Nghiên cứu với mục tiêu nhằm khảo sát cơ cấu sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa tim mạch Bệnh viện Cấp Cứu Trưng Vương. Khảo sát tình hình kiểm soát huyết áp ở đối tượng nghiên cứu sau 1 tuần theo khuyến cáo ESC 2007.
Trang 1KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG VÀ HIỆU QUẢ THUỐC CHỐNG TĂNG HUYẾT ÁP Ở BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP TẠI KHOA TIM MẠCH
BỆNH VIỆN CẤP CỨU TRƯNG VƯƠNG 10/2011‐ 3/2013
Đôn Thị Thanh Thủy*, Đỗ Công Tâm*, Nguyễn Thị Mỹ Duyên*, Lý Huy Khanh*, Hà Thanh Yến
Trang*, Trần Triệu Thanh Trúc*
Mở đầu: Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ có thể điều chỉnh được của bệnh tim mạch. Có nhiều thuốc điều
trị tăng huyết áp có hiệu quả, có thể dùng đơn độc hoặc phối hợp các thuốc với nhau. Sự lựa chọn thuốc khởi đầu nên dựa vào tuổi, chủng tộc, tác dụng phụ lên chuyển hóa, yếu tố nguy cơ tim mạch, và quan trọng nhất là xem
xét các bệnh phối hợp.
Mục tiêu: Khảo sát cơ cấu sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa tim mạch Bệnh viện Cấp Cứu
Trưng Vương. Khảo sát tình hình kiểm soát huyết áp ở đối tượng nghiên cứu sau 1 tuần theo khuyến cáo ESC
2007.
Phương pháp: Mô tả cắt ngang.
Kết quả: Khảo sát việc sử dụng thuốc chống tăng huyết áp ở 510 bệnh nhân.
Cơ cấu sử dụng thuốc: Phối hợp 2 thuốc để đạt HA mục tiêu chung chiếm tỉ lệ cao nhất; tăng huyết áp không có bệnh lý kèm theo thì thuốc chống tăng huyết áp được chỉ định nhiều nhất là nhóm ức chế men chuyển,
kế đến là nhóm ức chế kênh Canxi, nhóm chẹn thụ thể bêta, lợi tiểu không phải là chỉ định đầu tay; tăng huyết áp
ở người suy tim thì lợi tiểu chiếm tỉ lệ cao nhất 47,7%, thứ 2 là ức chế men chuyển 43,2%, thấp nhất chẹn thụ thể bêta có 11,4%; tăng huyết áp ở người có bệnh thận mạn thì ức chế kênh Canxi chiếm tỉ lệ cao nhất 60,5% kế đến là lợi tiểu (Furosemid 50,0%), ức chế thần kinh trung ương 39,5%; tăng huyết áp ở người có đái tháo đường thì ức chế men chuyển chiếm tỉ lệ cao nhất 63,6%. Tỉ lệ đạt huyết áp mục tiêu: Tỉ lệ đạt HA mục tiêu chung cao (81,7%); có đái tháo đường: 79,3%, so với không có đái tháo đường 82,0%; có bệnh thận mạn đạt 60,5%, so với không có bệnh thận mạn 83,1%; có bệnh mạch vành là 79,5%, so với không có bệnh mạch vành là 82,1%; có suy tim là 72,7% so với không suy tim đạt 82,2%; có đột quỵ là 67,7% so với không có đột quỵ là 82,3%; cao tuổi là 80,9% so với không cao tuổi là 82,5%.
Kết luận: Tăng huyết áp không có bệnh lý kèm theo thì thuốc được chỉ định nhiều nhất là nhóm ức chế men
chuyển, kế đến là nhóm ức chế kênh Canxi, chẹn bêta. Lợi tiểu không phải là chỉ định đầu tay. Tăng huyết áp có các bệnh lý đi kèm, thuốc chống tăng huyết áp thay đổi theo bệnh kèm.Sử dụng viên thuốc phối hợp cố định liều còn quá ít. Tỉ lệ đạt HA mục tiêu chung cao (81,7%), nhưng THA có bệnh phối hợp thì tỉ lệ đạt HA mục tiêu không cao. Phối hợp 2 thuốc để đạt HA mục tiêu chung chiếm tỉ lệ cao nhất.
Từ khóa: Tăng huyết áp, thuốc chống tăng huyết áp
ABSTRACT
SURVEY ON THE USE AND EFFECTIVENESS OF ANTIHYPERTENSION DRUGS IN
HYPERTENSION PATIENS AT CARDIOVASCULAR DEPARMENT OF TRUNG VUONG
EMERGENCY HOSPITAL
Don Thi Thanh Thuy, Do Cong Tam, Nguyen Thi My Duyen, Ly Huy Khanh, Ha Thanh Yen Trang,
Tran Trieu Thanh Truc * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 4 ‐ 2013: 21 ‐ 32
* Bệnh viện Cấp cứu Trưng Vương
Trang 2Background: Hypertension is a risk factor of cardiovascular disease, it can be adjusted. There are many
antihypertension drugs is effective, can be used alone or in combination. The initial choice of antihypertension drugs should be based on age, race, adverse effects on metabolism, cardiovascular risk factors, and most
importantly consider the coordinate diseases.
Objectives: Survey structure used antihypertension drugs used. Survey of blood pressure control in
research subjects after 1 week as recommended by ESC 2007.
Methods: cross‐sectional description.
Result: After looking at 510 patients during the time of October 2011 to October 2012 who were using use
of antihypertensive drugs at cardiovascular deparment, we came up with the following conclusions: Most used medications were ACE inhibitors; in second place is Calcium antagonists. Beta‐blockers, Diuretics are not first choices. In HBP together with heart failures, Diuretics got the highest success rate at 47.7%, second place is ACE inhibitors at 43.2%, Beta‐blockers lowest at 11.4%, in HBP with Renal failure, Calcium antagonists got the highest success rate at 60.5%, second place is Diuretics (Furosemid 50.0%), in HBP with diabetes, ACE inhibitors got the highest success rate at 63.6%. Percentage achieving common goals high blood pressure (81.7%), 79.3% of patients with diabetes reached their desired blood pressure comparing to 82.0% without; 60.5% of patients with Renal failure reached their desired blood pressure comparing to 83.1% without; 79.5% of patients with Coronary heart disease got their blood pressure under control, comparing to 82.1% without; 72.7%
of patients with heart failures got their blood pressure under control, comparing to 82.2% without; 67.7% of patients with strokes got their blood pressure under control, comparing to 82.3% without; 80.9% of elder patients reached their desired blood pressure, comparing to 82.5% of younger patients.
Conclusions: Hypertension without morbidities, the antihypertension drug is indicated most ACE
inhibitors, followed by calcium channel inhibitors, beta‐blockers. Diuretics are not indicated debut. Hypertension accompanied with the disease, antihypertensive drug is vary with comorbidities. Using tablet fixed‐dose combination was too little. Percentage achieving common goals high blood pressure (81.7%), but the hypertensive patients in collaboration with the proportion achieving BP goals are not high. Coordinate 2 antihypertension drugs to achieve BP goals accounted for the highest percentage.
Keywords: Hypertension, antihypertension drug.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tăng huyết áp (THA) là một yếu tố nguy cơ
chủ yếu của bệnh tim mạch. Hằng năm trên thế
giới có hàng triệu người tử vong do bệnh tim
mạch như nhồi máu cơ tim, đột quị, bệnh
thận(16). Mục đích của điều trị THA là hạ huyết
áp, ngăn ngừa hoặc phục hồi tổn thương cơ
quan đích(5), đồng thời không gây ra tác dụng
phụ và không làm thay đổi lối sống một cách
thái quá.
Hiện tại có nhiều thuốc điều trị THA có hiệu
quả, có thể dùng đơn độc hoặc phối hợp các
nhóm thuốc với nhau(11). Sự lựa chọn thuốc khởi
đầu nên dựa vào tuổi, chủng tộc, yếu tố nguy cơ
tim mạch, và quan trọng nhất là xem xét các
bệnh phối hợp(7).
Do đặc điểm tình hình bệnh tật ở Bệnh viện Cấp cứu Trưng Vương, THA luôn chiếm số lượng lớn tại phòng khám và tỉ lệ điều trị nội trú của bệnh THA với các biến chứng của nó cũng gia tăng, sử dụng thuốc của các thầy thuốc đa dạng, phong phú. Hơn nữa ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu về cơ cấu dùng thuốc.
Mục tiêu
‐ Khảo sát cơ cấu sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa tim mạch Bệnh viện Cấp Cứu Trưng Vương.
‐ Khảo sát tình hình kiểm soát được huyết áp
ở đối tượng nghiên cứu sau 1 tuần theo khuyến cáo ESC 2007.
Trang 3Đối tượng nghiên cứu
Tiêu chuẩn chọn mẫu: Các bệnh nhân >18
tuổi nhập viện được chẩn đoán THA và có kê
đơn điều trị THA
Tiêu chuẩn loại trừ: Những bệnh nhân dùng
thuốc dãn mạch không phải đưa HA về mục
tiêu mà để điều trị suy tim, suy thận, đái tháo
đường. Những bệnh nhân THA thứ phát.
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: Tiền cứu mô tả cắt
ngang.
Tiêu chuẩn đánh giá: Đạt HA mục tiêu
<140/90mmHg, còn đối với THA có ĐTĐ và
THA có suy thận HA mục tiêu cần đạt là
<130/80mmHg(9).
Xử lý dữ liệu: So sánh giữa các nhóm với
nhau bằng χ2. Tính OR. So sánh các số trung
bình bằng Student test. Phân tích dữ liệu được
thực hiện trên phần mêm SPSS 16.0.
KẾT QUẢ
Đặc điểm chung
Tuổi: Bệnh nhân THA tăng theo tuổi, 40‐49
(7,8%), 50‐59 (20,4%), 60‐69 (29,4%), 70‐79
(24,1%). Tuổi trung bình cho cả nam và nữ là
65,76 ± 12,20, không có sự khác nhau giữa nam
và nữ.
Giới: Tỉ lệ bệnh nhân nam 62,4% và nữ
37,6%. Tỉ lệ nam / nữ là: 1,6:1.
Đặc điểm về chỉ số nhân trắc theo giới
Tỉ lệ béo phì và thừa cân chiếm 46,3%, nam
48,1%, nữ 43,2%, không có sự khác biệt giữa
nam và nữ.
Béo bụng: Nữ 36,5%, nam 4,7%. Béo phì
trung tâm nữ 99,0%, nam 60,1%. Có sự khác biệt
giữa nữ và nam.
Đặc điểm về chỉ số nhân trắc theo tuổi
Thừa cân, béo phì, béo bụng giảm theo số
tuổi, ở nhóm < 60 tuổi chiếm tỉ lệ 54,4%, ở nhóm
>60 tuổi là 32,7%.
Béo phì trung tâm nhóm <60 tuổi 68,2%, nhóm >60 tuổi 77,5%, không có sự khác biệt giữa
2 nhóm tuổi.
tuổi
Các nhóm bệnh nền đi kèm với THA đều tăng theo tuổi.
Bệnh mạch vành ở nhóm < 60 tuổi tỉ lệ 20,8%, nhóm > 60 tuổi 32,0%.
Bệnh ĐTĐ ở nhóm <60 tuổi 16,2%, ở nhóm
>60 tuổi 27%, có sự khác biệt rõ rệt giữa 2 nhóm. Rối loạn lipit máu ở nhóm < 60 tuối 3,2% nhóm >60 tuổi 10,1%.
Đột quỵ ở nhóm <60 tuổi chiếm 1,3%, nhóm
>60 tuổi chiếm 8,1%.
Tỉ lệ THA tăng theo tuổi, nhóm <60 tuổi có 154/510 THA, nhóm > 60 tuổi có 356/510 THA, THA độ 2 chiếm tỉ lệ 37,1%, độ 3 29,8%, độ 1 21,0%. Không có sự khác biệt mức độ THA giữa
2 nhóm tuổi.
Các yếu tố nguy cơ của THA
Nam: hút thuốc lá 32,7%, tăng cholesterol 21,6%, béo phì 53,7%, ít vận động thể lực 23,5%. Tiền sử gia đình 51,0%. Số yếu tố nguy cơ: > 3 yếu tố chiếm tỉ lệ cao 62,4%.
Tổn thương cơ quan đích của THA trong đối tượng nghiên cứu
Tổn thương cơ quan đích chung 82,7%, chiếm tỉ lệ cao nhất là nhóm mạch máu 72% xơ vữa động mạch cảnh, bệnh mạch vành 30%. Mạch máu mắt 39,7%. Phì đại thất trái 52,3%. Protein niệu vi thể 45,9%, protein niệu đại thể chiếm 18,6%. ĐTĐ 23,7%, suy tim 8,6%, bệnh thận mạn 7,5%, đột quị 6,1%.
Cơ cấu sử dụng thuốc chống tăng huyết áp
Bảng 1: Tỉ lệ dùng phối hợp thuốc chống THA theo
tuổi
Phối hợp thuốc
Chung (n =491)
<60 tuổi (n =150)
≥60 tuổi (n =341) P
Trang 41 thuốc, n (%) 117 (23,8) 46 (30,7) 71 (20,8)
0,114
2 thuốc, n (%) 221 (45,0) 60 (40,0) 161 (47,2)
3 thuốc, n (%) 132 (26,9) 39 (26,0) 93 (27,3)
4 thuốc, n (%) 21 (4,3) 5 (3,3) 16 (4,7)
Bảng 2: Tỉ lệ dùng loại thuốc trong nhóm thuốc
chống THA đơn trị theo tuổi
Thuốc (n =117) Chung <60 tuổi (n =64) ≥60 tuổi (n =71) P
Ức chế men chuyển,
n (%) 56 (47,9) 26 (56,5) 30 (42,3) 0,131
Ức chế thụ thể
Angiotensin, n (%) 14 (12,0) 5 (10,9) 9 (12,7) 0,769
Ức chế kênh Calci,
n (%) 26 (22,2) 10 (21,7) 16 (22,5) 0,919
Lợi tiểu, n (%) 4 (3,4) 1 (2,2) 3 (4,2) 0,551
Ức chế beta, n (%) 9 (7,7) 2 (4,3) 7 (9,9) 0,274
Ức chế thần kinh
trung ương, n (%) 8 (6,8) 2 (4,3) 6 (8,5) 0,390
Tỉ lệ các kiểu phối hợp 2 thuốc chống THA
theo tuổi
221/491 (45,0%).
Nhận xét:
ƯCMC + ƯC Canxi (26,2%) được sử dụng
nhiều nhất.
ƯCMC + Chẹn Bêta (15,4%), ƯCMC + lợi
tiểu: (6,3%) thấp.
ƯCTT + ƯC Canxi, (8,6%).
ƯCTT + Chẹn Bêta (6,8%).
ƯC Canxi + Chẹn Bêta (8,1%).
Sự phối hợp 2 nhóm thuốc không có sự khác
biệt về tuổi.
Tỉ lệ các kiểu phối hợp 3 thuốc chống THA
theo tuổi
132/491(26,9%).
Có 15 kiểu phối hợp 3 nhóm thuốc, trong đó:
ƯCMC + ƯC Canxi + Chẹn Bêta (22,7%).
ƯCMC + Chẹn Bêta + ƯC TKTW (22,0%).
ƯCMC + ƯC Canxi + ƯC TKTW (9,8%).
ƯCMC + Lợi tiểu + ƯC TKTW (8,3%).
ƯCTT + ƯC Canxi + UC TKTW (6,1%).
Tỉ lệ dùng 4 thuốc chống Tăng huyết áp theo
tuổi
Có 21 ca kết hợp 4 thuốc, có 06 kiểu phối hợp.
ƯCMC + ƯC Canxi + chẹn bê ta + ƯCTKTW (28%).
ƯCMC + ƯC Canxi + lợi tiểu + chẹn bê ta (23%).
ƯCMC + ƯC Canxi + Lợi tiểu + ƯC
TKTW(19%).
Bảng 3: Cơ cấu dùng thuốc chống THA ở bệnh nhân
suy tim theo tuổi
Thuốc Chung (n =44) <60 tuổi (n =6) ≥60 tuổi (n =38) P
Ức chế men chuyển, n (%)
19 (43,2) 1 (16,7) 18 (47,4) 0,158
Ức chế thụ thể Angiotensin, n (%)
10 (22,7) 1 (16,7) 9 (23,7) 0,703
Ức chế kênh Calci,
n (%)
17 (38,6) 4 (66,7) 13 (34,2) 0,129 Lợi tiểu, n (%) 21 (47,7) 5 (83,3) 16 (42,1) 0,059
- Furosemid , n (%) 14 (66,7) 4 (80,0) 10 (62,5) 0,469
- Verospiron , n (%) 7 (33,3) 1 (20,0) 6 (37,5)
Ức chế beta, n (%) 5 (11,4) 2 (33,3) 3 (7,9) 0,068
Ức chế thần kinh trung ương, n (%) 9 (20,5) 3 (11,1) 6 (35,5) 0,053
Bảng 4: Cơ cấu dùng thuốc chống THA ở bệnh nhân
đái tháo đường
Thuốc (n =121) Chung <60 tuổi (n =25) ≥60 tuổi (n =96) P
Ức chế men chuyển, n (%) 77 (63,6) 17 (68,0) 60 (62,5) 0,611
Ức chế thụ thể Angiotensin, n (%) 25 (20,7) 3 (12,0) 22 (22,9) 0,230
Ức chế kênh Calci,
n (%) 53 (43,8) 10 (40,0) 43 (44,8) 0,667 Lợi tiểu, n (%) 29 (24,0) 6 (24,0) 23 (24,0) 0,997
- Hypothiazid, n
- Furosemid , n (%) 19 (65,5) 3 (50,0) 16 (69,6) 0,206
Ức chế beta, n (%) 45 (37,2) 13 (52,0) 32 (33,3) 0,085
Ức chế thần kinh trung ương, n (%) 46 (38,0) 9 (36,0) 37 (38,5) 0,816
Có 121 ca THA có ĐTĐ kèm theo. Nhóm ƯCMC chiếm tỉ lệ cao nhất 63,6%, ƯCTT chiếm 20,7%.
Ức chế canxi đứng thứ 2: 43,8%, ƯCTKTW: 38,0%, chẹn bêta: 37,2%.
Trang 5Cơ cấu dùng thuốc chống THA ở bệnh nhân đột
quỵ
Có 31 ca THA có Đột quị kèm theo, Ức chế
men chuyển (67,7%), Ức chế kênh Calci (48,4%),
Ức chế thần kinh trung ương (35,5%), Ức chế
beta (25,8%).
Cơ cấu dùng thuốc chống THA ở bệnh nhân có
bệnh thận mạn
38 ca THA có bệnh thận mạn: Nhóm UC
Canxi chiếm tỉ lệ cao nhất: 60,5%. Lợi tiểu đứng
thứ 2: chiếm 50,0% (Furosemide 94,7%). ƯCMC
chiếm 44%. ƯCTKTW chiếm 39,5%, chẹn bê ta
(31,6%).
Cơ cấu dùng thuốc chống THA ở bệnh nhân tuổi
cao
Có 356 ca THA thuộc nhóm tuổi cao.
Nhóm ƯCMC được sử dụng nhiều hơn
(58,1%) trong khi nhóm ƯC Canxi tỉ lệ ít hơn
(45,5%). Lợi tiểu (17,4%), Ức chế beta (34,6%), Ức
chế thần kinh trung ương (33,1%).
Bảng 5: Tỉ lệ kiểm soát được huyết áp theo khuyến
cáo ESC_2007
Chung (n
=415)
Nam (n =265)
Nữ (n =150) P
Suy tim, n (%) 32 (7,7) 19 (7,2) 13 (8,7) 0,583
Bệnh mạch vành,
n (%) 116 (28,0) 69 (26,0) 47 (31,3) 0,248
Đái tháo đường,
n (%) 96 (23,1) 72 (27,2) 24 (16,0) 0,011
Bệnh thận mạn,
n (%) 23 (5,5) 12 (4,5) 11 (7,3) 0,231
Đột quỵ, n (%) 21 (5,1) 13 (4,9) 8 (5,3) 0,849
Cao tuổi, n (%) 288 (69,4) 186 (70,2) 102 (68,0) 0,642
Bảng 6: Số thuốc dùng để đạt huyết áp mục tiêu theo
tuổi
Chung (n =399)
<60 tuổi (n =123)
≥60 tuổi (n =276) P
1 thuốc, n (%) 100 (25,1) 41 (33,3) 59 (21,4)
2 thuốc, n (%) 185 (46,4) 52 (42,3) 133 (48,2) 0,075
3 thuốc, n (%) 99 (24,8) 27 (22,0) 72 (26,1)
4 thuốc, n (%) 15 (3,8) 3 (2,4) 12 (4,3)
Bảng 7: Tỉ lệ dùng viên rời phối hợp
Chung
(n=510)
Nam (n=318)
Nữ (192) p
Viên rời, n (%) 494 (96,9) 309 (97,2) 185 (96,4) 0,609 Viên phối hợp 16 (3,1) 9 (2,8) 7 (3,6)
BÀN LUẬN Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
Tuổi trung bình cho cả nam và nữ
Tuổi trung bình của nhóm là 65,76 ± 12,20 so với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Hoàng
và Nguyễn Thị Trúc là 57,9 ± 13,28, của Lý Huy Khanh từ năm 2008‐2009(14), tại phòng khám Bệnh viện Cấp cứu Trưng Vương thì bệnh nhân THA độ tuổi trung bình 63,30 ±13,8, nữ chiếm 57,98%. Nghiên cứu của chúng tôi tương đương.
Giới tính
Nam 62,4%, nữ 37,6%, tỉ lệ nam: nữ là 1,6:1.
Đặc điểm về chỉ số nhân trắc
Theo nghiên cứu của chúng tôi thừa cân béo phì chiếm 46,3%, nam 48,1%, nữ 43,2%, nam nữ tương đương nhau nhưng tỉ lệ béo phì trung tâm ở nữ 99,0% và béo bụng ở nữ 36,5% cao hơn nam lần lượt là 60,1%, 4,7%, sự khác biệt có tý nghĩa thông kê (p < 0,001).
BMI trung bình 22,79 ± 3,59, nam 22,98 ± 3,57, nữ 22,48 ± 3,63. So với nghiên cứu của Nguyễn Văn Hoàng(19) thì BMI của nữ 20,7 ± 3,7, nam 19,8±3,2, nữ cao hơn nam có ý nghĩa thống kê (p= 0,001).
Vòng eo trung bình 83,58 ± 11,09, vòng eo trung bình ở nam 83,19 ± 10,78, nữ 84,21 ± 11,60, vòng eo nữ cao hơn nam. So với nghiên cứu của Nguyễn Đức Công(15) nghiên cứu một số chỉ số nhân trắc và bề dày lớp mỡ dưới da ở bệnh nhân THA nguyên phát trong 80 bệnh nhân THA thì vòng eo trung bình 83,3 ± 9,4 cm, tương đương với kết quả nghiên cứu của chúng tôi.
Béo bụng làm tăng tỉ lệ THA so với những người không béo bụng(22,23).
Phân bố mỡ trong cơ thể cũng là một yếu tố quan trọng, những người béo bụng (béo phì trung tâm) có nguy cơ THA cao nhất(10). Tỉ lệ béo phì vùng bụng trong lô nghiên cứu là 74,7% so với nghiên cứu của Nguyễn Văn Hoàng tỉ lệ béo phì vùng bụng chiếm 17,2%.
Trang 6Nam 0,91 ± 0,09, nữ 0,91 ± 0,07.
Như vậy cả 3 chỉ số BMI, vòng eo, tỉ lệ vòng
eo/ mông trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi
đều cao ở người THA phản ánh đúng với nhiều
nghiên cứu trong và ngoài nước. Như vậy cần
đánh giá mức độ thừa cân, béo phì liên quan
đến chế độ ăn, luyện tập, trong công tác phòng
và điều trị THA cần tư vấn cho bệnh nhân kỹ
lưỡng về vấn đề này.
Phân giai đoạn của THA (ESC 2007)
Nhóm nghiên cứu của chúng tôi có THA
độ 2 tỉ lệ 37,1% cao nhất, độ 3 ‐ 29,8%, THA độ
1 tỉ lệ thấp nhất 21,0%. So với nghiên cứu của
Nguyễn Thị Minh Hằng năm 2008(17) tỉ lệ lần
lượt là: độ 2 ‐ 47,15%, độ 3 ‐ 30,81%, độ 1‐
22,04%, thì số lượng của chúng tôi tương
đương. Vấn đề đặt ra diều trị THA có đạt HA
mục tiêu không, quản lý HA ở cộng đồng,
phát hiện trễ, ý thức của người bệnh.
Các yếu tố nguy cơ tim mạch của THA
Giới: Đối với nam tỉ lệ hút thuốc lá 32,7%, tỉ
lệ cholesterol TP >6,1mM/l (hoặc LDL‐C >
4,0mM/l) chiếm 21,6%, nữ tập trung ở nhóm
HDL‐C (HDL < 1,2mM/L) chiếm tỉ lệ 66,7%, ít
vận động thể lực 23,5% (nữ 34,9%, nam 16,7%),
béo phì 56,8% (nam 51,9%, nữ 56,8%).
Ngưng thuốc là một trong những biện pháp
hiệu quả nhất để giảm các yếu tố nguy cơ tim
mạch. Tất cả các BN THA đều cần được nhắc
nhở bỏ thuốc lá ở mỗi lần khám.
Trong nghiên cứu này tỉ lệ hoat động thể
lực chỉ chiếm 23%. Cần hướng dẫn người bệnh
thường xuyên tập luyện, mỗi ngày nên tập thể
lực ít nhất 30 phút ở tât cả các ngày trong tuần.
Sự tập luyên như vậy sẽ giảm được HA từ 4‐ 9
mmHg(8).
Tuổi: Trên 3 yếu tố nguy cơ tim mạch: nhóm
bệnh > 60 tuổi tỉ lệ cao 68,5%. trong đó yếu tố
béo phì chiếm 57,3%, yếu tố tiền sử gia đình có
bệnh tim mạch chiếm 51,0%. Tiền sử gia đình có
giá trị tiên đoán khởi phát THA trong tương lai
của các thành viên trong gia đình(24). Tỉ số chênh
phát triển THA bằng 2,38 khi chỉ có cha hoặc mẹ THA và tăng lên 6,49 khi có cả cha và mẹ THA, yếu tố di truyền đóng vai trò quan trong(12). Lu
và cộng sự nghiên cứu tỉ lệ THA và các yếu tố nguy cơ tim mạch ở người cao tuổi tại Đài Loan cho thấy tỉ lệ THA ở người có tiền sử gia đình bệnh THA cao hơn những người không có tiền
sử gia đình THA (p< 0,001)(13).
Tổn thương cơ quan đích của THA trong mẫu nghiên cứu
Trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi có: tổn thương mạch máu lớn (mảng xơ vữa động mạch) ở động mạch cảnh chiếm tỉ lệ cao nhất 72,2%, tổn thương thận (Protein niệu vi thể) 45,9%: đứng thứ 2, tổn thương đày mắt (giai đoạn 2) chiếm 30,4%. Nên việc sớm phát hiện THA ở cộng đồng là rất quan trọng, điều trị sớm nhằm ngăn ngừa tổn thương cơ quan đích cũng
là mục tiêu chính trong điều trị chống THA. Tổn thương thiếu máu cơ tim (dựa trên ECG) 55,5% và bệnh động mạch vành, đã có chẩn đoán xác định 28,6%.
Tỉ lệ THA có ĐTĐ chiếm 23.7%.Tỉ lệ đái tháo đường ở nữ 17,2% thấp hơn nam 27,7% có ý nghĩa thống kê (p= 0,007). Tỉ lệ đái tháo đường giữa 2 nhóm tuổi cũng khác nhau có ý nghĩa thống kê nhóm< 60 là 16,2%, nhóm > 60 tỉ lệ 27,0% (với p= 0,009). So với nghiên cứu của Đỗ Thị Kim Yến 28,2%, Trần Văn Huy 21,17%(27), Trần Minh Giao 25,8%(26), Dwivedi và cộng sự nghiên cứu 156 bệnh nhân THA từ > 60 tuổi có bệnh ĐTĐ kèm theo tỉ lệ 31,41%(6). Số liệu của chúng tôi tương đương có lẽ do các mẫu nghiên cứu đó đều lấy trong bệnh viện.
Nghiên cứu I‐SEARCH trên dân số Việt Nam 12,8%. Nghiên cứu của Hồ Lan và cộng sự với 327 bệnh nhân THA diện tỉnh Nghệ An quản lý chỉ có 5,5% bệnh nhân có ĐTĐ.Tỉ lệ này thấp hơn có lẽ mẫu nghiên cứu lấy ngoài cộng đồng các đối tượng có tuổi trung bình thấp hơn nên nguy cơ mắc bệnh tiểu đường thấp hơn. Tỉ
lệ đái tháo đường của nam cao hơn nữ có lẽ do nam hút thuốc lá, uống rượu và mắc các bệnh truyền nhiễm nhiều hơn.
Trang 7lão hóa, cả hai bệnh này đều là những yếu tố
quan trọng dẫn đến bệnh thận mạn và bệnh tim
mạch(25), vì vậy cần phải tầm soát đái tháo
đường thường qui ở bệnh nhân THA càng sớm.
Suy tim (8,6%), tỉ lệ ở nam 8,5%, nữ 8,9%,
không có sự khác biệt giữa nam và nữ.Nghiên
cứu của Đặng Vạn Phước khảo sát 487 người
THA có 2,5% suy tim. Nghiên cứu của Võ Văn
Bảy(28) tại BV Cấp cứu Trưng Vương tại khoa
Tim mạch năm 2010 tỉ suy tim là 8,83%.
Nghiên cứu Bohm M(3) khảo sát 21.050 người
THA từ 26 quốc gia có 5,8% suy tim. Tỉ lệ của
chúng tôi cao hơn do khảo sát trong bệnh viện,
bệnh nhân lớn tuổi, không kiểm soát được huyết
áp do nhiều nguyên nhân và bệnh nhân tập
trung ở độ tuổi lớn hơn.
Tỉ lệ THA có suy thận mãn là 7,5%. Tỉ lệ nam
4,7%, nữ 12.0% sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
(p= 0,002). Sự khác biệt giữa 2 nhóm tuổi không
có ý nghĩa thống kê, nhóm < 60 tuổi tỉ lệ 7,1%,
nhóm > 60 tuối 7,6%. Nghiên cứu của Bùi Văn
Tân(4) khảo sát 199 người THA có 23,1% tổn
thương thận.Trần Minh Giao, Châu Ngọc Hoa(26)
khảo sát 1213 bệnh nhân nhập khoa nội tim
mạch BV Nhân Dân Gia Định tổn thương thận
do THA 49,2%. Nguyễn Văn Hoàng khảo sát
1134 Bn có 27,4% có suy thận mạn. Nghiên cứu
của Allmirall và cộng sự nghiên cứu tỉ lệ bệnh
thận mạn và sự kết hợp các yếu tố nguy cơ tim
mạch ở 253 người từ 65‐ 93 tuổi trong cộng đồng
thì tỉ lệ suy thận mạn là 31%(1).
Các tỉ lệ trên đều cao hơn nhiều so với mẫu
nghiên cứu có lẽ do khác nhau về độ tuổi của
mẫu nghiên cứu,và cũng có do ở Bệnh viện Cấp
cứu Trưng Vương bệnh thận mãn được nằm ở 4
khoa (Khoa Tiêu hóa ‐ Tiết niệu, khoa Thận
nhân tạo, khoa Nội tiết, khoa Tim mạch), nên tỉ
lệ bệnh thấp, không đại diện được cho dân số
nghiên cứu. THA đóng vai trò quan trọng trong
tổn thương thận, THA là nguyên nhân gây suy
thận giai đoạn cuối. Người cao tuổi THA có kèm
ĐTĐ hoặc suy thận được xếp vào nhóm có nguy
cơ tim mạch rất cao cho phép điều trị tích cực
bằng thuốc chống THA(20). Vì vậy cần đánh giá đầy đủ và phát hiện sớm bệnh thận mạn ở đối tượng này, kịp thời ngăn chặn bệnh diễn tiến đến suy thận giai đoạn cuối.
Rối loạn lipide máu
Trong mẫu nghiên cứu tỉ lệ THA có rối loạn lipide máu chiếm 8,0%, tỉ lệ tăng cholesterol toàn phần (> 6,1mM/l hoặc LDL‐C > 4,0mM/l) là 21,6%, trong đó nam 25,2%, nữ 15,6%. Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p= 0,011). Nghiên cứu của Nguyễn Văn Hoàng tỉ lệ tăng cholesterol là 50,4%, tăng LDL là 54,8%, tỉ lệ giảm HDL 14,3%.
Nguyễn Đức Công và cộng sự nghiên cứu 80 bệnh nhân THA tại khoa Tim‐Thận‐Khớp‐Nội tiết bệnh viện 103 thì tăng Cholesterol 86,3%, tăng LDL 52,5%, giảm HDL 40,0%.
Kết quả của các mẫu nghiên cứu khác nhau
có lẽ do tiêu chuẩn chọn bệnh, dân số nghiên cứu (khoa Tim mạch, khoa Tim‐ Thận‐ Nội tiết, phòng khám). Tuy nhiên các kết quả đều cho thấy tỉ lệ rối loạn lipide máu ở người THA khá cao. Vì vậy tầm soát rối loạn Lipide máu ở người THA là cần thiết, ở các nhóm tuổi, nhằm đánh giá đầy đủ các yếu tố nguy cơ tim mạch để công tác điều trị đạt kết quả cao.
Tổn thương não (đột quỵ) chiếm tỉ lệ thấp nhất 6,1%:
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Nga(18) khảo sát 74,340 người THA có 4,3% tiền căn đột quỵ. Nghiên cứu của Bùi Văn Tân(4) khảo sát 199 người THA có 4,5% đột quỵ
Trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu thống kê tỉ lệ tiền căn đột quỵ, đột quỵ cấp được chuyển qua đơn vị đột quỵ, nên kết quả cũng không phản ánh đại diện được cho nhóm tổn thương mạch máu não.
Cơ cấu sử dụng thuốc chống THA
Sự phân bố tỉ lệ các nhóm thuốc
Nhóm ức chế men chuyển (60,5%) được sử dụng nhiều nhất, theo khuyến cáo ESC (2007) thuốc đầu tay có thể là ƯCMC, dễ sử dụng, ít tác dụng phụ, không bị nhịp nhanh phản xạ, và do
Trang 8trong nhóm nghiên cứu có nhiều bệnh lý kèm
theo như bệnh mạch vành, đái tháo đường týp
2, suy tim. Nhóm ức chế canxi (46,6%) đứng thứ
2 Thông thường nhóm ức chế canxi dùng cho
bệnh nhân cao tuổi có THA tâm thu đơn độc,
THA có bệnh thận mạn mà trong mẫu nghiên
cứu của chúng tôi tỉ lệ THA ở người cao tuổi
chiếm tỉ lệ cao (53,5%), tiếp theo là nhóm chẹn
bêta (37,3%) được sử dụng nhiều do tỉ lệ bệnh
mạch vành, suy tim, trong mẫu nghiên cứu cao.
Tỉ lệ dùng phối hợp thuốc chống THA
Phối hợp 2 thuốc chiếm tỉ lệ cao nhất
(45%), phối hợp 3 thuốc (26,9%), thấp nhất là
phối hợp 4 thuốc (4,3%). Theo thông tin tim
mạch cập nhật MSD 2011 trên 2/3 bệnh nhân
THA cần sử dụng 2 hoặc > 2 thuốc hạ HA nhóm
khác nhau mới đạt mục tiêu điều trị. Nghiên
cứu ALLHAT cho thấy khoảng 60% bệnh nhân
đạt mức HA< 140/90 mmHg cần 2 thuốc hạ HA,
ở BN cần đạt HA mục tiêu thấp hơn (< 130/80)
thường cần > 3 thuốc hạ HA.
Trong nhóm phối hợp 2 thuốc thì ƯCMC+
UC Canxi chiếm tỉ lệ nhiều nhất (26,2%), theo
JNC VI phối hợp ƯCMC với ƯC Canxi làm
tăng tác dụng hạ áp, giảm protein niệu hiệu
quả hơn dùng đơn độc, làm giảm tác dụng
phụ của dihydropyridin như phù mắt cá chân,
kế đến là nhóm ƯCMC với chẹn bêta (15,4%),
theo thống kê của chúng tôi nhóm bệnh mạch
vành chiếm tỉ lệ cao 28,6%, thiếu máu cơ tim
biểu hiện trên ECG là 55,5%, và suy tim (8,6%)
nên kết hợp ƯCMC với chẹn bêta chiếm tỉ lệ
không nhỏ, ƯCMC với lợi tiểu (6,3%) cũng là
một phối hợp tốt vì lợi tiểu gây mất kali còn
ƯCMC gây giữ kali.
Phối hợp 3 thuốc chiếm tỉ lệ (26,9%) tập
trung chủ yếu ở nhóm bệnh có bệnh mạch vành
có suy tim, và bệnh thận mạn.
Sự phối hợp ƯCMC + ƯC Canxi + chẹn
bêta (22,7%) chiếm tỉ lệ cao do nhóm bệnh
thường có nhiều bệnh phối hợp, khó kiểm soát
dược ‐ Phối hợp 4 thuốc chiếm 4.3%: sự phối
hợp ƯCMC+ ƯC Canxi+ chẹn bêta + ƯCTKTW
chiếm tỉ lệ 28,6%, thứ 2 là ƯCMC+ ƯC Canxi+
lợi tiểu+ chen bêta (23,8%), thứ 3 là ƯCMC+
ƯC Canxi + lợi tiểu + ƯCTKTW (19,0%), cả 3 kiểu phối hợp 4 thuốc đều có ƯCMC, ƯC Canxi, ƯCTKTW chứng tỏ có kèm theo bệnh thận mạn, suy tim, suy mạch vành kết hợp với nhau, thuốc ƯCTKTW thường là thuốc được lựa chọn cuối cùng.
Cơ cấu sử dụng thuốc chống THA có bệnh phối hợp
Cơ cấu sử dụng thuốc chống THA ở bệnh nhân suy tim
Nghiên cứu của chúng tôi có 44/510 bệnh nhân có THA kèm suy tim
‐ Nhóm ƯCMC được chỉ định nhiều nhất (65,9%) do ƯCMC giảm tiết aldosteron dẫn đến giảm giữ muối và nước, ƯCMC giảm hoạt tính
cả 3 tầng giao cảm, giảm lượng catecholamin lưu thông do đó giảm tiêu thụ oxy của cơ tim, điều này có lợi cho suy tim. ƯCMC giảm hormon kháng bài niệu (ADH) do đó giảm bớt
sự giữ nước. Ngoài ra ƯCMC còn chống tái định dạng cơ tim tâm thất và trung mạc thành mạch máu, chống yếu tố tăng trưởng cơ tim gây phì đại tâm thất, có lợi cho ngừa và điều trị suy tim
do THA.
‐ Lợi tiểu chiếm 47,7%, trong đó furosemide chiếm 66,7%, aldosteron 33,3%, do phần lớn bệnh nhân trong lô nghiên cứu nhập viện trong tình trạng phù phổi cấp/ THA nên thuốc lợi tiểu đầu tay là nhóm furosemide, chỉ khi qua cơn suy tim cấp, tình trạng HA ổn định thì mới chuyển qua nhóm Aldosteron, hoặc phối hợp 2 nhóm hoặc dùng riêng lẻ.
‐ Ức chế canxi chiếm 38,6% đứng hàng thứ
3 do tỉ lệ HA tăng ở độ 2 và độ 3 cao, dùng 1 thuốc không kiểm soát được HA, phải dùng phối hợp 2 thuốc, và do nhóm bệnh nhân lớn tuổi chiếm tỉ lệ cao.
‐ Chẹn bêta được lựa chọn thấp nhất (11,4%):
do phần lớn bệnh nhân nhập viện trong tình trạng suy tim cấp, THA có ĐTĐ cũng với tỉ lệ cao nên chẹn bêta cũng không phải là thuốc đầu tay để chọn lựa.
Trang 9Như vậy theo khuyến cáo của hội tim
mạch học VN 2008, và ESC (2007) ƯCMC,
chẹn bê ta, đối kháng aldosteron có hoặc
không có lợi tiểu quai là chỉ định bắt buộc (nếu
không có chống chỉ định) cho bệnh THA kèm
suy tim. Trong lô nghiên cứu này do BN nhập
viện trong tình trạng suy tim cấp/THA, và thời
gian nghiên cứu (thời gian nằm viện) ngắn
trung bình 7 ‐ 10 ngày nên tỉ lệ sử dụng chẹn
bêta và Aldosteron còn thấp.
Cơ cấu sử dụng thuốc chống THA ở bệnh nhân
có bệnh thận mạn
Theo khảo sát của chúng tôi ghi nhận
nhóm UC canxi sử dụng nhiều nhất (60,5%) do
tăng tuần hoàn thận nên rất ưu thế đối với
THA/bệnh thận mạn, kế đến là nhóm lợi tiểu
(50,0%) mà 94,7% là furosemide. Tiếp theo là
ƯCMC (44,7%). Nên sử dụng ƯCMC hoặc
UCTT nếu không có chống chỉ định cho bệnh
nhân THA kèm có suy thận mạn nhằm kiểm
soát tiến triển suy thận (giảm đạm niệu, giảm
xơ chai cầu thận).
ƯCTKTW (39,5%), thường dùng trong
trường hợp THA có bệnh thận mạn mà không
kiểm soát được HA thường dùng phối hợp.
Cơ cấu sử dụng thuốc chống THA ở bệnh nhân đái
tháo đường
Ở nhóm bệnh nhân này ƯCMC chiếm tỉ lệ
cao (63,6%) theo khuyến cáo do ƯCMC ức chế
sự tạo Angiotensin II, ƯCMC còn làm tăng
cung lượng huyết thanh qua thận, tăng bài
niệu nhưng áp suất nội vi cầu thận không thay
đổi, thậm chí còn giảm nhẹ vì ƯCMC làm dãn
các mạch máu đi ra nên giảm được vi albumin
niệu, do đó bảo vệ được thận ở bệnh THA có
đái tháo đường, nhóm ƯCTT it dược chọn vì
chỉ dùng khi ƯCMC không thích nghi được
với người bệnh (tác dụng phụ như ho), còn
một số bệnh nhân được sử dụng ƯC Canxi
(43,8%) do THA có đái tháo đường có suy thận
mạn tăng kali máu nên không dùng ƯCMC và
ƯCTT được, một số bệnh nhân THA có đái
tháo đường có kèm theo suy tim được chỉ định
dùng kết hợp chẹn bê ta, đây là nhóm thuốc
không được khuyến cáo dùng cho bệnh nhân đái tháo đường.
Cơ cấu sử dụng thuốc chống THA ở bệnh nhân đột quỵ
Qua khảo sát chúng tôi ghi nhận nhóm ƯCMC được chỉ định nhiều nhất (67,7%) do ƯCMC cải thiện chức năng nội mạc động mạch não, ƯCMC dãn cả động mạch lẫn tĩnh mạch, nhóm ƯC Canxi đứng thứ 2 do phần lớn bệnh nhân trong lô nghiên cứu nhập viện trong tình trạng cơn THA nên được dùng ƯC Canxi truyền tĩnh mạch, kết hợp với ƯCMC. Nhóm lợi tiểu được sử dụng ít (19,4%). Theo khuyến cáo của ESC (2007) thì nhóm ƯCMC và lợi tiểu nhóm Thiazide và tương tự Thiazide là chỉ định bắt buộc cho bệnh THA kèm bệnh mạch máu não (sau đột quỵ thiếu máu não cục bộ, đột quỵ xuất huyết) nếu không có chống chỉ định, đích kiểm soát là đột quỵ tái phát.
Cơ cấu sử dụng thuốc chống THA ở nhóm bệnh nhân tuổi cao
Nhóm ƯCMC được chỉ định nhiều nhất (58,1%), nhóm ƯC Canxi đứng thứ 2 (45,5%) do
có một số trường hợp THA đơn độc không có bệnh lý kèm theo, thứ 3 là chẹn bêta (34,6%) do THA có kèm theo bệnh mạch vành nên có chì định bắt buộc với chẹn bê ta, nhóm lợi tiểu ít dùng (17,4%), trong đó nhóm thiazide chiếm 11,3%, nên dùng lợi tiểu thiazide cho bệnh THA tâm thu đơn độc vì ở người cao tuổi mức renin thấp hơn người trẻ tuổi, lợi tiểu Thiazide đặc biệt hiệu quả ở đối tượng này. Theo khuyến cáo của hội tim mạch học Việt Nam thuốc lợi tiểu thiazide, tương tự Thiazide và ƯC canxi (nhóm dihydropyridin hiệu quả trên bệnh nhân cao tuổi). Có THA tâm thu đơn độc vì làm giảm bệnh tật và tử vong do tim mạch. Chẹn kênh canxi phù hợp với sinh lý bệnh THA ở người cao tuổi là cứng động mạch, rối loạn chức năng tâm trương do giảm độ đàn hồi của thất.
Chẹn bêta có thể không hiệu quả như thuốc lợi tiểu Thiazide, tương tự Thiazide về mặt giảm
tử vong do đột quỵ, biến cố mạch vành và tử vong do mọi nguyên nhân ở người cao tuổi nên
Trang 10hạn chế dùng thường qui thuốc chẹn bêta ở
người cao tuổi trừ khi có chỉ định cụ thể như sau
NMCT, đau thắt ngực, suy tim.
Khảo sát hiệu quả của điều trị THA
Tỉ lệ kiểm soát được HA có bệnh nền kèm
theo theo khuyến cáo ESC 2007:
Tổng số bệnh nhân sau điều trị đạt được HA
mục tiêu chung theo khuyến cáo (81,4%).
Ở Ý, theo nghiên cứu của Avanzini có
khỏang 56% bệnh nhân được điều trị THA chỉ
có 33% kiểm soát được HA, tỉ lệ kiểm soát ở 2
giới như nhau(2).
Tại Trung Quốc, theo nghiên cứu Inter Asia
được tiến hành bởi Paul Muntner và cộng sự
trên 15,838 bệnh nhân THA thì có 61,5% đang
điều trị hạ áp nhưng chỉ có 29,1% số người điều
trị kiểm soát được HA(21).
Theo nghiên cứu của Vũ Thị Lê Hạnh tại Hải
Phòng tỉ lệ kiểm soát được HA trên BN đã được
điều trị THA là 20,39%(29).
Trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi tỉ lệ
kiểm soát được HA mục tiêu cao (81,4%) do đối
tượng nghiên cứu là nội viện, BN được chủ
động cho uống thuốc có kiểm soát chặt chẽ bởi
nhân viên y tế trong suốt thời gian nằm viện nên
tỉ lệ đạt HA mục tiêu cao.
‐ Tỉ lệ kiểm soát HA có đái tháo đường (đạt
HA mục tiêu): 79,3%, còn lại 20,7% không đạt
tập trung ở nhóm bệnh có nhiều bệnh phối hợp
như suy thận, suy tim, nhiễm trùng.
‐ Tỉ lệ kiểm soát HA có bệnh thận mạn:
(60,5%), còn lại 39,5% không đạt do bệnh thận
giai đoạn cuối có nhiều bệnh phối hợp, phần lớn
bệnh nhân lớn tuổi.
‐ Tỉ lệ kiểm soát HA có bệnh mạch vành kèm
theo: đạt (79,5%) tỉ lệ tương đối cao, do gần đây
bệnh mạch vành được điều trị tích cực, có kỹ
thuật can thiệp mạch, nên kết quả khả quan,
khiến cho BN có động lực chú trọng đến điều trị
THA, tuân thủ theo sự hướng dẫn của thầy
thuốc.
‐ Tỉ lệ kiểm soát HA có bệnh suy tim kèm
theo: đạt (72,7%).
‐ Tỉ lệ kiểm soát HA có đột quỵ kèm theo: đạt (67,7%) so với tỉ lệ kiểm soát HA ở BN không đột quỵ (82,3%).
‐ Tỉ lệ kiểm soát HA ở BN cao tuổi: đạt (80,9%).
Như vậy tất cả các nhóm bệnh nền kèm theo như ĐTĐ, suy tim, suy thận mạn, bệnh mạch vành, đột quỵ, đều không đạt bằng nhóm không
có bệnh phối hợp tương tự, do thời gian bệnh nhân nằm viện ngắn, trung bình 7 ‐ 10 ngày, chưa đủ để kiểm soát được các yếu tố thúc đẩy, các yếu tố nguy cơ, bệnh nền phối hợp với nhau như vừa THA có suy tim, ĐTĐ, và suy thận mạn trên cùng 1 bệnh nhân.
Số thuốc dùng để đạt được HA mục tiêu
Nhóm 2 thuốc đạt tỉ lệ cao nhất (46,4%), 1 thuốc (25,1%), 3 thuốc (24,8%), 4 thuốc thấp nhất 3,8%. Sự phối hợp 2 thuốc, 3 thuốc, 4 thuốc đã được phân tích ở trên. Riêng đơn trị liệu trong điều trị THA đạt HA mục tiêu chiếm (25,1%). Tỉ
lệ dùng viên rời và viên phối hợp:
‐ Viên rời được dùng chủ yếu với tỉ lệ cao (96,9%) do số bệnh nhân THA nhập viện tập trung ở giai đoạn 2 và 3, có nhiều bệnh phối hợp nên chủ yếu dùng viên rời kết hợp, khi bệnh ổn xuất viện mới chuyển qua viên phối hợp.
KẾT LUẬN
Khảo sát cơ cấu các loại thuốc chống THA: Tăng huyết áp không có bệnh lý kèm theo thì thuốc được chỉ định nhiều nhất là nhóm ƯCMC, thứ 2 là nhóm ƯC Canxi, chẹn bêta, lợi tiểu không phải là chỉ định đầu tay.
THA ở BN suy tim: lợi tiểu chiếm tỉ lệ cao nhất 47,7%, thứ 2 là ƯCMC 43,2%, thấp nhất chẹn bêta có 11,4%.
THA ở BN suy thận mạn ƯC Canxi chiếm
tỉ lệ cao nhất 60,5%, lợi tiểu 50,0%, ƯCTKTW 39,5%.
THA ở BN có ĐTĐ thì ƯCMC chiếm tỉ lệ cao nhất 63,6%.
Sử dụng viên thuốc phối hợp cố định liều còn quá ít.