ 0 - 33%(7) Chúng tôi

đã tiến hành nghiên cứu với phương pháp hồi

cứu mô tả kết quả phẫu thuật tại Viện Tim thành

phố Hồ Chí Minh trong thời gian từ 2000 đến

2009 với phương pháp mổ là dùng mảnh vá

bằng màng ngoài tim tự thân của bệnh nhân để đóng lỗ thông liên nhĩ, đồng thời hướng tĩnh mạch phổi bất thường về nhĩ trái (intra - atrial tunnel technique)

Với mục đích xác định những nguyên nhân của biến chứng rối loạn nút xoang sau phẫu thuật Để từ đó tìm ra phương pháp phòng ngừa trong phẫu thuật để tránh biến chứng này xảy ra

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tại Viện Tim thành phố Hồ Chí Minh có hồ

sơ của 77 bệnh nhân đã được phẫu thuật từ tháng 1/2000 đến 1/2009 để đưa vào nhóm nghiên cứu Bao gồm những bệnh nhân được chẩn đoán sau mổ là hồi lưu bất thường tĩnh mạch phổi bán phần có kèm thông liên nhĩ và các bệnh nhân sau khi xuất viện đã trở lại tái khám và được theo dõi ít nhất là 12 tháng

Thiết kế nghiên cứu

Hồi cứu mô tả

Số liệu được xử lý bằng phương pháp thống

kê, có sự hỗ trợ của phần mềm SPSS 13.0 Kết quả nghiên cứu trình bày bằng Microsoft Word

Phương pháp phẫu thuật

Phẫu thuật sửa chữa hồi lưu tĩnh mạch phổi bất thường bán phần có kèm thông liên nhĩ thường được thực hiện qua đường mở xương ức với sự hỗ trợ của máy tuần hoàn ngoài cơ thể có ngưng tim Màng ngoài tim sẽ được lấy rộng và

Trang 3

cố định bằng dung dịch Glutaraldehyde 0,6% để

dùng đóng lỗ thông liên nhĩ

Tĩnh mạch chủ trên sẽ phải được bộc lộ rộng

rãi, cao về phía đầu để thấy rõ tĩnh mạch phổi

bất thường, tĩnh mạch đơn và tĩnh mạch thân

tay đầu Kiểm tra xem có tĩnh mạch chủ trên bên

phải không, vì đôi khi phải đặt cannula trên tĩnh

mạch chủ trên trái để thiết lập tuần hoàn ngoài

cơ thể

Đặt cannula tĩnh mạch chủ trên ở đây là

một động tác tương đối quan trọng để ta có

thể thao tác trong lúc mổ, cannula phải được

đặt đủ cao, đôi khi có thể phải đặt trên tĩnh

mạch thân tay đầu

Thiết lập xong tuần hoàn ngoài cơ thể, tiến

hành ngưng tim, bơm dung dịch liệt tim sau khi

kẹp động mạch chủ, thân nhiệt thường duy trì ở

25 - 32oC Nhĩ phải sẽ được mở từ tiểu nhĩ

hướng về phía tĩnh mạch chủ dưới nhằm tránh

làm tổn thương nút xoang và động mạch nút

xoang Trong trường hợp có hẹp chỗ tiếp nối

giữa tĩnh mạch chủ trên- nhĩ phải, thì ta sẽ thực

hiện mở rộng chỗ hẹp bằng phương pháp V-Y(5)

Việc chuyển tĩnh mạch phổi bất thường về

nhĩ trái được thực hiện đồng thời khi ta đóng

thông liên nhĩ, mảnh màng tim sẽ được dùng để

đóng lỗ thông và đồng thời như một tấm vách

(baffle) để hướng tĩnh mạch phổi bất thường về

bên trái(6,8)

Kỹ thuật mổ

Đối với đường mở vào khoang nhĩ phải sẽ

tùy thuộc vào vị trí của tĩnh mạch phổi trên, nếu

tĩnh mạch phổi trên đổ vào ngay chỗ nối giữa

tĩnh mạch chủ trên và nhĩ phải, hoặc ngay phía

trên thì ta chọn đường (a), còn nếu tĩnh mạch

phổi trên đổ vào tĩnh mạch chủ trên ở phía trên

cao thì ta chọn đường (b) (hình 1), khi thực hiện

đường mổ này thì ta phải cẩn thận vì có nhiều

khả năng sẽ làm tổn thương nút xoang(8)

Khi đã vào khoang nhĩ phải, ta sẽ dùng

màng ngoài tim vừa để đóng lỗ thông liên nhĩ,

vừa để hướng dòng máu từ tĩnh mạch phổi trên

về nhĩ trái Nếu như lỗ thông liên nhĩ nhỏ thì

phải mở rộng nó ra nhằm tránh gây hẹp sau đó

Hình 1: Các đường vào nhĩ phải (8) (Nguồn : Surgery For Congenital Heart Defect - J Stark and V T Tsang)

Lúc đóng nhĩ phải người ta cũng thường dùng thêm mảnh màng ngoài tim để hạn chế nguy cơ gây hẹp tắc tĩnh mạch chủ trên (hình 1)

Theo dõi sau mổ

Các bệnh nhân sau mổ được theo dõi với thời gian trung bình là 2,7 ± 1,6 năm (ngắn nhất

là 1 năm và dài nhất là 8,5 năm)

Bệnh nhân sẽ được ghi nhân kết quả điện tâm đồ tại các thời điểm: ngay sau mổ, thời điểm xuất viện, và thời điểm tái khám gần nhất

Chẩn đoán hội chứng rối loạn chức năng nút xoang sau mổ

Được biết đến như một biến chứng lớn sau khi phẫu thuật sửa chữa hồi lưu tĩnh mạch phổi bất thường bán phần nguyên nhân có thể là do tổn thương nút xoang hoặc tổn thương mạch máu cung cấp cho nút xoang(9)

Biểu hiện của rối loạn chức năng nút xoang thì đa dạng, có thể ở những dạng sau(10)

Nhịp chậm xoang

Ở người trưởng thành, nhịp chậm xoang được định nghĩa là khi nhịp tim chậm hơn 60 nhịp/ phút và là nhịp xoang

Còn ở trẻ em thì định nghĩa nhịp chậm xoang là khi nhịp xoang chậm hơn 2 lần so với

độ lệch chuẩn của nhịp tim cho phép tính theo tuổi

Chú ý nhịp chậm xoang có thể thấy ở những người tập luyện thể thao nhiều

Trang 4

Khi ngủ thì nhịp thường sẽ chậm đi khoảng

35 - 40 nhịp/ phút

Nhịp chậm xoang còn có thể thấy ở một số

bệnh lý khác như chứng chán ăn do thần kinh,

hạ thân nhiệt, giảm áp lực nội sọ…

Nút xoang ngưng phát nhịp tạm thời (Sinus

pause)

Sẽ có những khoảng P-P không bằng với các

khoảng P-P khác, thường thì khoảng 3 giây trở

lên là bệnh lý

Khi hiện tượng đó xảy ra trong vài nhát bóp,

thì chỗ đó có một khoảng ngừng tim

Khi hiện tượng đó xảy ra liên tục, thường

xuyên thì ta có dạng bất thường khác đó là nhịp

bộ nối

Nhịp bộ nối chiếm ưu thế

Xảy ra khi nút xoang phát xung động quá

chậm hoặc không phát xung được

Có thể là nhịp bộ nối hoàn toàn, hay chỉ là

phân ly nhĩ- thất hoặc nhịp thoát bộ nối

Các biểu hiện rối loạn chức năng nút xoang

sau phẫu thuật sẽ có thể hồi phục sau đó, có

một số bệnh nhân bị rối loạn nặng hoặc lâu dài

cần phải đặt máy kích nhịp vĩnh viễn

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tỉ lệ Nữ: Nam = 2.1 :1

Tuổi trung bình 15,5 ± 13,7 tuổi

Cân nặng trung bình: 26,1 ± 16,5 Kg

Bảng 1: Hình thái bất thường của tĩnh mạch phổi

Bảng 2: Hướng hồi lưu của tĩnh mạch phổi

TMP bất thường đổ về TMC trên và

Thời gian chạy máy tim phổi nhân tạo (phút): Trung bình: 45,7 ± 14

Thời gian kẹp ĐM chủ (phút): Trung bình:

29 ± 9,9

Thời gian điều trị tại hồi sức tích cực: Trung bình : 2,1 ± 0,6 ngày

Thời gian thở máy: Trung bình: 6±3,9 giờ

Biến chứng loạn nhịp

Ngay sau mổ có 4 bệnh nhân (5,2%) không

có nhịp xoang với 1 ca rung nhĩ, còn 3 ca còn lại thì nhịp bộ nối

Tại thời điểm xuất viện trong 4 bệnh nhân mất nhịp xoang sau mổ thì chỉ còn 1 bệnh nhân chưa trở về nhịp xoang, bệnh nhân này vẫn còn nhịp bộ nối

Tại thời điểm tái khám gần nhất thì tất cả bệnh nhân đều về nhịp xoang

Bảng 3: biểu hiện trên điện tâm đồ

Rối loạn nhịp Nhịp xoang

bình thường

Rối loạn chức năng nút xoang

Rối loạn do nguyên nhân khác

Tái khám gần

BÀN LUẬN

Nguyên nhân chủ yếu là do đường xẻ trên nhĩ phải và đường xẻ trên tĩnh mạch chủ trên gây tổn thương nút xoang hoặc động mạch nuôi nút xoang Nút xoang nằm trước bên tại vị trí tiếp nối giữa tĩnh mạch chủ trên và tiểu nhĩ phải, kích thước khoảng 15x5x1,5 mm (Hình 2), còn động mạch nút xoang là nhánh xuất phát từ động mạch vành phải (55%) hoặc từ nhánh Cx của động mạch vành trái (65%)(4) (hình 3) Tuy nhiên đôi khi nút xoang và động mạch nút xoang không bị thương tổn, nhưng do trong quá trình phẫu thuật các bác sĩ phẫu thuật thao tác đụng chạm, giằng kéo, bộc lộ khu vực nút xoang quá nhiều, quá mạnh gây phù nề nút xoang, thì cũng gây loạn nhịp xoang sau mổ

Trang 5

Những biểu hiện rối loạn nhịp xoang có thể

là nhịp nhanh xoang, nhịp chậm xoang, nút

xoang ngừng phát nhịp tạm thời, nhịp bộ nối

…trong đó ta cần phân biệt khi nhịp nhanh

xoang thì thường không phải là do tổn thương

nút xoang, mà thường là do đường xẻ trên nhĩ

phải gây ra, còn tổn thương nút xoang thường

gây rối loạn chức năng nút xoang biểu hiện nhịp

chậm xoang, nhịp bộ nối(3)…

Hình 2 Vị trí giải phẫu nút xoang (2) (Nguồn:

Sabiston and Spencer - Surgery of the Chest - 7th

Edition).

Hình 3 Đường đi của động mạch nút xoang (8)

(Nguồn: Surgery For Congenital Heart Defect - J

Stark and V T Tsang)

Những biến chứng này thường không ảnh

hưởng đến tính mạng của bệnh nhân, nhưng nó

gây ra những khó khăn trong giai đoạn hậu

phẫu và về lâu dài, ảnh hưởng đến kết quả phẫu

thuật của chúng ta Nếu nguyên nhân là do phù

nề, thì tình trạng này có thể hồi phục sau vài

tuần, điều trị nội khoa, ta có thể cho kháng viêm

chống phù nề giúp bệnh nhân hồi phục nhanh

hơn, có thể dùng một số thuốc chống loạn nhịp,

nhưng nếu nút xoang bị tổn thương thực thể thì tình trạng sẽ khó hồi phục, theo dõi bệnh nhân sau ba tuần nếu tình trạng rối loạn nhịp không cải thiện và chiều hướng nặng nề hơn, gây ảnh hưởng huyết động thì cần xem xét chỉ định đặt máy tạo nhịp vĩnh viễn

Trong những bệnh nhân nghiên cứu của chúng tôi, do tỉ lệ tĩnh mạch hồi lưu về nhĩ phải chiếm đa số, cho nên trong cuộc mổ số trường hợp phải xẻ cao lên tĩnh mạch chủ trên cũng ít, chính vì vậy đã hạn chế được biến chứng gây tổn thương nút xoang

Trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi có bốn bệnh nhân sau mổ có vấn đề rối loạn nhịp trong đó có ba bệnh nhân xuất hiện nhịp bộ nối ngay sau khi mổ (3,9%), không ảnh hưởng huyết động, chỉ dùng máy tạo nhịp tạm thời ở chế độ dự phòng như thường lệ và cả ba khi xuất viện đều trở về nhịp xoang Điểm lưu ý ở đây là cả ba bệnh nhân này có những điểm tương đồng liên quan đến phẫu thuật là: tĩnh mạch phổi bất thường đổ về tĩnh mạch chủ trên, thông liên nhĩ thể lỗ thứ phát, trong quá trình phẫu thuật đều có xẻ lên thân tĩnh mạch chủ trên Còn bệnh nhân còn lại trong nhóm này có tĩnh mạch phổi đổ về nhĩ phải, thông liên nhĩ thể xoang tĩnh mạch chủ trên, sau mổ bệnh nhân có nhịp xoang, diễn tiến đến ngày hậu phẫu thứ năm thì xuất hiện cơn rung nhĩ, ảnh hưởng huyết động nên bệnh nhân đã được chuyển nhịp bằng Cordarone, sau ba ngày thì về nhịp bộ nối Khi bệnh nhân xuất viện vẫn còn nhịp bộ nối, sau một tháng bệnh nhân đến tái khám thì đã về nhịp xoang Như vậy, có khả năng là chỉ có ba trường hợp đầu, rối loạn nhịp mới là do phẫu thuật, ở đây có khả năng chỉ là do đụng chạm trong lúc mổ gây phù nề nút xoang, nên sau vài ngày hậu phẫu thì nút xoang được hồi phục Trường hợp bệnh nhân còn lại, rối loạn nhịp có thể không phải là do phẫu thuật mà là do nguyên nhân khác, chẳng hạn như rối loạn điện giải hoặc một nguyên nhân nội khoa nào khác

Trang 6

Tham khảo kết quả nghiên cứu của một tác

giả ở Thổ Nhĩ Kỳ(1), nghiên cứu của ông gồm 27

bệnh nhân từ 1991 đến 12/ 2001, tất cả đều là hồi

lưu bất thường tĩnh mạch phổi bán phần thể

xoang tĩnh mạch, kết quả phẫu thuật có 4 bệnh

nhân (14,8%) bị rối loạn chức năng nút xoang

sau mổ, 4 ca (14,8%) bị rung nhĩ sau mổ Xem ra

thì tỉ lệ biến chứng rối loạn nhịp trong nhóm

nghiên cứu của tác giả này là khá cao, theo báo

cáo của Shahriari và cộng sự thì tỉ lệ biến chứng

này dao động khoảng từ 0 - 33% tùy thuộc vào

phương pháp mổ của từng trung tâm Như vậy

tỉ lệ rối loạn nhịp sau mổ trong lô nghiên cứu

của chúng tôi khá thấp

KẾT LUẬN

Về khía cạnh phẫu thuật bệnh lý hồi lưu bất

thường tĩnh mạch phổi bán phần có kèm thông

liên nhĩ phức tạp hơn nhiều so với trong bệnh lý

thông liên nhĩ đơn thuần, nếu thái độ xử lý

phẫu thuật không khéo léo, đúng mực, thì có

thể sẽ ảnh hưởng đến tính mạng bệnh nhân

hoặc làm cho bệnh nhân phải chịu nhiều cuộc

phẫu thuật

Do đó đối với bệnh lý này cần được xử lý

bởi một bác sĩ phẫu thuật có kinh nghiệm và

một đội ngũ các y bác sĩ gây mê hồi sức để có

thể phát hiện và xử lý kịp thời những biến

chứng ngay tại phòng mổ, tránh để tình trạng

xử lý chậm khi các biến chứng xảy ra đã gây ảnh

hưởng tới huyết động học, khi đó tỉ lệ tử vong

sẽ tăng lên và dù nếu có thể giải quyết được thì

bệnh nhân cũng phải chịu nhiều hậu quả như

thời gian hậu phẫu sẽ kéo dài ảnh hưởng đến

sức khỏe và tăng chi phí điều trị

Với phương pháp mổ là sử dụng mảnh

màng ngoài tim tự thân để đóng lỗ thông liên

nhĩ đồng thời hướng tĩnh mạch phổi về nhĩ trái (Intra - Atrial tunnel technique) Phương pháp phẫu thuật này cho kết quả tốt với tỷ lệ biến chứng thấp, duy trì nhịp xoang sau mổ, bệnh nhân hồi phục sức khỏe trở về cuộc sống bình thường Đây là ưu điểm của phương pháp điều trị nếu đem so sánh với kết quả điều trị của các tác giả khác trên thế giới

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bingol H, Cingoz F, et al (2003) "The relationship between rhythm disturbances and incisions in adult sinus venosus atrial

septal defect" Anadulo kardiyol derg,Vol 3, pp 309 -12

2 Caldarone CA (2005) "Surgical Considerations In Pulmonary

Vein Anomalies" Sabiston & Spencer Surgery of the Chest, Vol 2,

pp 1945-57

3 Geva T and Van Praagh S (2008) "Anomalies of the Pulmonary

Veins" Moss and Adams' Heart Disease in Infants, Children, and Adolescents: Including the Fetus and Young Adults, Lippincott

Williams & Wilkins, Vol 1, pp 763

4 Kouchoukos NT, Blackstone EH, et al (2003) "Anatomy, Dimensions, Terminology" Kirklin/Barratt-Boyes- Cardiac Surgery, Churchill Livingstone, USA, Vol 1, pp 17,27

5 Kouchoukos NT, Blackstone EH, et al (2003) "Atrial Septal Defect And Partial Anomalous Pulmonary Venous Connection"

Kirklin/Barratt-Boyes- Cardiac Surgery, Churchill Livingstone,

USA, Vol 1, pp 715 - 52

6 Mackenzie JW, Sloan H, et al (1962) "Techniques for Correction

of Partial Anomalous Pulmonary" Annals of Surgery, Vol 156, pp

9-11

7 Shahriari A, Rodefeld MD, et al (2006) "Caval Division Technique for Sinus Venosus Atrial Septal Defect with Partial

Anomalous Pulmonary Venous Connection" Ann Thorac Surg,

Vol 81, pp 224- 30

8 Stark J and Tsang VT (2006) "Secundum Atrial Septal Defect and Partial Anomalous Pulmonary Venous Return" Surgery for Congenital Defect, John Wiley & Sons Ltd, The Atrium, Southern Gate, Chichester, West Sussex PO198SQ, England, pp 343- 54

9 Takahashi H, Oshima Y, et al (2008) "Sinus Node Dysfunction After Repair Of Partial Anomalous Pulmonary Venous

Connection" The J Thorac Cardiovasc Surg, Vol 136, pp 329 -34

10 Zipes DP (1996) "Specific Arrhythmias Diagnosis and

Treatment" Braunward- Heart Disease, W.B Saunders Company,

USA, pp 46- 50

Ngày đăng: 23/01/2020, 05:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm