1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bước đầu ứng dụng kỹ thuật tế bào dòng chảy trong chẩn đoán bệnh tiểu huyết sắc tố kịch phát về đêm

7 83 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 393,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của đề tài nghiên cứu nhằm đánh giá vai trò của kỹ thuật tế bào dòng chảy trong chẩn đoán và tầm soát bệnh tiểu huyết sắc tố kịch phát về đêm (PNH). Và nghiên cứu tiến hành nghiên cứu trên những bệnh nhân nghi ngờ có bệnh tiểu huyết sắc tố về đêm và suy tủy tại bệnh viện Truyền Máu Huyết Học.

Trang 1

BƯỚC ĐẦU ỨNG DỤNG KỸ THUẬT TẾ BÀO DÒNG CHẢY

TRONG CHẨN ĐOÁN BỆNH TIỂU HUYẾT SẮC TỐ KỊCH PHÁT VỀ ĐÊM

Trần Thị Thiên Kim*, Nguyễn Thụy Loan Chi**, Nguyễn Phương Liên***, Nguyễn Hồng Điệp***,

Nguyễn Thị Kim Yến***

TÓM TẮT

Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá vai trò của kỹ thuật tế bào dòng chảy trong chẩn đoán và tầm soát bệnh tiểu huyết sắc tố kịch phát về đêm (PNH)

Phương pháp nghiên cứu: Phân tích hàng loạt ca Sử dụng các kháng thể đơn dòng có gắn huỳnh quang

và phân tích bằng hệ thống máy FACS Canto II trên phần mềm Diva Tiến hành nghiên cứu trên những bệnh nhân nghi ngờ có bệnh tiểu huyết sắc tố về đêm và suy tủy tại bệnh viện Truyền Máu Huyết Học

Kết quả: Có 16 bệnh nhân được phân tích dấu ấn miễn dịch bằng kỹ thuật tế bào dòng chảy Tuổi trung vị

22, tỉ lệ nam nữ là 1:1 Có 4 bệnh nhân giảm 2 dòng tế bào trong đó có 2 bệnh nhân được chẩn đoán suy tủy Anti CD59 tỏ ra nhạy hơn anti CD55 trong việc tầm soát dòng tế bào bị đột biến Tỉ lệ thiếu CD14 là 50% và CD16 là 42% các trường hợp được khảo sát Trường hợp thiếu một CD trên một dòng tế bào là 44%, các trường hợp này cần theo dõi thêm Bệnh nhân suy tủy không có dấu hiệu tán huyết nội mạch và chỉ có một ca phát hiện thiếu hụt một CD trên một dòng tế bào.Trong số bệnh nhân thiếu máu tán huyết được xác định chắc chắn là PNH thiếu hụt 2 CD trên 2 dòng tế bào có 62,5% tiểu Hb và 75% test Hamdacie dương tính

Kết luận: Kỹ thuật xác định Dấu ấn miễn dịch bằng phương pháp tế bào dòng chảy (Flow cytometry) có thể

thực hiện tầm soát dễ dàng và chính xác bệnh PNH Cần lựa chọn đối tượng bệnh nhân thích hợp để tránh bỏ sót bệnh Trường hợp chỉ thiếu hụt một CD trên một dòng tế bào cần theo dõi thêm vì chưa thể khẳng định là PNH

Từ khoá: Kỹ thuật tế bào dòng chảy, bệnh PNH, protein gắn neo GPI, tiểu hemoglobin, Hamdacie test

Viết tắt: Bệnh PNH: bệnh tiểu huyết sắc tố kịch phát về đêm; neo GPI: protein glycophosphatidylinositol gắn

ở màng tế bào; tiểu Hb: tiểu huyết sắc tố

ABSTRACT

INITIAL APPLICATION OF FLOW CYTOMETRY IN THE DIAGNOSIS OF PAROXYMAL

NOCTURNAL HEMOGLOBINURIA

Tran Thi Thien Kim, Nguyen Thuy Loan Chi, Nguyen Phuong Lien, Nguyen Hong Diep,

Nguyen Thi Kim Yen * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 4 - 2011: 481 - 487

Objective: Accessing the role of the Flow cytometry in the diagnosis and screening for the Paroxymal

nocturnal hemoglobinuria

Method: Case series We used many fluorescence monoclonal antibodies and analysed the blood samples of

patients who were suspected of having PNH or aplastic anemia on FACS Canto II with Diva software at Blood Transfusion and Hematology Hospital

Results: There are 16 patients were analysed immunophenotypes by flow cytometry The median age is 22;

* Khoa Phòng khám, bệnh viện Truyền Máu Huyết Học TP.HCM

** Bộ môn Sinh Hóa, ĐHYK Phạm Ngọc Thạch TP.HCM

*** Bộ phận Dấu ấn miễn dịch, Khoa Miễn Dịch, bệnh viện Truyền Máu Huyết Học TP.HCM

Trang 2

male and female ratio is 1:1 There are four patients who had cytopenia in two lineages in which two were diagnosed aplastic anemia Anti CD59 proved more sensitive in screening the mutant clones than CD55 The rate

of deficiency CD14 is 50% and CD16 is 42% of the survey cases Cases lacking of one CD on one lineage account for 44%, these cases should be monitored longer Bone marrow failure patients had no sign of intravascular hemolysis and only one case (50%) was found lacking of one CD on one lineage Among patients who had a certain diagnosis of PNH (having two CD on two lineages) the symptoms hemoblobinuria make up 62.5% and Hamdacie test posive make up 75%

Conclusion: Technique for indentyfying immunophenotypes by Flow cytometry can easily and correctly

screen PNH disease Nessesary to select approriate patients to avoid missing diagnosis Cases lacking only one

CD on one lineage should be monitored more, it could not confirm PNH in these cases

Keywords: flowcytometry, paroxymal nocturnal hemoglobinuria, protein linked to GPI anchors,

hemoglobinuria, Hadacie test

PNH: paroxymal nocturnal hemoglobinuria, GPI: glycophosphatditylinositol

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tiểu huyết sắc tố kịch phát về đêm (PNH) là

một bệnh lý hiếm gặp liên quan đến rối loạn

mắc phải của tế bào gốc tạo máu Nguyên nhân

là do sự đột biến thể xô-ma trên gen PIG-A liên

kết với NST-X, dẫn đến sự thiếu hụt một phần

hoặc hoàn toàn những protein thường liên kết

với màng tế bào bởi neo GPI (GPI-AP) như

CD55 và CD59 Mặc dù PNH hiếm gặp nhưng

việc tầm soát và chẩn đoán chính xác bệnh là rất

quan trọng, vì PNH là một bệnh mãn tính kéo

dài trong nhiều năm và có ảnh hưởng rất lớn

đến chất lượng cuộc sống và biến chứng của

bệnh có thể ảnh hưởng đến sự sống còn của

bệnh nhân(1)

Trong vòng 20 năm qua, trên thế giới người

ta đã ứng dụng kỹ thuật xác định Dấu ấn miễn

dịch bằng phương pháp tế bào dòng chảy (Flow

cytometry) để tầm soát, chẩn đoán và theo dõi

bệnh PNH vì đây là một xét nghiệm có tính đặc

hiệu, nhạy và nhanh chóng PNH là một bệnh lý

rối loạn tạo dòng của tế bào gốc tạo máu Hậu

quả là tất cả các dòng tế bào máu đều bị ảnh

hưởng Vì vậy để tránh bỏ sót cần phải khảo sát

sự thiếu hụt các protein gắn GPI trên các dòng tế

bào máu Hiện nay dòng hồng cầu, bạch cầu hạt

và bạch cầu đơn nhân được chọn lựa để khảo

sát các protein bề mặt này(2)

Tại bộ phận Dấu ấn miễn dịch (thuộc Khoa

Miễn dịch – Bệnh viện Truyền máu huyết học

TP Hồ Chí Minh), từ tháng 03 năm 2011 đến nay đã bắt dầu áp dụng kỹ thuật xác định Dấu

ấn miễn dịch bằng phương pháp tế bào dòng chảy (Flow cytometry) trên 16 bệnh nhân để tầm soát và chẩn đoán chính xác bệnh PNH Chúng tôi tổng kết dưới đây một số kết quả thu được từ việc tiến hành phương pháp chẩn đoán này

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu

Phân tích hàng loạt ca

Dân số nghiên cứu

Những bệnh nhân thiếu máu tán huyết và suy tủy tại bệnh viện TMHH TP HCM

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Bệnh nhân nghi ngờ PNH cần tầm soát bằng flow cytometry theo khuyến cáo của Nhóm vì quyền lợi của bệnh nhân PNH quốc tế (I-PIG)(7):

- Tiền sử tiểu huyết sắc tố từng đợt

- Có bằng chứng tán huyết nội mạch Coombs’test âm tính không do hồng cầu hình cầu (phải có mức LDH tăng cao)

- Bệnh nhân suy tủy (tầm soát mỗi năm ngay

cả khi không có tán huyết nội mạch)

- Bệnh nhân chẩn đoán loạn sinh tủy với thể thiếu máu khó chữa (RA) hoặc thể giảm 3 dòng khó chữa (RCMD)

- Bệnh nhân có tắc mạch vị trí đặc biệt (thường có bằng chứng tán huyết nội mạch): hội

Trang 3

chứng Budd-Chiari, tắc tĩnh mạch trong ổ bụng,

tĩnh mạch não

Tiêu chuẩn loại trừ

Những bệnh nhân không nằm trong tiêu

chuẩn chọn bệnh

Kỹ thuật

Đối với dòng hồng cầu

Pha loãng mẫu máu ngoại vi (được giữ

trong ống chống đông EDTA Vaccutainer®) với

PBS theo tỉ lệ 1:150 và trộn đều, sau đó đem

nhuộm với CD55-APC và CD59-PE khoảng 15

phút ở nhiệt độ phòng trong bóng tối, sau đó ly

tâm và rửa với PBS 2 lần rồi tạo dịch huyền phù

để phân tích

Đối với dòng bạch cầu hạt và dòng mono

Sử dụng mẫu máu ngoại vi (được giữ trong

ống chống đông EDTA Vaccutainer®) đem

nhuộm với các kháng thể đơn dòng gắn huỳnh

quang (bao gồm: CD14-FITC/ CD45-Per.CP/

CD55-APC và CD16-FITC/ CD59-PE/

CD45-Per.CP) khoảng 15 phút ở nhiệt độ phòng trong

bóng tối Sau đó, loại bỏ hồng cầu bằng dung

dịch ammonium chloride và rửa rồi tạo dịch

huyền phù để phân tích

Cuối cùng các mẫu đã được xử lý sẽ được

thu thập qua hệ thống máy FACS Canto II và

được phân tích trên phần mềm FACSDiva

verson 2.1 của hãng Becton Dickinson (Mỹ)

Phân tích số liệu

Sử dụng phần mềm Stata để phân tích thống

KẾT QUẢ

Bảng 1: Đặc điểm của bệnh nhân

Đặc điểm nền

Tuổi lúc chẩn đoán (trung vị) (năm) 22 (19,5 – 40)

3,16)

9,3)

308)

Đặc điểm nền

10,56)

Bilirubin trực tiếp (umol/L) 7,96 (5,45 – 10,1)

ANA: (n = 13)

Chẩn đoán: (n = 16)

Bảng 2: Kết quả phân tích Dấu ấn miễn dịch

(DAMD)

Tỉ lệ dương tính với các CD

Dòng hồng cầu

hạt

55

CD

59

CD

55

CD

59

CD

14

CD

55

CD

59

CD

16

<10% 0 (0) 0 (0) 3 (19) 0 (0) 5

(36)

6 (38) 1 (6) 5 (42)

10% -

<50%

2 (15) 1 (8) 5 (31)8 (50) 1 (7) 2 (12)7 (44) 0 (0)

50% -

<90%

4 (31)5 (38) 1 (6) 7 (44) 1 (7) 0 (0) 4 (25) 0 (0)

(50)

8 (50)4 (25)7 (58)

Ghi chú:  90%: bình thường,  50% - <90%: giảm ít,  10% - < 50%: giảm nhiều, < 10%: mất

Dựa vào tỉ lệ dương tính với các CD trên các dòng tế bào máu (hồng cầu, mono và myelo) chúng tôi chia bệnh nhân thành các nhóm theo kết quả Dấu ấn miễn dịch như sau:

- Nhóm I: Chưa ghi nhận sự thiếu hụt các

CD trên các dòng tế bào máu

- Nhóm II: Ghi nhận sự thiếu hụt đối với 1 loại CD hoặc đối với 1 dòng tế bào máu

- Nhóm III: Ghi nhận sự thiếu hụt từ 2 CD trở lên đối với 2 dòng tế bào máu trở lên

Trang 4

Bảng 3: Đặc điểm của các bệnh nhân thiếu máu tán

huyết và suy tủy

Thiếu máu tán huyết n = 14 (%)

Suy tủy n

= 2 (%)

Coombs’ test:

Hamdacie test:

Kết quả DAMD:

* Không ghi nhận ca tắc mạch và ca nhiễm trùng nào

Bảng 4: So sánh các đặc điểm của bệnh nhân thiếu

máu tán huyết (14 ca)

n = 14 (%) tiểu Hb không tiểu

Hb

tiểu Hb không tiểu

Hb

Ngoài ra, chúng tôi ghi nhận được một

trường hợp có xét nghiệm Coombs dương,

Hamdacie âm và kết quả phân tích Dấu ấn miễn

dịch thuộc nhóm II

BÀN LUẬN

Trong nghiên cứu của chúng tôi có tổng

cộng 16 bệnh nhân, hầu hết trẻ tuổi tập trung ở

thập niên thứ 2, thứ 3 của cuộc đời (tuổi trung vị

22) Theo y văn của thế giới bệnh có thể gặp ở

tất cả mọi lứa tuổi tập trung ở lứa tuổi 30-40(7)

Một nghiên cứu trên 2 dân số Mỹ và Nhật cho

thấy lứa tuổi của bệnh nhân Mỹ trẻ hơn châu Á

(tuổi trung bình 30 so với 42)(6) Một nghiên cứu

khác của Trung Quốc cho thấy tuổi trung bình

khởi phát PNH là 34(10) Như vậy so sánh với

những số liệu này bệnh nhân của chúng tôi trẻ

hơn Có thể do mẫu khảo sát quá ít (chỉ có 16

bệnh nhân) nên không phản ánh đúng tính chất

dịch tễ của bệnh Ngoài ra có thể do điều kiện

môi trường khác biệt mà lứa tuổi của bệnh nhân chúng tôi trẻ hơn

Về phân bố giới tính, tỉ lệ là 1:1 tương đương với các nghiên cứu khác(6,7,10)

Đa số những bệnh nhân này thiếu máu mức

độ nặng Hb trung bình 6,67g/dl (3,7-9,3g/dl) trong khi dòng tiểu cầu (trung bình 173,8 ± 83)

và bạch cầu (trung bình 5,06 ± 2,39) vẫn còn tương đối bình thường Điều này là do chỉ có 2

ca trong số 16 ca có chẩn đoán ban đầu là suy tủy trong khi 14 ca còn lại được chẩn đoán thiếu máu tán huyết Các ca PNH điển hình với thiếu máu tán huyết thường có mức tiểu cầu và bạch cầu bình thường(7) Một nghiên cứu ở Mỹ và Nhật cho thấy trị số Hb trung bình là 8,2 ± 0,2 ở người Nhật và 9,2 ± 0,2 g/dl ở người Mỹ(6) Sự khác biệt này có thể là do điều kiện về kinh tế và chăm sóc sức khỏe ban đầu, người Việt Nam thường có sự chịu đựng lâu hơn trước khi đến

cơ sở y tế vì vậy mức độ khởi phát bệnh trầm trọng hơn

Những bệnh nhân này có dấu hiệu tán huyết

rõ ràng: tăng Bilirubin chủ yếu thành phần gián tiếp, Haptoglobin giảm (trung bình 0,6 mg/dL), LDH tăng (618 U/L) Phết máu ngoại biên chủ yếu hồng cầu nhược sắc không thấy hồng cầu hình cầu Những đặc điểm này là do 87,5% dân

số nghiên cứu có thiếu máu tán huyết

Mặc dù Ferritin trung bình là 333 ng/ml nhưng số ca giảm Ferritin cũng đáng kể (33%) Theo y văn khoảng 25% bệnh nhân PNH có tiểu huyết sắc tố(7) Như vậy 33% ca giảm Ferritin này

có thể gián tiếp gợi ý có tiểu huyết sắc tố vì làm mất dần sắt qua đường niệu

Xét nghiệm Coombs’test âm tính (>90%) và ANA âm tính (100%) loại trừ những nguyên nhân miễn dịch Kết quả này phù hợp với y văn trên thế giới về các đặc điểm cận lâm sàng của các bệnh nhân theo dõi PNH(1,7)

Ngoài ra cần lưu ý là biến chứng tắc mạch rất thường gặp trên bệnh nhân PNH không gặp trong dân số nghiên cứu của chúng tôi Có lẽ là

do mẫu quá ít và thời gian theo dõi ngắn

Trang 5

Phân tích kết quả dấu ấn miễn dịch

Sự phát hiện thiếu hụt CD55 (46% dòng

hồng cầu, 56% dòng mono, 50% dòng bạch cầu

hạt) ít hơn so với CD59 (46% dòng hồng cầu,

94% dòng mono, 75% dòng bạch cầu hạt) Điều

này cho thấy sử dụng anti CD59 nhạy hơn anti

CD55 trong việc phát hiện các dòng tế bào bất

thường PNH Điều này tương tự với một nghiên

cứu của tác giả Hall và Rosse năm 1996(4) Tuy

nhiên cũng theo nghiên cứu này, người ta

chứng minh rằng tỉ lệ CD59 gắn trên bề mặt tế

bào máu sẽ bị giảm theo thời gian do protein

này dễ bị enzyme phân hủy và dễ tách rời màng

tế bào Như vậy sẽ có một tỉ lệ dương giả khi sử

dụng đơn thuần CD59 chẩn đoán Sự thiếu hụt

CD55 và CD59 nhiều hơn ở dòng bạch cầu hạt

và nhiều nhất ở dòng đơn nhân Một số nghiên

cứu cũng cho thấy tỉ lệ phát hiện sự thiếu hụt

CD55/CD59 ở dòng hồng cầu là thấp nhất(6,8)

Điều này có thể do quá trình truyền hồng cầu

lắng và tán huyết làm ảnh hưởng đến dòng

hồng cầu có đột biến gen PIG-A trong máu

Có 50% tế bào dòng đơn nhân thiếu hụt

CD14, 42% bạch cầu dòng hạt thiếu hụt CD16

Như vậy khảo sát CD14 ở dòng đơn nhân và

CD16 ở dòng bạch cầu hạt giúp việc tầm soát

bệnh PNH tốt hơn, tránh bỏ sót Vai trò của

CD16 cũng được khẳng định trong một số

nghiên cứu khác(6,8)

Ở 3 dòng tế bào máu khi khảo sát các dấu ấn

bề mặt, tỉ lệ thiếu hụt CD từ 10% - 90% dao động

từ khoảng 0% (CD16/ dòng bạch cầu hạt) đến

cao nhất là 94% (CD59/ dòng đơn nhân) chứng

minh mô hình đột biến thể khảm (những clone

tế bào có đột biến bên cạnh những clone tế bào

bình thường) của bệnh lý PNH(7)

Trong 16 ca khảo sát chúng tôi phát hiện 7 ca

(44%) có thiếu hụt 1CD trên 1 dòng tế bào

Những ca này cần được theo dõi thêm và kết

hợp thêm triệu chứng lâm sàng và các xét

nghiệm cận lâm sàng khác vì ngoài bệnh lý

PNH còn có một bệnh lý di truyền gây giảm tế

bào CD59 trên dòng hồng cầu(9)

Mối liên quan giữa đặc điểm lâm sàng và kết quả phân tích dấu ấn miễn dịch

*Trên hai bệnh nhân suy tủy

Trong số hai bệnh nhân suy tủy được khảo sát có một trường hợp vàng da, không có trường hợp nào có tiểu Hb, Coombs’test dương, test Ham-Dacie dương Điều này có nghĩa là chưa có bệnh nhân nào có dấu hiệu bệnh PNH điển hình

có tán huyết nội mạch

Bằng kỹ thuật tế bào dòng chảy, chúng tôi ghi nhận 1 trường hợp thuộc nhóm I, nhóm chưa ghi nhận sự thiếu hụt các CD trên các dòng

tế bào, và 1 trường hợp (50%) thuộc nhóm II, nhóm có sự thiếu hụt đối với 1 loại CD hoặc đối với 1 dòng tế bào Một nghiên cứu năm 1999 ở Tây Ban Nha khảo sát trên 29 bệnh nhân suy tủy cũng cho kết quả 48% có CD55 âm và CD59 bình thường(3) Cũng theo nghiên cứu này tiếp tục theo dõi tế bào dòng chảy có một số ca sẽ tăng dòng tế bào PNH cũng có ca mất hẳn dòng

tế bào này sau điều trị Vậy bệnh nhân thứ hai cần tiếp tục theo dõi vì có thể đây là giai đoạn phát triển chưa đầy đủ của PNH điển hình Tóm lại, kỹ thuật tế bào dòng chảy giúp phát hiện sớm dòng tế bào PNH trên bệnh nhân suy tủy chưa có biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng gợi

ý PNH và theo dõi sự phát triển thành PNH điển hình trong quá trình theo dõi điều trị Theo

hướng dẫn của Clinical Citometry Society (năm

2010) bệnh nhân suy tủy cần được tầm soát PNH mỗi năm một lần

*Trên 14 bệnh nhân thiếu máu tán huyết

Trong số 14 trường hợp thiếu máu tán huyết chúng tôi ghi nhận có 2 trường hợp giảm tiểu cầu (14%) Như vậy giảm 2-3 dòng

tế bào là triệu chứng có thể gặp ở PNH và có thể biểu hiện đồng thời hoặc trước hoặc sau thiếu máu tán huyết điển hình Chính vì vậy

mà bệnh nhân suy tủy cần được tầm soát mỗi năm như đã đề cập ở trên

Bằng kỹ thuật DAMD, chúng tôi ghi nhận 6 trường hợp (43%) thuộc nhóm II, nhóm có sự thiếu hụt đối với 1 loại CD hoặc đối với 1 dòng

tế bào, và 8 trường hợp (57%) thuộc nhóm III,

Trang 6

nhóm có sự thiếu hụt từ 2 CD trở lên đối với 2

dòng tế bào trở lên Như vậy so với nhóm suy

tủy thì kích thước quần thể tế bào đột biến PNH

lớn hơn Chính vì vậy triệu chứng tán huyết nội

mạch rõ ràng hơn ở những bệnh nhân này

Trong số 8 bệnh nhân thuộc nhóm III (nhóm

được chẩn đoán xác định PNH), chúng tôi ghi

nhận 5 bệnh nhân có tiểu Hb (62,5%) Con số

này tương đương với nghiên cứu của một tác

giả Trung Quốc cho thấy tỉ lệ tiểu Hb/PNH là

61,5%(10) Nghiên cứu của tác giả Nishimura trên

2 quần thể người Mỹ và người Nhật cho thấy tỉ

lệ tiểu Hb dao động từ 33,5%-48,4%(6).Sự khác

biệt này là do có bệnh nhân suy tủy trong

nghiên cứu sau chứ không chỉ thuần nhất bệnh

nhân thiếu máu tán huyết Điều này cho thấy

triệu chứng tiểu Hb không phải lúc nào cũng

gặp trên bệnh nhân PNH Vậy nếu ta chỉ nghĩ

đến bệnh lý PNH ở những bệnh nhân tiểu đỏ

hoặc tiểu màu xá xị thì sẽ bỏ sót rất nhiều chẩn

đoán

Cũng trong nhóm này, chúng tôi ghi nhận 6

trường hợp Hamdacie dương tính (75%) Như

vậy, xét nghiệm Hamdacie chỉ đặc hiệu trong

75% các trường hợp được chẩn đoán xác định

PNH Tác giả Lê Xuân Hải cũng cho thấy có 30

ca Test Đường-Ham dương tính trong số 45 ca

xác định được clone tế bào có thiếu hụt dấu ấn

miễn dịch gắn GPI chiếm 67%(5)

Dựa vào các yếu tố trên cho thấy việc sử

dụng kỹ thuật xác định Dấu ấn miễn dịch bằng

phương pháp tế bào dòng chảy (Flow

cytometry) để tầm soát và chẩn đoán PNH là xét

nghiệm có tính đặc hiệu và độ nhạy cao Do đó

chúng ta cần phải bổ sung kỹ thuật tế bào dòng

chảy để tầm soát và chẩn đoán PNH trong các

trường hợp bệnh nhân nghi ngờ PNH theo

khuyến cáo của Nhóm vì quyền lợi của bệnh

nhân PNH quốc tế (I-PIG)(7)

KẾT LUẬN

Việc tầm soát và chẩn đoán PNH là rất

quan trọng vì nếu chúng ta chỉ chỉ nghĩ đến

bệnh lý PNH ở những bệnh nhân tiểu đỏ hoặc

tiểu màu xá xị và có xét nghiệm Hamdacie

dương tính thì sẽ bỏ sót rất nhiều chẩn đoán Trong khi đó, kỹ thuật xác định Dấu ấn miễn dịch bằng phương pháp tế bào dòng chảy (Flow cytometry) có thể thực hiện chẩn đoán

dễ dàng và chính xác bệnh PNH

Phát hiện sự thiếu hụt của một CD trên một dòng tế bào không thể khẳng định chẩn đoán PNH, cần theo dõi thêm nhất là đối với CD59 trên dòng hồng cầu

Ngoài ra cần phải xác định kích thước dòng

tế bào PNH vì cần phải theo dõi thêm trong quá trình điều trị Kích thước quần thể tế bào PNH càng lớn, càng nhiều dòng tế bào đột biến thì triệu chứng PNH càng điển hình

Tuy nhiên, nghiên cứu của chúng tôi vẫn còn trong giai đoạn khởi đầu, trong tương lai cần có những nghiên cứu lớn hơn và thời gian

đủ dài để khẳng định chắc chắn giá trị của nó trong việc tầm soát và chẩn đoán bệnh lý này

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Guidelines for the diagnosis and monitoring of paroxymal nocturnal hemoglobinuria and related disorders by flow cytometry, Clinical Cytometry, vol 78B, 211-230

analysis of CD55 and CD59 expression on blood cells in paroxymal nocturnal heamoglobinuria, Folia histochemica et cytobiologica, vol 43(2), 117-120

using flow cytometry in aplastic anemia and paroxymal nocturnal hemoglobinuria", Sangre, vol 44(3), 199-203

flow cytometry in the diagnosis of paroxymal nocturnal hemoglobinuria, Blood, vol 87, 5332-5340

chảy phân tích CD55/CD59 hồng cầu trong chẩn đoán bệnh đái huyết sắc tố kịch phát ban đêm tại viện Huyết học-Truyền máu trung ương, y học thực hành, (771), 15-18

(2004), Clinical course and flow cytometric analysis of paroxymal nocturnal hemoglobinuria in the United States and Japan Medicine, vol 83(3), 193-207

Kenneth Kaushansky, A Litchman Marshall, Beutler Ernest (Eds.), Williams Hematology, McGraw Hill company, 8th ed.,

pp 635-646

et al (2006), A cohort study of the nature of paroxymal nocturnal hemoglobinuria clones and PIG-A mutations in patients with aplastic anemia, Eur J Haematol, vol 76(6),

502-509

Trang 7

9 Yamashina Manabu, Ueda Etsuko, Kinoshita Taroh, et al.(1990),

Inherited Complete Deficiency of 20-Kilodalton Homologous

Restriction Factor (CD59) as a Cause of Paroxysmal Nocturnal

Hemoglobinuria, new England journal medicine, vol 323,

1184-1189

10 Zhao Mingfeng, Shao Zonghong, Li Ke (2002), Clinical analysis

of 78 cases of paroxymal nocturnal hemoglobinuria diagnosed in the past ten years, Chineses Medical Journal, vol 115(3), 398-401

Ngày đăng: 23/01/2020, 05:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm