1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phẫu thuật nội soi hỗ trợ cắt tuyến ức qua đường cổ kết hợp cắt gần hoàn toàn tuyến giáp: Báo cáo 3 trường hợp đầu tiên được thực hiện tại Bệnh viện 103

8 64 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 402,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết nghiên cứu áp dụng kỹ thuật phẫu thuật nội soi để mổ cắt tuyến ức kết hợp cắt gần hoàn toàn TG qua cùng một đường mổ trong cùng một cuộc mổ. Đây có lẽ là những trường hợp được áp dụng kỹ thuật mổ này lần đầu tiên ở nước ta và nghiên cứu này muốn nêu lên những kết quả bước đầu đã thu được.

Trang 1

161

PHẪU THUẬT NỘI SOI HỖ TRỢ CẮT TUYẾN ỨC QUA ĐƯỜNG CỔ KẾT

HỢP CẮT GẦN HOÀN TOÀN TUYẾN GIÁP: BÁO CÁO

3 TRƯỜNG HỢP ĐẦU TIÊN ĐƯỢC THỰC HIỆN TẠI BỆNH VIỆN 103

Ngô Văn Hoàng Linh*; Nguyễn Hồng Hiên**

TÓM TẮT

Bệnh nhược cơ (NC) có thể kèm theo các bệnh lý tuyến giáp (TG) trên cùng một bệnh nhân (BN) Tiến triển và kết quả điều trị 2 bệnh này có ảnh hưởng lẫn nhau, nhất là khi BN có chỉ định điều trị ngoại khoa (cắt tuyến ức điều trị bệnh NC và cắt TG điều trị bệnh TG) Tại Bệnh viện 103, Học viện Quân y phẫu thuật nội soi hỗ trợ cắt tuyến ức qua đường cổ đã được thực hiện từ tháng 6 - 2009 Kết quả thu được cho phép chúng tôi sử dụng kỹ thuật mổ này kết hợp cắt tuyến ức đồng thời cắt gần hoàn toàn TG điều trị cho BN NC có kèm bệnh lý TG cã chỉ định điều trị ngoại khoa Từ tháng 4 - 2010 đến 01 - 2012, Bệnh viện 103 đã thực hiện thành công 3 trường hợp mổ nội soi hỗ trợ cắt tuyến ức qua đường cổ kết hợp cắt gần hoàn toàn TG ở BN NC có kèm bệnh bướu giáp đa nhân hoặc Basedow Đây có thể là những trường hợp được áp dụng kỹ thuật mổ này lần đầu tiên ở nước ta

* Từ khoá: Cắt tuyến ức; Cắt tuyến ức qua đường cổ có nội soi hỗ trợ; Bệnh nhược cơ kèm theo bệnh lý tuyến giáp

VIDEO-ASSISTED TRANSCERVICAL THYMECTOMY COMBINEd with SUBTOTAL THYROIDECTOMY AT THE SAME oPERATION: REPORT THE 3 FIRST CASES PERFORMED IN 103 HOSPITAL

SUMMARY

Myasthenia Gravis can be associated with thyroid diseases in the same patient and in such case the progress and treatment results of both diseases may be interworked each other, especially the patient should have been indicated for surgical treatment (thymectomy for myasthenia Gravis and thyroidectomy for thyroid diseases) In 103 Hospital, since 6 - 2009 the video-assisted transcervical thymectomy had been performed for treatment of myasthenia Gravis The results obtained help us to apply this technique to perform thymectomy and subtotal thyroidectomy at the same operation for treatment of case of myasthenia Gravis associated with thyroid diseases From 4 - 2010 to 1 - 2012

in 103 Hospital (we have successfully performed the video-assisted transcervical thymectomy and subtotal thyroidectmy at the same operation for 3 cases of myasthenia Gravis associated with multinodular goiter or Graves’disease These may be the first cases of video-assisted transcervical thymectomy and subtotal thyroidectomy at the same operation in Vietnam

* Key words: Thymectomy; Video-assisted transcervical thymectomy; Myasthenia Gravis associated with thyroid disease

* Bệnh viện 103

** Trung tâm Giám định Y khoa Hà Nội

Người phản hồi (Corresponding): Ngô Văn Hoàng Linh

ngovanhoanglinh@yahoo.com.vn

Trang 2

162

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh NC có thể kèm theo các bệnh TG

với tỷ lệ gặp từ 3 - 8% [4, 6, 7, 8] Trong các

trường hợp có tiến triển cũng như kết quả

điều trị của hai bệnh đều có ảnh hưởng

nhất định đến nhau Đặc biệt khi có chỉ định

điều trị ngoại khoa phải mổ cắt tuyến ức

điều trị bệnh NC, đồng thời phải mổ cắt gần

hoàn toàn TG điều trị bệnh bướu giáp đa

nhân hoặc bệnh Basedow [1] Đây là một

vấn đề khá khó khăn: nếu mổ cắt tuyến

giáp trước, nguy cơ sau mổ có biến chứng

suy hô hấp và cơn NC nặng hơn sẽ khó

tránh khỏi, còn nếu mổ cắt tuyến ức trước,

phải đợi một thời gian dài sau mổ mới có

thể tính đến cuộc mổ thứ hai để cắt TG, vì

cắt tuyến ức thường là một cuộc mổ lớn,

mất một thời gian nhất định sau mổ để BN

hồi phục

Tại Bệnh viện 103, từ tháng 6 - 2009 lần

đầu tiên thực hiện phẫu thuật nội soi hỗ trợ

cắt tuyến ức qua đường cổ điều trị bệnh

NC Kết quả thu được cho thấy kỹ thuật này

có ưu điểm nổi bật là giảm tối thiểu mức độ

xâm hại lồng ngực, hạn chế biến chứng sau

mổ, đảm bảo cắt bỏ triệt để tuyến ức [3, 4]

Kết quả thu được cho phép chúng tôi

nghiên cứu áp dụng kỹ thuật này để mổ cắt

tuyến ức kết hợp cắt gần hoàn toàn TG qua

cùng một đường mổ trong cùng một cuộc

mổ Đây có lẽ là những trường hợp được

áp dụng kỹ thuật mổ này lần đầu tiên ở

nước ta và nghiên cứu này muốn nêu lên

những kết quả bước đầu đã thu được

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

3 BN bị bệnh NC kết hợp với bệnh TG

(1 bị bướu giáp đa nhân, 2 bị Basedow)

được mổ cắt bỏ tuyến ức kết hợp cắt gần

hoàn toàn TG trong tổng số 45 BN NC mổ

nội soi hỗ trợ cắt tuyến ức qua đường cổ tại Bệnh viện 103 từ 6 - 2010 đến 6 - 2012

2 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả lâm sàng ca bệnh

TRÌNH BÀY CÁC CA BỆNH

1 BN thứ nhất

Lê Thị H, nữ, sinh năm 1985 Vào viện ngày 01 - 4 - 2010

Chẩn đoán trước mổ: NC nhóm IIB, kèm bướu giáp đa nhân độ III

* Tóm tắt triệu chứng:

Từ tháng 11 - 2009 xuất hiện khối u vùng cổ, người mệt mỏi, sút cân Được khám và điều trị tại Bệnh viện tỉnhThanh Hoá với chẩn đoán bệnh bướu giáp nhiễm độc, các triệu chứng đỡ, nhưng bướu giáp vẫn to Từ cuối tháng 2 - 2010, xuất hiện sụp mi mắt phải (chiều nặng hơn sáng) kèm theo lác ngoài, làm việc chóng mệt mỏi, nhai mỏi, nuốt hay nghẹt, nói ngọng, khi nghỉ ngơi thấy đỡ Được khám và điều trị tại Bệnh viện 103 với chẩn đoán NC nhóm IIB, dùng thuốc kháng acetylclolinesterase (mytelas, mestinol) các triệu chứng đỡ Vào Bệnh viện 103 lần này trong tình trạng còn sụp mi mắt 2 bên (phải nặng hơn trái), yếu

cơ tứ chi, bướu giáp đa nhân độ III, mạch

88 lần/phút, huyết áp 100/60 mmHg Xét nghiệm máu: nhóm máu: O, hồng cầu: 4,5 triệu/l, bạch cầu: 8,8 G/l, Urê: 4,0 mmol/l, glucoza: 4,5 mmol/l, creatinin: 48 μmol/l, TSH: 0,046m IU/ml, FT3: 4,94 pg/ml, FT4: 1,7 ng/dl Điện tim: bình thường Test prostigmin dương tính

Siêu âm TG: bướu giáp to lan toả X quang lồng ngực (thẳng và nghiêng): bóng trung thất giãn, có bóng mờ sau xương ức CT-scanner lồng ngực có bơm khí trung thất: hình ảnh tuyến ức phì đại

Trang 3

163

Hình 1: Hình ảnh tuyến ức phì đại trên phim

chụp CT lồng ngực trước mổ

* Tóm tắt quá trình phẫu thuật: mổ ngày

12 - 4 - 2010

Vô cảm: mê nội khí quản, không dùng thuốc

giãn cơ

- Cắt gần hoàn toàn TG: BN nằm ngửa,

cổ ưỡn Rạch da đường cổ dài khoảng 6 cm

cách bờ trên hõm ức khoảng 2 cm Bóc

tách vạt da lên trên tới dưới sụn giáp, tách

dọc đường giữa các cơ dưới móng để bộc

lộ bướu giáp to lan tỏa 2 thuỳ Tiến hành

cắt gần hoàn toàn 2 thuỳ, để lại mỗi thuỳ

khoảng 5 g nhu mô

- Cắt bỏ tuyến ức: chuyển tư thế BN để

cổ ưỡn tối đa, vai kê cao, bộc lộ tối đa vùng

cổ Bóc tách vạt da đường mổ cổ xuống

dưới tới bờ trên xương ức, tách dọc đường

giữa cơ dưới móng, cắt dây chằng liên đòn,

tách cân ức giáp vào trung thất trước, bộc

lộ cực trên 2 thuỳ tuyến ức Dưới sự hỗ trợ

của camera nội soi, tiến hành phẫu tích cắt

bỏ từng thuỳ tuyến ức và tổ chức mỡ xung

quanh Kiểm tra cầm máu kỹ vùng mổ, đặt

dẫn lưu trung thất hút liên tục Đóng vết mổ Thời gian mổ 75 phút

- Diễn biến sau mổ: sau mổ, BN được chuyển về theo dõi và điều trị tại khoa lâm sàng Rút dẫn lưu ngày thứ 3 sau mổ Diễn biến sau mổ ổn định Vết mổ liền sẹo kỳ đầu BN ra viện sau mổ 7 ngày trong tình trạng ổn định

* Chẩn đoán giải phẫu bệnh sau mổ:

- Tuyến giáp: bướu giáp đơn thuần dạng cục, nhu mô TG bị các dải xơ chia cắt thành từng túi tuyến, biểu mô tuyến hình khối vuông,

có nơi tăng sản

- Tuyến ức: tăng sản tuyến ức: các tiểu thuỳ tuyến ức lớn với nhiều thể Hassall, các

tế bào lympho tăng sinh mạnh

Hình 2: Vùng mổ sau khi đã cắt bỏ gần hoàn

toàn TG, đồng thời cắt bỏ tuyến ức qua

cùng một đường mổ qua đường cổ

2 BN thứ hai

Nguyễn Thị Th, nữ, sinh năm 1977 Vào viện ngày 05 - 12 - 2011

Chẩn đoán trước mổ: NC nhóm IIA, kèm bệnh Basedow giai đoạn bình giáp, bướu giáp lan toả độ III

* Tóm tắt triệu chứng:

Trang 4

164

Từ tháng 4 - 2011 xuất hiện ăn nhiều,

nhưng người gày sút, vùng cổ trước to dần,

hay hồi hộp, tim đập nhanh, bàn tay run và

ra nhiều mồ hôi Được khám và điều trị tại

Bệnh viện Nội Tiết TW với chẩn đoán

Basedow, sau 3 tháng, các triệu chứng giảm

dần, nhưng bướu giáp vẫn to

Từ tháng 9 - 2011 thấy mắt nhìn mờ, tới

khám và điều trị tại Bệnh viện Mắt Hà Đông

không khỏi, sau đó thấy xuất hiện sụp mi

mắt 2 bên tăng dần, yếu mỏi tay chân, sáng

nặng hơn chiều Được khám và điều trị tại

Bệnh viện 103 với chẩn đoán NC nhóm IIA,

dùng các thuốc kháng acetylclolinesterase

(mestinol, mytelas), triệu chứng đỡ Vào Bệnh

viện 103 lần này trong tình trạng: sụp mi mắt

2 bên (trái nặng hơn phải), yếu mỏi chân tay,

bướu giáp to lan tỏa độ III, mạch 80 lần/phút,

huyết áp 100/60 mmHg Test prostigmin dương

tính

Xét nghiệm máu: nhóm máu: B, hồng cầu:

5,03 triệu/l, bạch cầu: 4,33 G/l HST: 128 g/l,

ure: 3,8 mmol/l, glucoza: 4,2 mmol/l Creatinin:

Siêu âm TG: bướu giáp to lan toả

CT-scanner lồng ngực có bơm khí trung thất:

tuyến ức to, theo dõi hình ảnh u tuyến ức

Điện cơ: test kích thích lặp lại có biểu

hiện NC

* Tóm tắt quá trình phẫu thuật: mổ ngày

21 - 12 - 2011

Vô cảm: mê nội khí quản, không dùng thuốc

giãn cơ

- Cắt gần hoàn toàn TG: BN nằm ngửa,

cổ ưỡn Rạch da đường cổ dài 7 cm, cách

bờ trên hõm ức khoảng 2 cm Bóc tách vạt

da lên trên tới dưới sụn giáp, tách dọc

đường giữa các cơ dưới móng để bộc lộ

bướu giáp, bướu giáp to lan tỏa 2 thuỳ

lại mỗi thuỳ khoảng 6 g nhu mô

- Cắt bỏ tuyến ức: chuyển tư thế BN để

cổ ưỡn tối đa, vai kê cao, bộc lộ tối đa vùng

cổ Bóc tách vạt da đường mổ cổ xuống dưới tới bờ trên xương ức, tách dọc đường giữa các cơ dưới móng, cắt dây chằng liên đòn, tách cân ức giáp vào trung thất trước, bộc lộ tuyến ức Dưới sự hỗ trợ của camera nội soi, tiến hành phẫu tích cắt bỏ từng thuỳ tuyến ức và tổ chức mỡ xung quanh Kiểm tra cầm máu kỹ vùng mổ và đặt dẫn lưu trung thất có hút liên tục Đóng kín vết mổ Thời gian mổ 90 phút

- Diễn biến sau mổ: BN sau mổ được đưa về theo dõi và điều trị tại khoa lâm sàng Rút dẫn lưu trung thất ngày thứ 3 sau

mổ Diễn biến sau mổ ổn định Vết mổ liền sẹo kỳ đầu BN ra viện sau mổ 13 ngày trong tình trạng ổn định

* Chẩn đoán giải phẫu bệnh sau mổ:

- Tuyến giáp: các nang đa hình thái, lòng chứa keo loãng, lót lòng nang là biểu mô vuông hoặc trụ, có tăng sản biểu mô tạo nhú, mô đệm xâm nhiễm lympho bào, các mạch máu xung huyết

- Tuyến ức: tăng sản tuyến ức, tổ chức tuyến ức với các tiểu thùy lympho lớn nhỏ, các tế bào lympho tăng sinh có nhân to nhỏ đều nhau, giữa các thùy có các tiểu thể Hassall và xen kẽ có các tế bào dạng biểu

3 BN thứ ba

Từ Mai H, nữ, sinh năm 1981 Vào viện ngày 23 - 12 - 2011

Chẩn đoán trước mổ: NC nhóm IIA, kèm bệnh Basedow giai đoạn bình giáp, bướu giáp lan toả độ III

* Tóm tắt triệu chứng:

Từ tháng 12 - 2006 đã xuất hiện sụp 2

mi mắt tăng dần BN tới khám và điều trị tại Bệnh viện Bạch Mai với chẩn đoán NC

Trang 5

165

nhóm I, thấy bệnh thuyên giảm Từ tháng

11 - 2010, phát hiện thấy có bướu ở vùng

cổ trước, bướu to dần, kèm theo gày sút

cân, đánh trống ngực, ra nhiều mồ hôi, run

tay, hai mắt lồi nhẹ Được khám và điều trị

tại Bệnh viện 103 với chẩn đoán Basedow,

sau điều trị các triệu chứng đỡ Gần đây lại

thấy xuất hiện sụp nhiều cả 2 mi mắt, yếu

mỏi tứ chi thay đổi trong ngày Vào Bệnh

viện 103 lần này trong tình trạng: sụp mi

mắt 2 bên (phải nặng hơn trái), hai mắt vẫn

lồi nhẹ, yếu mỏi tứ chi, nhai chóng mỏi, bướu

giáp to độ III lan toả 2 thuỳ, mạch 84 lần/phút,

huyết áp 120/80 mmHg Test prostigmin

dương tính

Xét nghiệm máu: nhóm máu: O, hồng cầu:

4,66 triệu/l, bạch cầu: 13,4 G/l ST: 136 g/l,

ure: 7,9mmol/l, glucoza: 4,3 mmol/l Creatinin:

Siêu âm TG: bướu giáp to lan tỏa 2 thuỳ

CT-scanner lồng ngực có bơm khí trung

thất: tuyến ức to, theo dõi hình ảnh u tuyến

ức

* Tóm tắt quá trình phẫu thuật: mổ ngày

04 - 01 - 2012

Vô cảm: mê nội khí quản, không dùng thuốc

giãn cơ

* Quá trình phẫu thuật:

- Cắt gần hoàn toàn TG: BN nằm ngửa,

cổ ưỡn Rạch da đường cổ dài 6 cm cách

bờ trên hõm ức khoảng 2 cm Bóc tách vạt

da lên trên tới dưới sụn giáp, tách dọc giữa

các cơ dưới móng để bộc lộ bướu giáp to

lan tỏa cả 2 thuỳ Tiến hành cắt gần hoàn

toàn 2 thuỳ TG, để lại mỗi thuỳ khoảng 5 g

nhu mô

- Cắt bỏ tuyến ức: chuyển tư thế BN để

cổ ưỡn tối đa, vai kê cao, bộc lộ tối đa vùng

cổ Bóc tách vạt da đường mổ cổ xuống dưới

tới bờ trên xương ức, tách dọc đường giữa các cơ dưới móng, cắt dây chằng liên đòn, tách cân ức giáp vào trung thất trước, bộc

lộ tuyến ức Dưới sự hỗ trợ của camera nội soi, tiến hành phẫu tích cắt bỏ từng thuỳ tuyến ức và tổ chức mỡ xung quanh Kiểm tra cầm máu kỹ vùng mổ và đặt dẫn lưu trung thất Đóng kín vết mổ Thời gian mổ

60 phút

Diễn biến sau mổ: BN sau mổ được đưa

về theo dõi và điều trị tại khoa lâm sàng Rút dẫn lưu trung thất ngày thứ 3 sau mổ Diễn biến sau mổ ổn định Vết mổ liền sẹo

kỳ đầu BN ra viện sau mổ 8 ngày trong tình trạng ổn định

* Chẩn đoán giải phẫu bệnh sau mổ:

+ Tuyến giáp: các nang tuyến giáp to nhỏ khác nhau, trong lòng chứa keo loãng, lót lòng nang là biểu mô vuông hoặc trụ, các mạch máu xung huyết, có rải rác các dải xơ mảnh

+ Tuyến ức: tăng sản tuyến ức, tổ chức tuyến với các tiểu thùy lớn nhỏ với nhiều tiểu thể Hassall, các tế bào lympho tăng sinh mạnh có nhân to nhỏ đều nhau

BÀN LUẬN

1 Về chỉ định

Tuy có thể được coi có cùng cơ chế bệnh sinh là bệnh tự miễn dịch, nhưng sự kết hợp giữa bệnh NC và bệnh Basedow trên cùng một BN ít gặp Mối liên quan thực

sự giữa 2 bệnh này hiện vẫn là một vấn đề còn nhiều ý kiến chưa hoàn toàn thống nhất

và đang được nghiên cứu tiếp, nhất là khi

có chỉ định điều trị ngoại khoa Do có cùng

cơ chế bệnh tự miễn dịch, nên quá trình tiến triển của bệnh NC có thể ảnh hưởng

Trang 6

166

trực tiếp đến tiến triển và kết quả điều trị

của bệnh Basedow và ngược lại [5, 8]

Theo William D Goldenberg và CS (2012),

khoảng 3 - 8% BN NC có bệnh cường giáp

kèm theo [7] Nghiên cứu của Sahay B.M

và CS (1965) trên 260 BN NC với 8 BN

mắc bệnh lý TG kèm theo (3,1%) [6] Theo

Yoshihiro Sekiguchi và CS (2005), tỷ lệ bị

NC trong số BN Basedow ở Nhật Bản khoảng

2 BN bị Basedow và 1 BN bị bướu giáp đa

nhân trong tổng số 45 BN mắc bệnh NC

được mổ nội soi hỗ trợ cắt tuyến ức qua

đường cổ trong thời gian này Như vậy, tỷ

lệ có bệnh Basedow kèm theo trong nhóm

bệnh NC được nghiên cứu này là 2/45 =

4,4% và tỷ lệ có bệnh lý TG nói chung kèm

theo ở nhóm này là 3/45 = 6,7%

Về chỉ định mổ: BN đều vừa có chỉ định

mổ cắt tuyến ức điều trị bệnh NC lại vừa có

chỉ định mổ cắt gần hoàn toàn TG điều trị

bệnh TG

- Chỉ định mổ cắt tuyến ức: theo chỉ định

điều trị ngoại khoa bệnh NC đã được hầu

hết các tác giả trong nước cũng như trên

thế giới xác định, đó là: trường hợp bị NC

toàn thân (nhóm IIA hoặc IIB) hay nhược

cơ nhóm I, nhưng điều trị nội khoa > 2 năm

không ổn định và có xu hướng nặng hơn,

các trường hợp NC nặng hơn (nhóm III và

IV) phải điều trị để chuyển về nhóm nhẹ hơn

mới chỉ định mổ [4, 5, 7]

- Chỉ định mổ cắt gần hoàn toàn TG:

theo chỉ định điều trị ngoại khoa bệnh TG

của hầu hết các tác giả trong nước cũng

như thế giới hiện nay, đó là: các trường

hợp bướu giáp đa nhân, Basedow điều trị

to ảnh hưởng đến tâm lý và thẩm mỹ của BN,

Basedow không dùng được thuốc kháng giáp tổng hợp (do bị dị ứng thuốc, đang có thai, đang cho con bú ) [2]

Như vậy, trong nghiên cứu này, cả 3 BN đều có chỉ định mổ cắt tuyến ức, đồng thời

có cả chỉ định mổ cắt gần hoàn toàn TG:

1 BN NC nhóm IIB kèm bướu giáp đa nhân

độ III và 2 BN NC nhóm IIA kèm bệnh Basedow có bướu giáp to độ III không khỏi sau điều trị nội khoa

2 Quy trình kỹ thuật

Về trình tự phẫu thuật: trước tiên, chúng tôi tiến hành cắt gần hoàn toàn TG với tư thế BN nằm ngửa, cổ ưỡn vừa giống như

tư thế mổ bướu giáp thông thường Dùng đường rạch da dài khoảng 6 - 7 cm (tùy theo độ lớn của bướu giáp) theo nếp cổ dưới cách bờ trên xương ức khoảng 1 - 2 cm Bóc tách vạt da lên trên tới dưới sụn giáp, tách dọc đường giữa các cơ dưới móng, bộc lộ bướu giáp và cắt gần hoàn toàn TG, kiểm tra và cầm máu kỹ vùng mổ Sau đó, tiến hành cắt tuyến ức cũng qua đường mổ đó: chuyển tư thế BN nằm ngửa, nhưng hạ thấp đầu hơn nữa để cổ ưỡn tối đa, vai kê cao, bộc lộ tối đa vùng hõm trên ức Tiến hành bóc tách vạt da xuống dưới tới bờ trên xương ức, tách dọc đường giữa các cơ dưới móng xuống dưới tới tận bờ trên xương ức, cắt dây chằng liên đòn, tách cân

ức giáp vào trung thất trước Dưới sự hỗ trợ của camera nội soi, tiến hành phẫu tích, bóc tách cắt bỏ từng thuỳ tuyến ức và tổ chức mỡ xung quanh Kiểm tra cầm máu kỹ vùng mổ, đặt dẫn lưu trung thất và vùng mổ cắt TG có hút liên tục Đóng kín vết mổ

Tất cả 3 cuộc mổ đều diễn ra thuận lợi

và an toàn Thời gian cuộc mổ trung bình

75 phút (60 - 90 phút) Có thể nói đây là 3 trường hợp mổ nội soi hỗ trợ cắt tuyến ức qua đường cổ kết hợp cắt gần hoàn toàn

Trang 7

167

TG qua cùng một đường mổ trong cùng

một cuộc mổ đầu tiên ở nước ta và cũng là

những trường hợp ít gặp trên thế giới

3 Đánh giá kết quả sớm sau mổ,

trước khi ra viện

Tất cả 3 BN sau mổ đều có diễn biến

thuận lợi, không phải nằm ở khoa điều trị

tích cực và không cần hô hấp hỗ trợ sau

mổ Không ca trường hợp nào có biến chứng

sau mổ, vết mổ đều liền sẹo kỳ đầu và đều

ra viện trong tình trạng ổn định (Nhược cơ

không nặng hơn so với trước mổ) Thời gian

nằm viện sau mổ 7 - 13 ngày

Các kết quả thu được cho thấy: có thể

mổ nội soi hỗ trợ cắt tuyến ức qua đường

cổ kết hợp cắt gần hoàn toàn TG qua cùng

một đường mổ trong cùng một cuộc mổ ở

BN NC kết hợp bệnh lý TG có chỉ định điều

trị ngoại khoa Cuộc mổ bảo đảm an toàn,

hiệu quả, tránh cho BN phải chịu đựng hai

cuộc mổ ở hai thời điểm khác nhau

KẾT LUẬN

Qua 3 trường hợp mổ nội soi hỗ trợ cắt

tuyến ức qua đường cổ kết hợp cắt gần

hoàn toàn TG, bước đầu thu được một số

kết quả sau:

- Phẫu thuật bảo đảm an toàn, hiệu quả,

cắt bỏ triệt để được tuyến ức, đồng thời cắt

gần hoàn toàn TG theo đúng yêu cầu điều trị,

không có tai biến và biến chứng phẫu thuật

Việt Nam thực hiện kỹ thuật mổ nội soi hỗ

trợ cắt tuyến ức qua đường cổ kết hợp cắt gần

hoàn toàn TG trong cùng một cuộc mổ qua

cùng một đường mổ để điều trị BN NC có kèm

bệnh lý TG có chỉ định điều trị ngoại khoa

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Hoàng Xuân Chính Góp phần nghiên cứu

về lâm sàng và điều trị bệnh Basedow kết hợp với bệnh NC Luận văn Chuyên khoa Cấp II Học viện Quân y 1994

Bệnh Basedow Bệnh học ngoại khoa sau đại học Học viện Quân y 1992, tr.244-263

Nguyễn Văn Nam Kết quả mổ cắt tuyến ức qua

đường cổ bằng phẫu thuật nội soi hỗ trợ điều trị bệnh NC Tạp chí Y - Dược học quân sự 2011,

số 3, tr.154-160

4 Ngô Văn Hoàng Linh và CS Nghiên cứu

ứng dụng phẫu thuật nội soi hỗ trợ cắt tuyến ức qua đường cổ điều trị bệnh NC Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở nghiệm thu tháng 10 năm

2012 Học viện Quân y 2012

5 Kyriakos Anastasiadis, Chandi Ratnatunga

The thymus gland Diagnosis and Surgical Management Springer-Verlag Berlin Heidelberg

2007

6 Sahay B.M, Blendis L.M, Raymond Greene

Relation between myasthenia Gravis and thyroid disease Brit Med J 1965, l, pp.762-765

7 William D Goldenberg, Nicholas Lorenzo

Myasthenia Gravis http://emedicine.medscape com/article/1171206-overview#a0101 2012

8 Yoshihiro Sekiguchi, Yoshihito Hara, Mafuyu Takahashi and Yukio Hirata Relationship between

Graves' disease and myasthenia Gravis: Clinical and immunological studies J Med Dent Sci

2005, 52, pp.43-50

Ngày nhận bài: 17/4/2013 Ngày phản biện đánh giá bài báo: 18/5/2013

Ngày bài báo được đăng: 23/5/2013

Trang 8

168

Ngày đăng: 23/01/2020, 05:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w