1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát tình hình sử dụng và hiệu quả thuốc chống tăng huyết áp ở bệnh tăng huyết áp tại khoa tim mạch Bệnh viện Cấp cứu Trưng Vương 10-2011-3/2013

11 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 462,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu với mục tiêu nhằm khảo sát cơ cấu sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa tim mạch Bệnh viện Cấp Cứu Trưng Vương. Khảo sát tình hình kiểm soát huyết áp ở đối tượng nghiên cứu sau 1 tuần theo khuyến cáo ESC 2007.

Trang 1

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG VÀ HIỆU QUẢ THUỐC CHỐNG  TĂNG HUYẾT ÁP Ở BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP TẠI KHOA TIM MẠCH 

BỆNH VIỆN CẤP CỨU TRƯNG VƯƠNG 10/2011‐ 3/2013 

Đôn Thị Thanh Thủy*, Đỗ Công Tâm*, Nguyễn Thị Mỹ Duyên*, Lý Huy Khanh*, Hà Thanh Yến 

Trang*, Trần Triệu Thanh Trúc* 

Mở đầu: Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ có thể điều chỉnh được của bệnh tim mạch. Có nhiều thuốc điều 

trị tăng huyết áp có hiệu quả, có thể dùng đơn độc hoặc phối hợp các thuốc với nhau. Sự lựa chọn thuốc khởi đầu  nên dựa vào tuổi, chủng tộc, tác dụng phụ lên chuyển hóa, yếu tố nguy cơ tim mạch, và quan trọng nhất là xem 

xét các bệnh phối hợp. 

Mục  tiêu:  Khảo sát cơ cấu sử dụng thuốc điều trị tăng huyết áp tại khoa tim mạch Bệnh viện Cấp Cứu 

Trưng Vương. Khảo sát tình hình kiểm soát huyết áp ở đối tượng nghiên cứu sau 1 tuần theo khuyến cáo ESC 

2007. 

Phương pháp: Mô tả cắt ngang. 

Kết quả: Khảo sát việc sử dụng thuốc chống tăng huyết áp ở 510 bệnh nhân.  

Cơ cấu sử dụng thuốc: Phối hợp 2 thuốc để đạt HA mục tiêu chung chiếm tỉ lệ cao nhất; tăng huyết áp  không có bệnh lý kèm theo thì thuốc chống tăng huyết áp được chỉ định nhiều nhất là nhóm ức chế men chuyển, 

kế đến là nhóm ức chế kênh Canxi, nhóm chẹn thụ thể bêta, lợi tiểu không phải là chỉ định đầu tay; tăng huyết áp 

ở người suy tim thì lợi tiểu chiếm tỉ lệ cao nhất 47,7%, thứ 2 là ức chế men chuyển 43,2%, thấp nhất chẹn thụ  thể bêta có 11,4%; tăng huyết áp ở người có bệnh thận mạn thì ức chế kênh Canxi chiếm tỉ lệ cao nhất 60,5% kế  đến là lợi tiểu (Furosemid 50,0%), ức chế thần kinh trung ương 39,5%; tăng huyết áp ở người có đái tháo đường  thì ức chế men chuyển chiếm tỉ lệ cao nhất 63,6%. Tỉ lệ đạt huyết áp mục tiêu: Tỉ lệ đạt HA mục tiêu chung cao  (81,7%); có đái tháo đường: 79,3%, so với không có đái tháo đường 82,0%; có bệnh thận mạn đạt 60,5%, so với  không có bệnh thận mạn 83,1%; có bệnh mạch vành là 79,5%, so với không có bệnh mạch vành là 82,1%; có suy  tim là 72,7% so với không suy tim đạt 82,2%; có đột quỵ là 67,7% so với không có đột quỵ là 82,3%; cao tuổi là  80,9% so với không cao tuổi là 82,5%.  

Kết luận: Tăng huyết áp không có bệnh lý kèm theo thì thuốc được chỉ định nhiều nhất là nhóm ức chế men 

chuyển, kế đến là nhóm ức chế kênh Canxi, chẹn bêta. Lợi tiểu không phải là chỉ định đầu tay. Tăng huyết áp có  các bệnh lý đi kèm, thuốc chống tăng huyết áp thay đổi theo bệnh kèm.Sử dụng viên thuốc phối hợp cố định liều  còn quá ít. Tỉ lệ đạt HA mục tiêu chung cao (81,7%), nhưng THA có bệnh phối hợp thì tỉ lệ đạt HA mục tiêu  không cao. Phối hợp 2 thuốc để đạt HA mục tiêu chung chiếm tỉ lệ cao nhất. 

Từ khóa: Tăng huyết áp, thuốc chống tăng huyết áp  

ABSTRACT 

SURVEY ON THE USE AND EFFECTIVENESS OF ANTIHYPERTENSION DRUGS IN 

HYPERTENSION PATIENS AT CARDIOVASCULAR DEPARMENT OF TRUNG VUONG 

EMERGENCY HOSPITAL 

Don Thi Thanh Thuy, Do Cong Tam, Nguyen Thi My Duyen, Ly Huy Khanh, Ha Thanh Yen Trang,  

Tran Trieu Thanh Truc * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 4 ‐ 2013: 21 ‐ 32 

* Bệnh viện Cấp cứu Trưng Vương 

Trang 2

Background:  Hypertension  is  a  risk  factor  of  cardiovascular  disease,  it  can  be  adjusted.  There  are  many 

antihypertension drugs is effective, can be used alone or in combination. The initial choice of antihypertension  drugs  should  be  based  on  age,  race,  adverse  effects  on  metabolism,  cardiovascular  risk  factors,  and  most 

importantly consider the coordinate diseases. 

Objectives:  Survey  structure  used  antihypertension  drugs  used.  Survey  of  blood  pressure  control  in 

research subjects after 1 week as recommended by ESC 2007. 

Methods: cross‐sectional description. 

Result: After looking at 510 patients during the time of October 2011 to October 2012 who were using use 

of antihypertensive drugs at cardiovascular deparment, we came up with the following conclusions: Most used  medications were ACE inhibitors; in second place is Calcium antagonists. Beta‐blockers, Diuretics are not first  choices. In HBP together with heart failures, Diuretics got the highest success rate at 47.7%, second place is ACE  inhibitors  at  43.2%,  Beta‐blockers  lowest  at  11.4%,  in  HBP  with  Renal  failure,  Calcium  antagonists  got  the  highest  success  rate  at  60.5%,  second  place  is  Diuretics  (Furosemid  50.0%),  in  HBP  with  diabetes,  ACE  inhibitors  got  the  highest  success  rate  at  63.6%.  Percentage  achieving  common  goals  high  blood  pressure  (81.7%),  79.3%  of  patients  with  diabetes  reached  their  desired  blood  pressure  comparing  to  82.0%  without;  60.5% of patients with Renal failure reached their desired blood pressure comparing to 83.1% without; 79.5% of  patients with Coronary heart disease got their blood pressure under control, comparing to 82.1% without; 72.7% 

of  patients  with  heart  failures  got  their  blood  pressure  under  control,  comparing  to  82.2%  without;  67.7%  of  patients with strokes got their blood pressure under control, comparing to 82.3% without; 80.9% of elder patients  reached their desired blood pressure, comparing to 82.5% of younger patients. 

Conclusions:  Hypertension  without  morbidities,  the  antihypertension  drug  is  indicated  most  ACE 

inhibitors, followed by calcium channel inhibitors, beta‐blockers. Diuretics are not indicated debut. Hypertension  accompanied  with  the  disease,  antihypertensive  drug  is  vary  with  comorbidities.  Using  tablet  fixed‐dose  combination was too little. Percentage achieving common goals high blood pressure (81.7%), but the hypertensive  patients  in  collaboration  with  the  proportion  achieving  BP  goals  are  not  high.  Coordinate  2  antihypertension  drugs to achieve BP goals accounted for the highest percentage. 

Keywords: Hypertension, antihypertension drug. 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Tăng huyết áp (THA) là một yếu tố nguy cơ 

chủ yếu của bệnh tim mạch. Hằng năm trên thế 

giới  có  hàng  triệu  người  tử  vong  do  bệnh  tim 

mạch  như  nhồi  máu  cơ  tim,  đột  quị,  bệnh 

thận(16). Mục đích  của  điều  trị  THA  là  hạ  huyết 

áp,  ngăn  ngừa  hoặc  phục  hồi  tổn  thương  cơ 

quan  đích(5),  đồng  thời  không  gây  ra  tác  dụng 

phụ  và  không  làm  thay  đổi  lối  sống  một  cách 

thái quá. 

Hiện tại có nhiều thuốc điều trị THA có hiệu 

quả,  có  thể  dùng  đơn  độc  hoặc  phối  hợp  các 

nhóm thuốc với nhau(11). Sự lựa chọn thuốc khởi 

đầu nên dựa vào tuổi, chủng tộc, yếu tố nguy cơ 

tim  mạch,  và  quan  trọng  nhất  là  xem  xét  các 

bệnh phối hợp(7). 

Do đặc điểm tình hình bệnh tật ở Bệnh viện  Cấp  cứu  Trưng  Vương,  THA  luôn  chiếm  số  lượng lớn tại phòng khám và tỉ lệ điều trị nội trú  của bệnh THA với các biến chứng của nó cũng  gia  tăng,  sử  dụng  thuốc  của  các  thầy  thuốc  đa  dạng, phong phú. Hơn nữa ở Việt Nam chưa có  nhiều nghiên cứu về cơ cấu dùng thuốc.  

Mục tiêu 

‐ Khảo sát cơ cấu sử dụng thuốc điều trị tăng  huyết áp tại khoa tim mạch Bệnh viện Cấp Cứu  Trưng Vương. 

‐ Khảo sát tình hình kiểm soát được huyết áp 

ở đối tượng nghiên cứu sau 1 tuần theo khuyến  cáo ESC 2007. 

Trang 3

Đối tượng nghiên cứu 

 Tiêu  chuẩn  chọn  mẫu:  Các  bệnh  nhân  >18 

tuổi  nhập  viện  được  chẩn  đoán  THA  và  có  kê 

đơn điều trị THA  

 Tiêu chuẩn loại trừ: Những bệnh nhân dùng 

thuốc  dãn  mạch  không  phải  đưa  HA  về  mục 

tiêu  mà  để  điều  trị  suy  tim,  suy  thận,  đái  tháo 

đường. Những bệnh nhân THA thứ phát. 

Phương pháp nghiên cứu 

Thiết  kế  nghiên  cứu:  Tiền  cứu  mô  tả  cắt 

ngang. 

Tiêu  chuẩn  đánh  giá:  Đạt  HA  mục  tiêu 

<140/90mmHg,  còn  đối  với  THA  có  ĐTĐ  và 

THA  có  suy  thận  HA  mục  tiêu  cần  đạt  là 

<130/80mmHg(9). 

Xử  lý  dữ  liệu:  So  sánh  giữa  các  nhóm  với 

nhau  bằng  χ2.  Tính  OR.  So  sánh  các  số  trung 

bình  bằng  Student  test.  Phân  tích  dữ  liệu  được 

thực hiện trên phần mêm SPSS 16.0. 

KẾT QUẢ 

Đặc điểm chung  

Tuổi: Bệnh  nhân  THA  tăng  theo  tuổi,  40‐49 

(7,8%),  50‐59  (20,4%),  60‐69  (29,4%),  70‐79 

(24,1%).  Tuổi  trung  bình  cho  cả  nam  và  nữ  là 

65,76 ± 12,20, không có sự khác nhau giữa nam 

và nữ. 

Giới:  Tỉ  lệ  bệnh  nhân  nam  62,4%  và  nữ 

37,6%. Tỉ lệ nam / nữ là: 1,6:1. 

Đặc điểm về chỉ số nhân trắc theo giới 

Tỉ lệ béo phì và thừa cân chiếm 46,3%, nam 

48,1%,  nữ  43,2%,  không  có  sự  khác  biệt  giữa 

nam và nữ. 

Béo  bụng:  Nữ  36,5%,  nam  4,7%.  Béo  phì 

trung tâm nữ 99,0%, nam 60,1%. Có sự khác biệt 

giữa nữ và nam. 

Đặc điểm về chỉ số nhân trắc theo tuổi  

Thừa  cân,  béo  phì,  béo  bụng  giảm  theo  số 

tuổi, ở nhóm < 60 tuổi chiếm tỉ lệ 54,4%, ở nhóm 

>60 tuổi là 32,7%. 

Béo  phì  trung  tâm  nhóm  <60  tuổi  68,2%,  nhóm >60 tuổi 77,5%, không có sự khác biệt giữa 

2 nhóm tuổi. 

tuổi  

Các  nhóm  bệnh  nền  đi  kèm  với  THA  đều  tăng theo tuổi. 

Bệnh  mạch  vành  ở  nhóm  <  60  tuổi  tỉ  lệ  20,8%, nhóm > 60 tuổi 32,0%.  

Bệnh  ĐTĐ  ở  nhóm  <60  tuổi  16,2%,  ở  nhóm 

>60 tuổi 27%, có sự khác biệt rõ rệt giữa 2 nhóm.  Rối  loạn  lipit  máu  ở  nhóm  <  60  tuối  3,2%  nhóm >60 tuổi 10,1%.  

Đột quỵ ở nhóm <60 tuổi chiếm 1,3%, nhóm 

>60 tuổi chiếm 8,1%. 

Tỉ lệ THA tăng theo tuổi, nhóm <60 tuổi có  154/510  THA,  nhóm  >  60  tuổi  có  356/510  THA,  THA  độ  2  chiếm  tỉ  lệ  37,1%,  độ  3  29,8%,  độ  1  21,0%. Không có sự khác biệt mức độ THA giữa 

2 nhóm tuổi. 

Các yếu tố nguy cơ của THA  

Nam:  hút  thuốc  lá  32,7%,  tăng  cholesterol  21,6%, béo phì 53,7%, ít vận động thể lực 23,5%.  Tiền  sử  gia  đình  51,0%.  Số  yếu  tố  nguy  cơ:  >  3  yếu tố chiếm tỉ lệ cao 62,4%.  

Tổn  thương  cơ  quan  đích  của  THA  trong đối  tượng nghiên cứu 

Tổn  thương  cơ  quan  đích  chung  82,7%,  chiếm tỉ lệ cao nhất là nhóm mạch máu 72% xơ  vữa  động  mạch  cảnh,  bệnh  mạch  vành  30%.  Mạch  máu  mắt  39,7%.  Phì  đại  thất  trái  52,3%.  Protein  niệu  vi  thể  45,9%,  protein  niệu  đại  thể  chiếm  18,6%.  ĐTĐ  23,7%,  suy  tim  8,6%,  bệnh  thận mạn 7,5%, đột quị 6,1%. 

Cơ cấu sử dụng thuốc chống tăng huyết áp  

Bảng 1: Tỉ lệ dùng phối hợp thuốc chống THA theo 

tuổi 

Phối hợp thuốc

Chung (n =491)

<60 tuổi (n =150)

≥60 tuổi (n =341) P

Trang 4

1 thuốc, n (%) 117 (23,8) 46 (30,7) 71 (20,8)

0,114

2 thuốc, n (%) 221 (45,0) 60 (40,0) 161 (47,2)

3 thuốc, n (%) 132 (26,9) 39 (26,0) 93 (27,3)

4 thuốc, n (%) 21 (4,3) 5 (3,3) 16 (4,7)

Bảng 2: Tỉ lệ dùng loại thuốc trong nhóm thuốc 

chống THA đơn trị theo tuổi  

Thuốc (n =117) Chung <60 tuổi (n =64) ≥60 tuổi (n =71) P

Ức chế men chuyển,

n (%) 56 (47,9) 26 (56,5) 30 (42,3) 0,131

Ức chế thụ thể

Angiotensin, n (%) 14 (12,0) 5 (10,9) 9 (12,7) 0,769

Ức chế kênh Calci,

n (%) 26 (22,2) 10 (21,7) 16 (22,5) 0,919

Lợi tiểu, n (%) 4 (3,4) 1 (2,2) 3 (4,2) 0,551

Ức chế beta, n (%) 9 (7,7) 2 (4,3) 7 (9,9) 0,274

Ức chế thần kinh

trung ương, n (%) 8 (6,8) 2 (4,3) 6 (8,5) 0,390

Tỉ  lệ  các  kiểu  phối  hợp  2  thuốc  chống  THA 

theo tuổi 

221/491 (45,0%). 

Nhận xét:  

ƯCMC  +  ƯC  Canxi  (26,2%)  được  sử  dụng 

nhiều nhất. 

ƯCMC  +  Chẹn  Bêta  (15,4%),  ƯCMC  +  lợi 

tiểu: (6,3%) thấp. 

ƯCTT + ƯC Canxi, (8,6%). 

ƯCTT + Chẹn Bêta (6,8%). 

ƯC Canxi + Chẹn Bêta (8,1%). 

Sự phối hợp 2 nhóm thuốc không có sự khác 

biệt về tuổi. 

Tỉ  lệ  các  kiểu  phối  hợp  3  thuốc  chống  THA 

theo tuổi 

 132/491(26,9%). 

Có 15 kiểu phối hợp 3 nhóm thuốc, trong đó: 

ƯCMC + ƯC Canxi + Chẹn Bêta (22,7%). 

ƯCMC + Chẹn Bêta + ƯC TKTW (22,0%). 

ƯCMC + ƯC Canxi + ƯC TKTW (9,8%). 

ƯCMC + Lợi tiểu + ƯC TKTW (8,3%). 

ƯCTT + ƯC Canxi + UC TKTW (6,1%). 

Tỉ lệ dùng 4 thuốc chống Tăng  huyết  áp  theo 

tuổi 

Có  21  ca  kết  hợp  4  thuốc,  có  06  kiểu  phối  hợp. 

ƯCMC + ƯC Canxi + chẹn bê ta + ƯCTKTW  (28%). 

ƯCMC  +  ƯC  Canxi  +  lợi  tiểu  +  chẹn  bê  ta  (23%). 

ƯCMC  +  ƯC  Canxi  +  Lợi  tiểu  +  ƯC 

TKTW(19%). 

Bảng 3: Cơ cấu dùng thuốc chống THA ở bệnh nhân 

suy tim theo tuổi 

Thuốc Chung (n =44) <60 tuổi (n =6) ≥60 tuổi (n =38) P

Ức chế men chuyển, n (%)

19 (43,2) 1 (16,7) 18 (47,4) 0,158

Ức chế thụ thể Angiotensin, n (%)

10 (22,7) 1 (16,7) 9 (23,7) 0,703

Ức chế kênh Calci,

n (%)

17 (38,6) 4 (66,7) 13 (34,2) 0,129 Lợi tiểu, n (%) 21 (47,7) 5 (83,3) 16 (42,1) 0,059

- Furosemid , n (%) 14 (66,7) 4 (80,0) 10 (62,5) 0,469

- Verospiron , n (%) 7 (33,3) 1 (20,0) 6 (37,5)

Ức chế beta, n (%) 5 (11,4) 2 (33,3) 3 (7,9) 0,068

Ức chế thần kinh trung ương, n (%) 9 (20,5) 3 (11,1) 6 (35,5) 0,053

Bảng 4: Cơ cấu dùng thuốc chống THA ở bệnh nhân 

đái tháo đường  

Thuốc (n =121) Chung <60 tuổi (n =25) ≥60 tuổi (n =96) P

Ức chế men chuyển, n (%) 77 (63,6) 17 (68,0) 60 (62,5) 0,611

Ức chế thụ thể Angiotensin, n (%) 25 (20,7) 3 (12,0) 22 (22,9) 0,230

Ức chế kênh Calci,

n (%) 53 (43,8) 10 (40,0) 43 (44,8) 0,667 Lợi tiểu, n (%) 29 (24,0) 6 (24,0) 23 (24,0) 0,997

- Hypothiazid, n

- Furosemid , n (%) 19 (65,5) 3 (50,0) 16 (69,6) 0,206

Ức chế beta, n (%) 45 (37,2) 13 (52,0) 32 (33,3) 0,085

Ức chế thần kinh trung ương, n (%) 46 (38,0) 9 (36,0) 37 (38,5) 0,816

Có  121  ca  THA  có  ĐTĐ  kèm  theo.  Nhóm  ƯCMC chiếm tỉ lệ cao nhất 63,6%, ƯCTT chiếm  20,7%. 

Ức chế canxi đứng thứ 2: 43,8%, ƯCTKTW:  38,0%, chẹn bêta: 37,2%. 

Trang 5

Cơ  cấu  dùng  thuốc  chống  THA  ở  bệnh  nhân  đột 

quỵ  

Có 31 ca THA có Đột quị kèm theo, Ức chế 

men chuyển (67,7%), Ức chế kênh Calci (48,4%), 

Ức  chế  thần  kinh  trung  ương  (35,5%),  Ức  chế 

beta (25,8%). 

Cơ  cấu  dùng  thuốc  chống  THA  ở  bệnh  nhân  có 

bệnh thận mạn  

38  ca  THA  có  bệnh  thận  mạn:  Nhóm  UC 

Canxi chiếm tỉ lệ cao nhất: 60,5%. Lợi tiểu đứng 

thứ 2: chiếm 50,0% (Furosemide 94,7%). ƯCMC 

chiếm  44%.  ƯCTKTW  chiếm  39,5%,  chẹn  bê  ta 

(31,6%). 

Cơ  cấu  dùng  thuốc  chống  THA  ở  bệnh  nhân  tuổi 

cao  

Có 356 ca THA thuộc nhóm tuổi cao. 

Nhóm  ƯCMC  được  sử  dụng  nhiều  hơn 

(58,1%)  trong  khi  nhóm  ƯC  Canxi  tỉ  lệ  ít  hơn 

(45,5%). Lợi tiểu (17,4%), Ức chế beta (34,6%), Ức 

chế thần kinh trung ương (33,1%). 

Bảng 5: Tỉ lệ kiểm soát được huyết áp theo khuyến 

cáo ESC_2007  

Chung (n

=415)

Nam (n =265)

Nữ (n =150) P

Suy tim, n (%) 32 (7,7) 19 (7,2) 13 (8,7) 0,583

Bệnh mạch vành,

n (%) 116 (28,0) 69 (26,0) 47 (31,3) 0,248

Đái tháo đường,

n (%) 96 (23,1) 72 (27,2) 24 (16,0) 0,011

Bệnh thận mạn,

n (%) 23 (5,5) 12 (4,5) 11 (7,3) 0,231

Đột quỵ, n (%) 21 (5,1) 13 (4,9) 8 (5,3) 0,849

Cao tuổi, n (%) 288 (69,4) 186 (70,2) 102 (68,0) 0,642

Bảng 6: Số thuốc dùng để đạt huyết áp mục tiêu theo 

tuổi  

Chung (n =399)

<60 tuổi (n =123)

≥60 tuổi (n =276) P

1 thuốc, n (%) 100 (25,1) 41 (33,3) 59 (21,4)

2 thuốc, n (%) 185 (46,4) 52 (42,3) 133 (48,2) 0,075

3 thuốc, n (%) 99 (24,8) 27 (22,0) 72 (26,1)

4 thuốc, n (%) 15 (3,8) 3 (2,4) 12 (4,3)

Bảng 7: Tỉ lệ dùng viên rời phối hợp 

Chung

(n=510)

Nam (n=318)

Nữ (192) p

Viên rời, n (%) 494 (96,9) 309 (97,2) 185 (96,4) 0,609 Viên phối hợp 16 (3,1) 9 (2,8) 7 (3,6)

BÀN LUẬN  Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu 

Tuổi trung bình cho cả nam và nữ 

Tuổi trung bình của nhóm là 65,76 ± 12,20 so  với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Văn Hoàng 

và Nguyễn Thị Trúc là 57,9 ± 13,28, của Lý Huy  Khanh  từ  năm  2008‐2009(14),  tại  phòng  khám  Bệnh viện Cấp cứu Trưng Vương thì bệnh nhân  THA  độ  tuổi  trung  bình  63,30  ±13,8,  nữ  chiếm  57,98%. Nghiên cứu của chúng tôi tương đương.  

Giới tính 

Nam 62,4%, nữ 37,6%, tỉ lệ nam: nữ là 1,6:1.  

Đặc điểm về chỉ số nhân trắc 

Theo nghiên cứu của chúng tôi thừa cân béo  phì chiếm 46,3%, nam 48,1%, nữ 43,2%, nam nữ  tương  đương  nhau  nhưng  tỉ  lệ  béo  phì  trung  tâm ở nữ 99,0% và béo bụng ở nữ 36,5% cao hơn  nam  lần  lượt  là  60,1%,  4,7%,  sự  khác  biệt  có  tý  nghĩa thông kê (p < 0,001). 

BMI  trung  bình  22,79  ±  3,59,  nam  22,98  ±  3,57,  nữ  22,48  ±  3,63.  So  với  nghiên  cứu  của  Nguyễn  Văn  Hoàng(19)  thì  BMI  của  nữ  20,7  ±  3,7, nam 19,8±3,2, nữ cao hơn nam có  ý  nghĩa  thống kê (p= 0,001). 

Vòng  eo  trung  bình  83,58  ±  11,09,  vòng  eo  trung bình ở nam 83,19 ± 10,78, nữ 84,21 ± 11,60,  vòng eo nữ cao hơn nam. So với nghiên cứu của  Nguyễn  Đức  Công(15)  nghiên  cứu  một  số  chỉ  số  nhân trắc và bề dày lớp mỡ dưới da ở bệnh nhân  THA nguyên phát trong 80 bệnh nhân THA thì  vòng eo trung bình 83,3 ± 9,4 cm, tương đương  với kết quả nghiên cứu của chúng tôi.  

Béo  bụng  làm  tăng  tỉ  lệ  THA  so  với  những  người không béo bụng(22,23). 

Phân bố mỡ trong cơ thể cũng là một yếu tố  quan  trọng,  những  người  béo  bụng  (béo  phì  trung tâm) có nguy cơ THA cao nhất(10). Tỉ lệ béo  phì vùng bụng trong lô nghiên cứu là 74,7% so  với nghiên cứu của Nguyễn Văn Hoàng tỉ lệ béo  phì vùng bụng chiếm 17,2%. 

Trang 6

Nam 0,91 ± 0,09, nữ 0,91 ± 0,07.  

Như vậy cả 3 chỉ số BMI, vòng eo, tỉ lệ vòng 

eo/ mông trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi 

đều cao ở người THA phản ánh đúng với nhiều 

nghiên  cứu  trong  và  ngoài  nước.  Như  vậy  cần 

đánh  giá  mức  độ  thừa  cân,  béo  phì  liên  quan 

đến chế độ ăn, luyện tập, trong công tác phòng 

và  điều  trị  THA  cần  tư  vấn  cho  bệnh  nhân  kỹ 

lưỡng về vấn đề này. 

Phân giai đoạn của THA (ESC 2007) 

Nhóm  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  có  THA 

độ 2 tỉ lệ 37,1% cao nhất, độ 3 ‐ 29,8%, THA độ 

1 tỉ lệ thấp nhất 21,0%. So với nghiên cứu của 

Nguyễn  Thị  Minh  Hằng  năm  2008(17)  tỉ  lệ  lần 

lượt  là:  độ  2  ‐  47,15%,  độ  3  ‐  30,81%,  độ  1‐ 

22,04%,  thì  số  lượng  của  chúng  tôi  tương 

đương. Vấn đề đặt ra diều trị THA có đạt HA 

mục  tiêu  không,  quản  lý  HA  ở  cộng  đồng, 

phát hiện trễ, ý thức của người bệnh. 

Các yếu tố nguy cơ tim mạch của THA  

Giới: Đối với nam tỉ lệ hút thuốc lá 32,7%, tỉ 

lệ  cholesterol  TP  >6,1mM/l  (hoặc  LDL‐C  > 

4,0mM/l)  chiếm  21,6%,  nữ  tập  trung  ở  nhóm 

HDL‐C  (HDL  <  1,2mM/L)  chiếm  tỉ  lệ  66,7%,  ít 

vận động thể lực 23,5% (nữ 34,9%, nam 16,7%), 

béo phì 56,8% (nam 51,9%, nữ 56,8%). 

Ngưng thuốc là một trong những biện pháp 

hiệu  quả  nhất  để  giảm  các  yếu  tố  nguy  cơ  tim 

mạch.  Tất  cả  các  BN  THA  đều  cần  được  nhắc 

nhở bỏ thuốc lá ở mỗi lần khám. 

Trong  nghiên  cứu  này  tỉ  lệ  hoat  động  thể 

lực chỉ chiếm 23%. Cần hướng dẫn người bệnh 

thường xuyên tập luyện, mỗi ngày nên tập thể 

lực ít nhất 30 phút ở tât cả các ngày trong tuần. 

Sự tập luyên như vậy sẽ giảm được HA từ 4‐ 9 

mmHg(8). 

Tuổi: Trên 3 yếu tố nguy cơ tim mạch: nhóm 

bệnh  >  60  tuổi  tỉ  lệ  cao  68,5%.  trong  đó  yếu  tố 

béo phì chiếm 57,3%, yếu tố tiền sử gia đình có 

bệnh tim mạch chiếm 51,0%. Tiền sử gia đình có 

giá trị tiên đoán khởi phát THA trong tương lai 

của các thành viên trong gia đình(24). Tỉ số chênh 

phát triển THA bằng 2,38 khi chỉ có cha hoặc mẹ  THA và tăng lên 6,49 khi có cả cha và mẹ THA,  yếu tố di truyền đóng vai trò quan  trong(12).  Lu 

và cộng sự nghiên cứu tỉ lệ THA và  các  yếu  tố  nguy cơ tim mạch ở người cao tuổi tại Đài Loan  cho  thấy  tỉ  lệ  THA  ở  người  có  tiền  sử  gia  đình  bệnh THA cao hơn những người không có tiền 

sử gia đình THA (p< 0,001)(13). 

Tổn  thương  cơ  quan  đích  của  THA  trong  mẫu nghiên cứu 

Trong  nhóm  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  có:  tổn  thương  mạch  máu  lớn  (mảng  xơ  vữa  động  mạch)  ở  động  mạch  cảnh  chiếm  tỉ  lệ  cao  nhất  72,2%,  tổn  thương  thận  (Protein  niệu  vi  thể)  45,9%:  đứng  thứ  2,  tổn  thương  đày  mắt  (giai  đoạn  2)  chiếm  30,4%.  Nên  việc  sớm  phát  hiện  THA ở cộng đồng là rất quan trọng, điều trị sớm  nhằm ngăn ngừa tổn thương cơ quan đích cũng 

là mục tiêu chính trong điều trị chống THA.  Tổn  thương  thiếu  máu  cơ  tim  (dựa  trên  ECG)  55,5%  và  bệnh  động  mạch  vành,  đã  có  chẩn đoán xác định 28,6%.  

Tỉ lệ THA có ĐTĐ chiếm 23.7%.Tỉ lệ đái tháo  đường  ở  nữ  17,2%  thấp  hơn  nam  27,7%  có  ý  nghĩa thống kê (p= 0,007). Tỉ lệ đái tháo đường  giữa  2  nhóm  tuổi  cũng  khác  nhau  có  ý  nghĩa  thống  kê  nhóm<  60  là  16,2%,  nhóm  >  60  tỉ  lệ  27,0% (với p= 0,009). So với nghiên cứu của Đỗ  Thị  Kim  Yến  28,2%,  Trần  Văn  Huy  21,17%(27),  Trần  Minh  Giao  25,8%(26),  Dwivedi  và  cộng  sự  nghiên cứu 156 bệnh nhân THA từ > 60 tuổi có  bệnh  ĐTĐ  kèm  theo  tỉ  lệ  31,41%(6).  Số  liệu  của  chúng tôi tương đương có lẽ do các mẫu nghiên  cứu đó đều lấy trong bệnh viện.  

Nghiên  cứu  I‐SEARCH  trên  dân  số  Việt  Nam 12,8%. Nghiên cứu của Hồ Lan và cộng sự  với  327  bệnh  nhân  THA  diện  tỉnh  Nghệ  An  quản lý chỉ có 5,5% bệnh nhân có ĐTĐ.Tỉ lệ này  thấp  hơn  có  lẽ  mẫu  nghiên  cứu  lấy  ngoài  cộng  đồng các đối tượng có tuổi trung bình thấp hơn  nên nguy cơ mắc bệnh tiểu đường thấp hơn. Tỉ 

lệ đái tháo đường của nam cao hơn nữ có lẽ do  nam  hút  thuốc  lá,  uống  rượu  và  mắc  các  bệnh  truyền nhiễm nhiều hơn. 

Trang 7

lão  hóa,  cả  hai  bệnh  này  đều  là  những  yếu  tố 

quan trọng dẫn đến bệnh thận mạn và bệnh tim 

mạch(25),  vì  vậy  cần  phải  tầm  soát  đái  tháo 

đường thường qui ở bệnh nhân THA càng sớm.  

Suy  tim  (8,6%),  tỉ  lệ  ở  nam  8,5%,  nữ  8,9%, 

không  có  sự  khác  biệt  giữa  nam  và  nữ.Nghiên 

cứu  của  Đặng  Vạn  Phước  khảo  sát  487  người 

THA có 2,5% suy tim. Nghiên  cứu  của  Võ  Văn 

Bảy(28)  tại  BV  Cấp  cứu  Trưng  Vương  tại  khoa 

Tim mạch năm 2010 tỉ suy tim là 8,83%. 

Nghiên cứu Bohm M(3) khảo sát 21.050 người 

THA  từ  26  quốc  gia  có  5,8%  suy  tim.  Tỉ  lệ  của 

chúng tôi cao hơn do khảo sát trong bệnh viện, 

bệnh nhân lớn tuổi, không kiểm soát được huyết 

áp  do  nhiều  nguyên  nhân  và  bệnh  nhân  tập 

trung ở độ tuổi lớn hơn. 

Tỉ lệ THA có suy thận mãn là 7,5%. Tỉ lệ nam 

4,7%, nữ 12.0% sự khác biệt có ý nghĩa thống kê 

(p= 0,002). Sự khác biệt giữa 2 nhóm tuổi không 

có  ý  nghĩa  thống  kê,  nhóm  <  60  tuổi  tỉ  lệ  7,1%, 

nhóm  >  60  tuối  7,6%.  Nghiên  cứu  của  Bùi  Văn 

Tân(4)  khảo  sát  199  người  THA  có  23,1%  tổn 

thương thận.Trần Minh Giao, Châu Ngọc Hoa(26) 

khảo  sát  1213  bệnh  nhân  nhập  khoa  nội  tim 

mạch BV Nhân Dân Gia Định  tổn  thương  thận 

do  THA  49,2%.  Nguyễn  Văn  Hoàng  khảo  sát 

1134 Bn có 27,4% có suy thận mạn. Nghiên cứu 

của  Allmirall  và  cộng  sự  nghiên  cứu  tỉ  lệ  bệnh 

thận mạn và sự kết hợp các yếu tố nguy cơ tim 

mạch ở 253 người từ 65‐ 93 tuổi trong cộng đồng 

thì tỉ lệ suy thận mạn là 31%(1). 

Các tỉ lệ trên đều cao hơn nhiều so với mẫu 

nghiên  cứu  có  lẽ  do  khác  nhau  về  độ  tuổi  của 

mẫu nghiên cứu,và cũng có do ở Bệnh viện Cấp 

cứu Trưng Vương bệnh thận mãn được nằm ở 4 

khoa  (Khoa  Tiêu  hóa  ‐  Tiết  niệu,  khoa  Thận 

nhân tạo, khoa Nội tiết, khoa Tim mạch), nên tỉ 

lệ  bệnh  thấp,  không  đại  diện  được  cho  dân  số 

nghiên cứu. THA đóng vai trò quan trọng trong 

tổn thương thận, THA là nguyên nhân gây suy 

thận giai đoạn cuối. Người cao tuổi THA có kèm 

ĐTĐ hoặc suy thận được xếp vào nhóm có nguy 

cơ  tim  mạch  rất  cao  cho  phép  điều  trị  tích  cực 

bằng  thuốc  chống  THA(20).  Vì  vậy  cần  đánh  giá  đầy đủ và phát hiện sớm bệnh thận mạn ở đối  tượng  này,  kịp  thời  ngăn  chặn  bệnh  diễn  tiến  đến suy thận giai đoạn cuối.  

Rối loạn lipide máu 

Trong mẫu nghiên cứu tỉ lệ THA có rối loạn  lipide máu chiếm 8,0%, tỉ lệ tăng cholesterol toàn  phần  (>  6,1mM/l  hoặc  LDL‐C  >  4,0mM/l)  là  21,6%,  trong  đó  nam  25,2%,  nữ  15,6%.  Sự  khác  biệt  không  có  ý  nghĩa  thống  kê  (p=  0,011).  Nghiên  cứu  của  Nguyễn  Văn  Hoàng  tỉ  lệ  tăng  cholesterol  là  50,4%,  tăng  LDL  là  54,8%,  tỉ  lệ  giảm HDL 14,3%. 

Nguyễn Đức Công và cộng sự nghiên cứu 80  bệnh  nhân  THA  tại  khoa  Tim‐Thận‐Khớp‐Nội  tiết  bệnh  viện  103  thì  tăng  Cholesterol  86,3%,  tăng LDL 52,5%, giảm HDL 40,0%. 

Kết quả của các mẫu nghiên cứu khác nhau 

có  lẽ  do  tiêu  chuẩn  chọn  bệnh,  dân  số  nghiên  cứu (khoa Tim mạch, khoa Tim‐ Thận‐ Nội tiết,  phòng  khám).  Tuy  nhiên  các  kết  quả  đều  cho  thấy tỉ lệ rối loạn lipide máu ở người THA khá  cao. Vì vậy tầm soát rối loạn Lipide máu ở người  THA  là  cần  thiết,  ở  các  nhóm  tuổi,  nhằm  đánh  giá đầy đủ các yếu tố nguy cơ tim mạch để công  tác điều trị đạt kết quả cao. 

Tổn  thương  não  (đột  quỵ)  chiếm  tỉ  lệ  thấp  nhất 6,1%: 

Nghiên  cứu  của  Nguyễn  Thị  Thanh  Nga(18)  khảo sát 74,340 người THA có 4,3% tiền căn đột  quỵ. Nghiên cứu của Bùi Văn Tân(4) khảo sát 199  người THA có 4,5% đột quỵ 

Trong  nhóm  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  chủ  yếu thống kê tỉ lệ tiền căn đột quỵ, đột quỵ cấp  được  chuyển  qua  đơn  vị  đột  quỵ,  nên  kết  quả  cũng không phản ánh đại diện được cho nhóm  tổn thương mạch máu não. 

Cơ cấu sử dụng thuốc chống THA 

Sự phân bố tỉ lệ các nhóm thuốc 

Nhóm  ức  chế  men  chuyển  (60,5%)  được  sử  dụng  nhiều  nhất,  theo  khuyến  cáo  ESC  (2007)  thuốc đầu tay có thể là ƯCMC, dễ sử dụng, ít tác  dụng phụ, không bị nhịp nhanh phản xạ, và do 

Trang 8

trong  nhóm  nghiên  cứu  có  nhiều  bệnh  lý  kèm 

theo như bệnh mạch vành, đái tháo  đường  týp 

2, suy tim. Nhóm ức chế canxi (46,6%) đứng thứ 

2  Thông  thường  nhóm  ức  chế  canxi  dùng  cho 

bệnh  nhân  cao  tuổi  có  THA  tâm  thu  đơn  độc, 

THA  có  bệnh  thận  mạn  mà  trong  mẫu  nghiên 

cứu  của  chúng  tôi  tỉ  lệ  THA  ở  người  cao  tuổi 

chiếm  tỉ  lệ  cao  (53,5%),  tiếp  theo  là  nhóm  chẹn 

bêta  (37,3%)  được  sử  dụng  nhiều  do  tỉ  lệ  bệnh 

mạch vành, suy tim, trong mẫu nghiên cứu cao. 

Tỉ lệ dùng phối hợp thuốc chống THA 

  Phối  hợp  2  thuốc  chiếm  tỉ  lệ  cao  nhất 

(45%),  phối  hợp  3  thuốc  (26,9%),  thấp  nhất  là 

phối  hợp  4  thuốc  (4,3%).  Theo  thông  tin  tim 

mạch  cập  nhật  MSD  2011  trên  2/3  bệnh  nhân 

THA cần sử dụng 2 hoặc > 2 thuốc hạ HA nhóm 

khác  nhau  mới  đạt  mục  tiêu  điều  trị.  Nghiên 

cứu ALLHAT cho thấy khoảng 60% bệnh nhân 

đạt mức HA< 140/90 mmHg cần 2 thuốc hạ HA, 

ở BN cần đạt HA mục tiêu thấp hơn (< 130/80) 

thường cần > 3 thuốc hạ HA. 

Trong nhóm phối hợp 2 thuốc thì ƯCMC+ 

UC Canxi chiếm tỉ lệ nhiều nhất (26,2%), theo 

JNC  VI  phối  hợp  ƯCMC  với  ƯC  Canxi  làm 

tăng  tác  dụng  hạ  áp,  giảm  protein  niệu  hiệu 

quả  hơn  dùng  đơn  độc,  làm  giảm  tác  dụng 

phụ của dihydropyridin như phù mắt cá chân, 

kế đến là nhóm ƯCMC với chẹn bêta (15,4%), 

theo thống kê của chúng tôi nhóm bệnh mạch 

vành  chiếm  tỉ  lệ  cao  28,6%,  thiếu  máu  cơ  tim 

biểu hiện trên ECG là 55,5%, và suy tim (8,6%) 

nên  kết  hợp  ƯCMC  với  chẹn  bêta  chiếm  tỉ  lệ 

không  nhỏ,  ƯCMC  với  lợi  tiểu  (6,3%)  cũng  là 

một  phối  hợp  tốt  vì  lợi  tiểu  gây  mất  kali  còn 

ƯCMC gây giữ kali. 

Phối  hợp  3  thuốc  chiếm  tỉ  lệ  (26,9%)  tập 

trung chủ yếu ở nhóm bệnh có bệnh mạch vành 

có suy tim, và bệnh thận mạn. 

Sự  phối  hợp  ƯCMC  +  ƯC  Canxi  +  chẹn 

bêta  (22,7%)  chiếm  tỉ  lệ  cao  do  nhóm  bệnh 

thường có nhiều bệnh phối hợp, khó kiểm soát 

dược  ‐  Phối  hợp  4  thuốc  chiếm  4.3%:  sự  phối 

hợp ƯCMC+ ƯC Canxi+ chẹn bêta + ƯCTKTW 

chiếm tỉ lệ 28,6%, thứ 2 là ƯCMC+ ƯC Canxi+ 

lợi  tiểu+  chen  bêta  (23,8%),  thứ  3  là  ƯCMC+ 

ƯC  Canxi  +  lợi  tiểu  +  ƯCTKTW  (19,0%),  cả  3  kiểu  phối  hợp  4  thuốc  đều  có  ƯCMC,  ƯC  Canxi,  ƯCTKTW  chứng  tỏ  có  kèm  theo  bệnh  thận mạn, suy tim, suy mạch vành kết hợp với  nhau,  thuốc  ƯCTKTW  thường  là  thuốc  được  lựa chọn cuối cùng.  

Cơ cấu sử dụng thuốc chống THA có bệnh  phối hợp 

Cơ cấu sử dụng thuốc chống THA ở bệnh nhân  suy tim 

Nghiên  cứu  của  chúng  tôi  có  44/510  bệnh  nhân có THA kèm suy tim 

‐  Nhóm  ƯCMC  được  chỉ  định  nhiều  nhất  (65,9%) do ƯCMC giảm tiết aldosteron dẫn đến  giảm giữ muối và nước, ƯCMC giảm hoạt tính 

cả  3  tầng  giao  cảm,  giảm  lượng  catecholamin  lưu  thông  do  đó  giảm  tiêu  thụ  oxy  của  cơ  tim,  điều  này  có  lợi  cho  suy  tim.  ƯCMC  giảm  hormon kháng bài niệu (ADH) do đó giảm bớt 

sự giữ nước. Ngoài ra ƯCMC còn chống tái định  dạng cơ tim tâm thất và trung mạc thành mạch  máu,  chống  yếu  tố  tăng  trưởng  cơ  tim  gây  phì  đại tâm thất, có lợi cho ngừa và điều trị suy tim 

do THA. 

‐ Lợi tiểu chiếm 47,7%, trong đó furosemide  chiếm  66,7%,  aldosteron  33,3%,  do  phần  lớn  bệnh nhân trong lô nghiên cứu nhập viện trong  tình trạng phù phổi cấp/ THA nên thuốc lợi tiểu  đầu tay là nhóm furosemide, chỉ khi qua cơn suy  tim cấp, tình trạng HA ổn định thì mới chuyển  qua  nhóm  Aldosteron,  hoặc  phối  hợp  2  nhóm  hoặc dùng riêng lẻ. 

‐ Ức chế canxi chiếm 38,6% đứng hàng thứ 

3 do tỉ lệ HA tăng ở độ 2 và độ 3 cao, dùng 1  thuốc  không  kiểm  soát  được  HA,  phải  dùng  phối hợp 2 thuốc, và do nhóm bệnh nhân lớn  tuổi chiếm tỉ lệ cao. 

‐ Chẹn bêta được lựa chọn thấp nhất (11,4%): 

do  phần  lớn  bệnh  nhân  nhập  viện  trong  tình  trạng  suy  tim  cấp,  THA  có  ĐTĐ  cũng  với  tỉ  lệ  cao nên chẹn bêta cũng không phải là thuốc đầu  tay để chọn lựa. 

Trang 9

Như  vậy  theo  khuyến  cáo  của  hội  tim 

mạch  học  VN  2008,  và  ESC  (2007)  ƯCMC, 

chẹn  bê  ta,  đối  kháng  aldosteron  có  hoặc 

không có lợi tiểu quai là chỉ định bắt buộc (nếu 

không có chống chỉ định) cho bệnh THA kèm 

suy tim. Trong lô nghiên cứu này do BN nhập 

viện trong tình trạng suy tim cấp/THA, và thời 

gian  nghiên  cứu  (thời  gian  nằm  viện)  ngắn 

trung bình 7 ‐ 10 ngày nên tỉ lệ sử dụng chẹn 

bêta và Aldosteron còn thấp. 

 Cơ cấu sử dụng thuốc chống THA ở bệnh nhân 

có bệnh thận mạn 

Theo  khảo  sát  của  chúng  tôi  ghi  nhận 

nhóm UC canxi sử dụng nhiều nhất (60,5%) do 

tăng  tuần  hoàn  thận  nên  rất  ưu  thế  đối  với 

THA/bệnh  thận  mạn,  kế  đến  là  nhóm  lợi  tiểu 

(50,0%)  mà  94,7%  là  furosemide.  Tiếp  theo  là 

ƯCMC  (44,7%).  Nên  sử  dụng  ƯCMC  hoặc 

UCTT nếu không  có  chống  chỉ  định  cho  bệnh 

nhân  THA  kèm  có  suy  thận  mạn  nhằm  kiểm 

soát tiến triển suy thận (giảm đạm niệu, giảm 

xơ chai cầu thận). 

ƯCTKTW  (39,5%),  thường  dùng  trong 

trường  hợp  THA  có  bệnh  thận  mạn  mà  không 

kiểm soát được HA thường dùng phối hợp. 

Cơ cấu sử dụng thuốc chống THA ở bệnh nhân đái 

tháo đường 

Ở nhóm bệnh nhân này ƯCMC chiếm tỉ lệ 

cao (63,6%) theo khuyến cáo do ƯCMC ức chế 

sự  tạo  Angiotensin  II,  ƯCMC  còn  làm  tăng 

cung  lượng  huyết  thanh  qua  thận,  tăng  bài 

niệu nhưng áp suất nội vi cầu thận không thay 

đổi, thậm chí còn giảm nhẹ vì ƯCMC làm dãn 

các mạch máu đi ra nên giảm được vi albumin 

niệu, do đó bảo vệ được thận ở bệnh THA có 

đái  tháo  đường,  nhóm  ƯCTT  it  dược  chọn  vì 

chỉ  dùng  khi  ƯCMC  không  thích  nghi  được 

với  người  bệnh  (tác  dụng  phụ  như  ho),  còn 

một  số  bệnh  nhân  được  sử  dụng  ƯC  Canxi 

(43,8%) do THA có đái tháo đường có suy thận 

mạn tăng kali máu nên không dùng ƯCMC và 

ƯCTT  được,  một  số  bệnh  nhân  THA  có  đái 

tháo đường có kèm theo suy tim được chỉ định 

dùng  kết  hợp  chẹn  bê  ta,  đây  là  nhóm  thuốc 

không  được  khuyến  cáo  dùng  cho  bệnh  nhân  đái tháo đường. 

Cơ cấu sử dụng thuốc chống THA ở bệnh nhân  đột quỵ 

Qua  khảo  sát  chúng  tôi  ghi  nhận  nhóm  ƯCMC  được  chỉ  định  nhiều  nhất  (67,7%)  do  ƯCMC cải thiện chức năng nội mạc động mạch  não,  ƯCMC  dãn  cả  động  mạch  lẫn  tĩnh  mạch,  nhóm ƯC Canxi đứng thứ 2 do  phần  lớn  bệnh  nhân  trong  lô  nghiên  cứu  nhập  viện  trong  tình  trạng cơn THA nên được dùng ƯC Canxi truyền  tĩnh  mạch,  kết  hợp  với  ƯCMC.  Nhóm  lợi  tiểu  được  sử  dụng  ít  (19,4%).  Theo  khuyến  cáo  của  ESC  (2007)  thì  nhóm  ƯCMC  và  lợi  tiểu  nhóm  Thiazide  và  tương  tự  Thiazide  là  chỉ  định  bắt  buộc  cho  bệnh  THA  kèm  bệnh  mạch  máu  não  (sau đột quỵ thiếu máu não cục bộ, đột quỵ xuất  huyết) nếu không có chống chỉ định, đích kiểm  soát là đột quỵ tái phát.  

Cơ  cấu  sử  dụng  thuốc  chống  THA  ở  nhóm  bệnh  nhân tuổi cao 

Nhóm  ƯCMC  được  chỉ  định  nhiều  nhất  (58,1%), nhóm ƯC Canxi đứng thứ 2 (45,5%) do 

có  một  số  trường  hợp  THA  đơn  độc  không  có  bệnh lý kèm theo, thứ 3 là chẹn bêta (34,6%) do  THA  có  kèm  theo  bệnh  mạch  vành  nên  có  chì  định  bắt  buộc  với  chẹn  bê  ta,  nhóm  lợi  tiểu  ít  dùng  (17,4%),  trong  đó  nhóm  thiazide  chiếm  11,3%, nên dùng lợi tiểu thiazide cho bệnh THA  tâm thu đơn độc vì ở người cao tuổi mức renin  thấp  hơn  người  trẻ  tuổi,  lợi  tiểu  Thiazide  đặc  biệt hiệu quả ở đối tượng này. Theo khuyến cáo  của  hội  tim  mạch  học  Việt  Nam  thuốc  lợi  tiểu  thiazide, tương tự Thiazide và ƯC canxi (nhóm  dihydropyridin  hiệu  quả  trên  bệnh  nhân  cao  tuổi).  Có  THA  tâm  thu  đơn  độc  vì  làm  giảm  bệnh  tật  và  tử  vong  do  tim  mạch.  Chẹn  kênh  canxi  phù  hợp  với  sinh  lý  bệnh  THA  ở  người  cao tuổi là cứng động mạch, rối loạn chức năng  tâm trương do giảm độ đàn hồi của thất. 

 Chẹn bêta có thể không hiệu quả như thuốc  lợi tiểu Thiazide, tương tự Thiazide về mặt giảm 

tử  vong  do  đột  quỵ,  biến  cố  mạch  vành  và  tử  vong do mọi nguyên nhân ở người cao tuổi nên 

Trang 10

hạn  chế  dùng  thường  qui  thuốc  chẹn  bêta  ở 

người cao tuổi trừ khi có chỉ định cụ thể như sau 

NMCT, đau thắt ngực, suy tim. 

Khảo sát hiệu quả của điều trị THA 

Tỉ  lệ  kiểm  soát  được  HA  có  bệnh  nền  kèm 

theo theo khuyến cáo ESC 2007:  

Tổng số bệnh nhân sau điều trị đạt được HA 

mục tiêu chung theo khuyến cáo (81,4%). 

Ở  Ý,  theo  nghiên  cứu  của  Avanzini  có 

khỏang  56%  bệnh  nhân  được  điều  trị  THA  chỉ 

có  33%  kiểm  soát  được  HA,  tỉ  lệ  kiểm  soát  ở  2 

giới như nhau(2). 

Tại Trung Quốc, theo nghiên cứu Inter Asia 

được  tiến  hành  bởi  Paul  Muntner  và  cộng  sự 

trên  15,838  bệnh  nhân  THA  thì  có  61,5%  đang 

điều trị hạ áp nhưng chỉ có 29,1% số người điều 

trị kiểm soát được HA(21). 

Theo nghiên cứu của Vũ Thị Lê Hạnh tại Hải 

Phòng tỉ lệ kiểm soát được HA trên BN đã được 

điều trị THA là 20,39%(29). 

Trong  nhóm  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  tỉ  lệ 

kiểm soát được HA mục tiêu cao (81,4%) do đối 

tượng  nghiên  cứu  là  nội  viện,  BN  được  chủ 

động cho uống thuốc có kiểm soát chặt chẽ bởi 

nhân viên y tế trong suốt thời gian nằm viện nên 

tỉ lệ đạt HA mục tiêu cao. 

‐ Tỉ lệ kiểm soát HA có đái tháo đường (đạt 

HA  mục  tiêu):  79,3%,  còn  lại  20,7%  không  đạt 

tập trung ở nhóm bệnh có nhiều bệnh phối hợp 

như suy thận, suy tim, nhiễm trùng.  

‐  Tỉ  lệ  kiểm  soát  HA  có  bệnh  thận  mạn: 

(60,5%),  còn  lại  39,5%  không  đạt  do  bệnh  thận 

giai đoạn cuối có nhiều bệnh phối hợp, phần lớn 

bệnh nhân lớn tuổi.  

‐ Tỉ lệ kiểm soát HA có bệnh mạch vành kèm 

theo: đạt (79,5%) tỉ lệ tương đối cao, do gần đây 

bệnh  mạch  vành  được  điều  trị  tích  cực,  có  kỹ 

thuật  can  thiệp  mạch,  nên  kết  quả  khả  quan, 

khiến cho BN có động lực chú trọng đến điều trị 

THA,  tuân  thủ  theo  sự  hướng  dẫn  của  thầy 

thuốc.  

‐  Tỉ  lệ  kiểm  soát  HA  có  bệnh  suy  tim  kèm 

theo: đạt (72,7%). 

‐  Tỉ  lệ  kiểm  soát  HA  có  đột  quỵ  kèm  theo:  đạt  (67,7%)  so  với  tỉ  lệ  kiểm  soát  HA  ở  BN  không đột quỵ (82,3%). 

‐  Tỉ  lệ  kiểm  soát  HA  ở  BN  cao  tuổi:  đạt  (80,9%). 

Như vậy tất cả các nhóm bệnh nền kèm theo  như  ĐTĐ,  suy  tim,  suy  thận  mạn,  bệnh  mạch  vành, đột quỵ, đều không đạt bằng nhóm không 

có  bệnh  phối  hợp  tương  tự,  do  thời  gian  bệnh  nhân  nằm  viện  ngắn,  trung  bình  7  ‐  10  ngày,  chưa đủ để kiểm soát được các yếu tố thúc đẩy,  các yếu tố nguy cơ, bệnh nền phối hợp với nhau  như vừa THA có suy tim, ĐTĐ, và suy thận mạn  trên cùng 1 bệnh nhân. 

Số thuốc dùng để đạt được HA mục tiêu 

Nhóm  2  thuốc  đạt  tỉ  lệ  cao  nhất  (46,4%),  1  thuốc (25,1%), 3 thuốc (24,8%), 4 thuốc thấp nhất  3,8%.  Sự  phối  hợp  2  thuốc,  3  thuốc,  4  thuốc  đã  được  phân  tích  ở  trên.  Riêng  đơn  trị  liệu  trong  điều trị THA đạt HA mục tiêu chiếm (25,1%). Tỉ 

lệ dùng viên rời và viên phối hợp:  

‐  Viên  rời  được  dùng  chủ  yếu  với  tỉ  lệ  cao  (96,9%)  do  số  bệnh  nhân  THA  nhập  viện  tập  trung ở giai đoạn 2 và 3, có nhiều bệnh phối hợp  nên chủ yếu dùng viên rời kết hợp, khi bệnh ổn  xuất viện mới chuyển qua viên phối hợp. 

KẾT LUẬN 

Khảo sát cơ cấu các loại thuốc chống THA:  Tăng  huyết  áp  không  có  bệnh  lý  kèm  theo  thì  thuốc  được  chỉ  định  nhiều  nhất  là  nhóm  ƯCMC, thứ 2 là nhóm ƯC Canxi, chẹn bêta, lợi  tiểu không phải là chỉ định đầu tay. 

THA  ở  BN  suy  tim:  lợi  tiểu  chiếm  tỉ  lệ  cao  nhất  47,7%,  thứ  2  là  ƯCMC  43,2%,  thấp  nhất  chẹn bêta có 11,4%. 

THA ở BN suy thận mạn ƯC Canxi chiếm 

tỉ  lệ  cao  nhất  60,5%,  lợi  tiểu  50,0%,  ƯCTKTW  39,5%. 

THA ở BN có ĐTĐ thì ƯCMC chiếm tỉ lệ cao  nhất 63,6%. 

Sử  dụng  viên  thuốc  phối  hợp  cố  định  liều  còn quá ít. 

Ngày đăng: 23/01/2020, 05:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w