1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Vai trò của chỉ số khối cơ thể và bảng phân loại SGA trong việc đánh giá dinh dưỡng ở bệnh nhân bệnh thận mạn có hay không có đái tháo đường

9 84 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 732,46 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu bài viết nhằm khảo sát sự khác biệt của những rối loạn tình trạng dinh dưỡng ở bệnh nhân bệnh thận mạn có đái tháo đường so với bệnh nhân bệnh thận mạn không có đái tháo đường; xác định tỷ lệ suy dinh dưỡng, thừa cân/béo phì ở đối tượng bệnh nhân bệnh thận mạn có hay không có đái tháo đường.

Trang 1

VAI TRÒ CỦA CHỈ SỐ KHỐI CƠ THỂ VÀ BẢNG PHÂN LOẠI SGA TRONG VIỆC ĐÁNH GIÁ DINH DƯỠNG Ở BỆNH NHÂN BỆNH THẬN MẠN

CÓ HAY KHÔNG CÓ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG

Trần Văn Vũ*, Trần Thị Bích Hương** TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Thừa cân/béo phì, suy dinh dưỡng là những rối loạn tình trạng dinh dưỡng thường gặp và

mang lại những ảnh hưởng bất lợi, góp phần làm gia tăng tỷ lệ bệnh tật và tử vong ở bệnh nhân bệnh thận mạn Việc đánh giá tất cả những rối loạn tình trạng dinh dưỡng này ở đối tượng bệnh nhân bệnh thận mạn có hay không có đái tháo đường hiện nay chưa được nghiên cứu

Mục tiêu: Khảo sát sự khác biệt của những rối loạn tình trạng dinh dưỡng ở bệnh nhân bệnh thận mạn có

đái tháo đường so với bệnh nhân bệnh thận mạn không có đái tháo đường; Xác định tỷ lệ suy dinh dưỡng, thừa cân/béo phì ở đối tượng bệnh nhân bệnh thận mạn có hay không có đái tháo đường Lựa chọn phương pháp đánh giá tình trạng suy dinh dưỡng, thừa cân/béo phì thích hợp cho đối tượng bệnh nhân này

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiền cứu và mô tả cắt ngang được thực hiện trên 118 bệnh nhân

bệnh thận mạn có và không có đái tháo đường tại khoa Thận bệnh viện Chợ Rẫy trong năm 2011 Tình trạng dinh dưỡng của bệnh nhân được đánh giá bằng: chỉ số khối cơ thể (Body Mass Index – BMI), chỉ số albumin huyết thanh, phương pháp đánh giá tổng thể tình trạng dinh dưỡng theo chủ quan (Subjective Global Assessment – SGA)

Kết quả: Trong số 118 bệnh nhân bệnh thận mạn có và không có đái tháo đường, có 61 bệnh nhân nữ

(51,7%) và 57 bệnh nhân nam (48,3%), tỷ lệ nữ:nam = 1,07:1, tuổi trung bình: 65,09 ± 10,08 (40 – 86 tuổi) Tỷ

lệ suy dinh dưỡng xác định được bằng phương pháp BMI, albumin, SGA tương ứng là 11,9%, 20,3%, 32,2%

Tỷ lệ thừa cân/béo phì xác định bằng phương pháp BMI là 30,5 %

Kết luận: Những rối loạn tình trạng dinh dưỡng ở bệnh nhân bệnh thận mạn do đái tháo đường tương tự

bệnh nhân bệnh thận mạn không có đái tháo đường Rối loạn dạng thừa cân/béo phì thường gặp ở những giai đoạn đầu của bệnh thận mạn và càng tiến gần đến giai đoạn cuối thì tỷ lệ suy dinh dưỡng càng gia tăng Tỷ lệ suy dinh dưỡng và thừa cân béo phì ghi nhận được qua nghiên cứu khá cao nêu bật tầm quan trọng của việc tầm soát những rối loạn này Chúng tôi đề nghị sử dụng phương pháp SGA trong việc chẩn đoán suy dinh dưỡng và

sử dụng phương pháp BMI để chẩn đoán tình trạng thừa cân/béo phì trên bệnh nhân bệnh thận mạn do hoặc không do đái tháo đường

Từ khóa: bệnh thận mạn, bệnh thận do đái tháo đường, suy dinh dưỡng, thừa cân/béo phì, SGA, BMI,

albumin

ABSTRACT

THE ROLE OF BODY MASS INDEX AND SUBJECTIVE GLOBAL ASSESSMENT SCORES AS THE NUTRITIONAL INDICATORS IN DIABETIC AND NON-DIABETIC KIDNEY DISEASE PATIENTS

Tran Van Vu, Tran Thi Bich Huong

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 17 - Supplement of No 1 - 2013: 120 - 128

* Khoa Thận - Bệnh viện Chợ Rẫy

Tác giả liên lạc: ThS.BS Trần Văn Vũ ĐT: 0918151010 Email: drvutran@gmail.com

Trang 2

Background: Nutritional disorders such as overweight, obesity, underweight may contribute to morbidity

and mortality in predialysis diabetic and nondiabetic kidney disease patients

Objective: To determine and to compare the prevalence of malnutrition, overweight and obesity in diabetic

and non-diabetic kidney disease and to suggest the most effective method to assess different nutritional status disorders

Methods: A cross-sectional study was conducted at the Nephrology Department, Cho Ray Hospital in 2011

Both pre-dialysis diabetic and non-diabetic nephropathy patients (N=118) were enrolled Malnutrition status was assessed by BMI, serum albumin, Subjective Global Assessment (SGA) method

Results: Over 118 Pre-dialysis diabetic and non-diabetic nephropathy patients, we had 61 females (51.7%)

and 57 males (48.3%), mean age 65.09 ± 10.08 (40 to 86 years old) The prevalence of malnutrition according to BMI, albumin, SGA were 11.9%, 20.3%, 32.2%, respectively The prevalence of overweight/obesity according to BMI was 30.5%

Conclusion: The nutritional status disorder of diabetic nephropathy patients was similar to the non-diabetic

ones Overweight/ obesity was common at the early stages of chronic kidney disease In the contrast, malnutrition related with more advanced CKD stages We suggested to use routinely SGA method to search for malnutrition and BMI for overweight or obesity in pre-dialysis diabetic and nondiabetic kidney patients

Keywords: diabetic kidney disease, chronic kidney disease, malnutrition, overweight/obesity, SGA, BMI,

Albumin

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh thận mạn (BTM) là một trong những

biến chứng nghiêm trọng của bệnh đái tháo

đường (ĐTĐ) Dựa theo những nghiên cứu dịch

tễ học tại các nước phương Tây cho thấy tỷ lệ

BTM do ĐTĐ type 1 là 21% và do ĐTĐ type 2 là

khoảng 25%(16)

Bệnh nhân ĐTĐ có tỷ lệ thừa cân béo phì cao

hơn so với quần thể dân số chung Điều này

được chứng minh qua nhiều nghiên cứu đánh

giá trong cũng như ngoài nước Trong khi bệnh

nhân BTM lại có tỷ lệ suy dinh dưỡng (SDD) khá

cao, dao động trong khoảng 20% - 76% tùy thuộc

tiêu chuẩn sử dụng để đánh giá(14) Trên bệnh

nhân BTM những rối loạn tình trạng dinh dưỡng

này đã được ghi nhận nhiều ảnh hưởng bất lợi:

SDD phối hợp với tình trạng viêm ở bệnh nhân

BTM làm gia tăng nguy cơ nhiễm trùng, chậm

lành vết thương( 18 ) Ngoài ra, tình trạng SDD có

liên quan đến sự gia tăng bệnh tật và tử vong ở

bệnh nhân BTM(6,11) Ngược lại, thừa cân/béo phì

có thể làm gia tăng nguy cơ rối loạn chuyển hóa

dẫn đến tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch (đột

quỵ, nhồi máu cơ tim ) làm gia tăng tỷ lệ tử

vong trước khi bước vào suy thận mạn giai đoạn cuối Như vậy, rối loạn tình trạng dinh dưỡng

dù dạng thừa cân/béo phì hay ở dạng SDD đều gây ảnh hưởng bất lợi trên kết quả lâm sàng của bệnh nhân BTM Vậy nên, việc chẩn đoán phát hiện sớm những rối loạn tình trạng dinh dưỡng

và tiến hành các biện pháp điều chỉnh kịp thời là việc làm cần thiết trong chiến lược điều trị cho bệnh nhân BTM

Dựa theo tìm hiểu của chúng tôi hiện nay ở trong nước chưa có công trình nghiên cứu đánh giá những rối loạn tình trạng dinh dưỡng trên đối tượng bệnh nhân BTM có hoặc không có ĐTĐ Điều đó thúc đẩy chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm khảo sát và làm sáng tỏ một số vấn đề như sau: (1) Các rối loạn tình trạng dinh dưỡng ở bệnh nhân BTM do ĐTĐ có khác gì so với bệnh nhân BTM không có ĐTĐ không? (2) Xác định tỷ lệ SDD, thừa cân/béo phì

ở bệnh nhân BTM có và không có ĐTĐ? Liệu tỷ

lệ SDD, thừa cân/béo phì có sự tương ứng với từng giai đoạn của BTM không? (3) Khảo sát những ưu điểm, nhược điểm của từng phương pháp trong việc chẩn đoán SDD, thừa cân/béo phì ở đối tượng bệnh nhân này

Trang 3

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu tiền cứu, mô tả cắt ngang

Đối tượng nghiên cứu

Tiêu chí chọn bệnh

Bệnh nhân BTM có hoặc không có ĐTĐ có

độ thanh lọc créatinine ước đoán (eClcr) ≤

60ml/phút/1,73m2 da và chưa điều trị thay thế

thận

Tiêu chí loại trừ

Bệnh nhân đang bị nhiễm trùng cấp tính, sốt,

suy hô hấp, bệnh nhân đang dùng các thuốc

amiodarone, oestrogens và các loại thuốc ngừa

thai đường uống, cường tuyến thượng thận, bệnh Hodgkin, bệnh cường giáp, bệnh gan nặng, tiểu đạm 24 giờ > 3g, ferritin huyết thanh < 15ng/ml, bệnh nhân và gia đình không đồng ý tham gia nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Đánh giá phân loại tình trạng dinh dưỡng bằng các phương pháp sau:

Phương pháp SGA (Subjective Global Assessment) ( 3 )

Hệ thống đánh giá dinh dưỡng phân loại theo 3 mức độ: SGA loại A là dinh dưỡng tốt, SGA loại B là suy dinh dưỡng nhẹ đến trung bình, SGA loại C là suy dinh dưỡng nặng

Chỉ số khối cơ thể (Body mass index – BMI)

BMI (Kg/ m2) = Trọng lượng (kg)/ ((chiều

cao)(m))2

(cân nặng được đánh giá ở thời điểm bệnh nhân không

phù và có cân nặng ổn định)

Dựa theo tiêu chuẩn phân loại BMI của

WHO dành cho dân số châu Á(20): BMI < 16: SDD

nặng; BMI 16 – 16,9: SDD trung bình; BMI 17 – 18,49: SDD nhẹ; BMI = 18,5 – 22,99: dinh dưỡng bình thường; BMI = 23 – 29,99: thừa cân; BMI ≥ 30: béo phì

Chỉ số albumin huyết thanh

Thực hiện trên máy xét nghiệm sinh hóa tự động Hitachi 717 (Nhật Bản) Chỉ số albumin

Trang 4

huyết thanh thường được sử dụng để phân

loại tình trạng dinh dưỡng theo các mức độ

sau(8): Dinh dưỡng đầy đủ: ≥ 3,5g/dL, suy dinh

dưỡng nhẹ: 2,8 – <3,5g/dL, suy dinh dưỡng

trung bình: 2,1 – < 2,8g/dL, suy dinh dưỡng

nặng: < 2,1g/dL

Đánh giá phân loại BTM

Theo KDOQI năm 2002, bệnh thận mạn

được phân ra làm 5 giai đoạn dựa vào độ thanh

lọc créatinine ước đoán (eClcr) tính bằng công

thức Cockcroft Gault có hiệu chỉnh theo 1,73

m2da(15): BTM giai đoạn 1 (eClcr ≥ 90

ml/phút/1,73m2da); BTM giai đoạn 2 (eClcr = 60 –

89 ml/phút/1,73m2da); BTM giai đoạn 3 (eClcr =

30 – 59 ml/phút/1,73m2da); BTM giai đoạn 4

(eClcr = 15 – 29 ml/phút/1,73m2da); BTM giai

đoạn 5 (eClcr < 15 ml/phút/1,73m2da)

Tổng kết xử lý số liệu

Các số liệu được khảo sát tính chuẩn, được

trình bày giá trị trung bình và độ lệch chuẩn

nếu có phân phối chuẩn Các biến số liên tục

sẽ được khảo sát tương quan bằng hệ số tương

quan Spearman nếu các biến số không phân

phối chuẩn hoặc hệ số Spearson nếu các biến

số phân phối chuẩn Kết quả được xử lý bằng

phần mềm SPSS 16.0, p có ý nghĩa thống kê

nếu p<0,05

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đặc điểm về nhân trắc học của mẫu nghiên

cứu

Dân số nghiên cứu bao gồm 118 bệnh nhân

BTM có eClcr ≤ 60ml/phút/1,73m2 da và chưa

điều trị thay thế thận Trong đó, có 61 bệnh

nhân nữ (51,7%) và 57 bệnh nhân nam (48,3%),

tỷ lệ nam: nữ = 1,07:1, tuổi trung bình: 65,09 ±

10,08 (40 – 86 tuổi) Tỷ lệ bệnh nhân BTM do

ĐTĐ: 58 bệnh nhân ĐTĐ type 2 (49,2%),

không có bệnh nhân ĐTĐ type 1 Giai đoạn

bệnh thận mạn: 36 bệnh nhân BTM giai đoạn 3

(30,5%), 42 bệnh nhân BTM giai đoạn 4

(35,6%), 40 bệnh nhân BTM giai đoạn 5

(33,9%)

Bảng 1: Dữ liệu chung của dân số nghiên cứu

Bệnh nhân (n = 118)

Nam (n = 57)

Nữ (n = 61)

P

10,29

66,80 ± 9,56 0,056

Cân nặng (kg) 54,56 ± 10,24 58,59 ±

10,68

50,79 ± 8,27

<0,001

0,57

1,52 ± 0,63

<0,001

3,56

22,13 ± 3,63 0,973

0,55

- 0,39 ± 0,61 0,693

Albumin huyết thanh (g/dL)

0,69

3,98 ± 0,63 0,543

Creatinine huyết thanh (mg/dL)

3,01

2,85 ± 1,99 0,001

eClcr

24,44 ± 1,49 22,86 ±

1,46

25,91 ± 1,51 0,268

Hb huyết thanh (g/dL)

10,43 ± 2,42 10,76 ±

2,62

10,12 ± 2,20 0,151

Hầu hết các chỉ số đánh giá không có sự khác biệt giữa nam và nữ; chỉ có chiều cao, cân nặng

và créatinine huyết thanh ở nam cao hơn nữ có ý nghĩa thống kê

Bảng 2: So sánh tình trạng dinh dưỡng giữa bệnh

nhân BTM có và không có ĐTĐ

BTM không ĐTĐ (n = 60)

BTM do ĐTĐ (n = 58)

P

Trang 5

BTM không ĐTĐ (n = 60)

BTM do ĐTĐ (n = 58)

P

Albumin huyết thanh

(g/dL)

- Albumin = 2,8 - <3,5

g/dL

- Albumin = 2,1 - < 2,8

g/dL

Creatinine huyết

thanh (mg/dL)

eClcr

25,63 ± 1,59 23,19 ± 1,38 0,377

Các thông số đánh giá tình trạng dinh dưỡng

giữa hai nhóm bệnh nhân bệnh thận mạn có

hoặc không có đái tháo đường không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê

Bảng 3: So sánh tình trạng dinh dưỡng theo từng

giai đoạn của BTM

BMT giai đoạn 3 (n = 36)

BTM giai đoạn 4 (n = 42)

BTM giai đoạn 5 (n = 40)

P

4,16

21,73 ± 3,34

21,09 ± 2,76

0,003

0,319

- 0,43 ± 0,63

- 0,55 ± 0,64

0,003

4,16

21,73 ± 3,34

21,09 ± 2,76

<0,001

Dựa theo kết quả phân tích theo giai đoạn của BTM có hay không có ĐTD, chúng tôi nhận thấy những chỉ số đánh giá tình trạng dinh dưỡng sụt giảm theo mức độ tiến triển của BTM

Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê giữa 3 nhóm phân loại tình trạng dinh dưỡng (p < 0,05)

11.1 5.6

13.9 33.3

8.3

35.7

21.4

2.4

19 12

47.5 32.5

0

20 15

0%

5%

10%

15%

20%

25%

30%

35%

40%

45%

50%

SDD Thừa cân Béo phì SDD Thừa cân Béo phì SDD Thừa cân Béo phì

Hình 1: Tỷ lệ các rối loạn tình trạng dinh dưỡng tương ứng với từng giai đoạn của BTM

Bảng 4: Đánh giá những rối loạn tình trạng dinh dưỡng ở bệnh nhân BTM có hay không có ĐTD bằng các chỉ số

BMI, SGA, Albumin

Toàn bộ bệnh

nhân (n=118)

Dinh dưỡng bình thường

Tỷ lệ suy dinh dưỡng trong bảng 4 thay đổi

tùy theo phương pháp đánh giá

- Đánh giá bằng SGA: tỷ lệ SDD là 32,2%

(SDD nhẹ-trung bình: 27,1%; SDD nặng: 5,1%)

Trang 6

- Chỉ số BMI: tỷ lệ SDD là 11,9% (SDD nhẹ:

6,8%; SDD trung bình: 4,2%, SDD nặng: 0,9%)

- Chỉ số Albumin: tỷ lệ SDD là 20,3% (SDD

nhẹ: 16,1%, SDD trung bình: 4,2%, SDD nặng: 0%)

Tỷ lệ thừa cân/ béo phì xác định bằng

phương pháp BMI là 30,5% Có 30 bệnh nhân

được chẩn đoán là thừa cân bằng phương pháp

BMI, những bệnh nhân đó khi được đánh giá

bằng phương pháp SGA thì có 23 bệnh nhân

được chẩn đoán dinh dưỡng bình thường, 7

bệnh nhân SDD mức độ nhẹ - trung bình Tương

tự cũng 30 bệnh nhân này khi đánh giá bằng

phương pháp albumin huyết thanh thì có 26

bệnh nhân dinh dưỡng bình thường, 4 bệnh

nhân SDD nhẹ Bên cạnh đó, có 6 bệnh nhân

được chẩn đoán là béo phì bằng phương pháp

BMI thì cả 6 bệnh nhân này khi đánh giá bằng

phương pháp SGA lẫn albumin huyết thanh đều

cho kết quả là dinh dưỡng bình thường

Lựa chọn phương pháp đánh giá trong việc

chẩn đoán tình trạng dinh dưỡng

Bảng 5: Hệ số tương quan (r) của chỉ số BMI, SGA

so với chỉ số albumin

* dữ liệu có ý nghĩa thống kê p < 0,05

BÀN LUẬN

Đánh giá những rối loạn tình trạng dinh

dưỡng ở bệnh nhân bệnh thận mạn do đái

tháo đường so với bệnh nhân bệnh thận

mạn không có đái tháo đường

Bệnh nhân ĐTĐ có tỷ lệ thừa cân/béo phì

cao, điều này đã được ghi nhận qua nhiều

nghiên cứu khảo sát trong cũng như ngoài

nước Nghiên cứu của K Eeg-Olofsson và

cộng sự thực hiện tại Thụy Điển(11) cho thấy tỷ

lệ thừa cân/béo phì (BMI ≥ 25) ở những bệnh

nhân ĐTĐ type 2 chiếm 80%, trong khi đó tỷ

lệ thừa cân/béo phì (BMI ≥ 25) trong cộng

đồng dân số chung của Thụy Điển chỉ chiếm

52% ở nam và 37% ở nữ(1) Tại Việt Nam,

nghiên cứu của bệnh viện Nội Tiết Trung

ương trên đối tượng bệnh nhân ĐTĐ lần đầu đến khám cho thấy tỷ lệ bệnh nhân ĐTĐ có thừa cân/ béo phì (BMI ≥ 23) là 33% Tỷ lệ này cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ thừa cân/béo phì của cộng đồng dân số chung, dựa trên nghiên cứu của Viện Dinh Dưỡng trên 17.213 đối tượng tuổi từ 25 đến 64 tại 64 tỉnh/thành phố

có mức BMI ≥ 23 là 16,3% Vì vậy, ban đầu khi hướng đến việc đánh giá tình trạng dinh dưỡng cho đối tượng bệnh nhân BTM do ĐTĐ chúng tôi dự đoán có lẽ tỷ lệ thừa cân/béo phì cao hơn trong khi tỷ lệ SDD thấp hơn ở bệnh nhân BTM không có ĐTĐ Tuy nhiên, kết quả phân tích từ nghiên cứu cho thấy: những chỉ

số đánh giá tình trạng dinh dưỡng không có

sự khác biệt có ý nghĩa giữa 2 nhóm đối tượng bệnh nhân này (bảng 2) Như vậy mặc dù tỷ lệ thừa cân/béo phì ở bệnh nhân ĐTĐ cao hơn so với dân số chung nhưng một khi bước vào BTM đặc biệt ở những giai đoạn nặng thì những biến chứng của BTM như: tình trạng ure huyết, biếng ăn, buồn nôn gây ảnh hưởng làm suy giảm tình trạng dinh dưỡng tương tự như ở những bệnh nhân BTM không

có ĐTĐ

Đánh giá tỷ lệ những rối loạn tình trạng dinh dưỡng ở bệnh nhân BTM có hay không có đái tháo đường tương ứng với từng giai đoạn của BTM

Sau khi phân tích nhận thấy những rối loạn tình trạng dinh dưỡng ở bệnh nhân BTM có ĐTĐ tương tự như ở bệnh nhân BTM không có ĐTĐ nên chúng tôi tiến hành gộp chung tất cả những bệnh nhân BTM có hay không có ĐTĐ này để đánh giá các tiêu chí còn lại

Phân tích theo từng giai đoạn của BTM (bảng 3) cho thấy giá trị trung bình các chỉ số đánh giá dinh dưỡng giảm dần tương ứng với từng giai đoạn tăng dần của BTM Tương tự khi xác định

tỷ lệ các rối loạn tình trạng dinh dưỡng theo từng giai đoạn thì nhận thấy dù áp dụng phương pháp đánh giá nào (BMI, SGA, Albumin) thì kết quả nhận được có cùng điểm

Trang 7

chung là: Tỷ lệ thừa cân béo phì chủ yếu tập

trung ở những giai đoạn đầu của BTM (giai đoạn

3), ở vào những giai đoạn cuối (BTM giai đoạn 4

– 5) tỷ lệ SDD phổ biến hơn (hình 1) Tóm lại tình

trạng dinh dưỡng ở bệnh nhân BTM không phụ

thuộc vào bệnh căn nguyên mà chủ yếu theo

hướng suy giảm chức năng thận cùng với sự tiến

triển của BTM

Đánh giá tỷ lệ những rối loạn tình trạng

dinh dưỡng ở bệnh nhân BTM có hay

không có ĐTĐ

Kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ các rối loạn

tình trạng dinh dưỡng ghi nhận được khá cao,

dù ở dạng SDD (dao động trong khoảng từ

11,9% - 32,2% tùy thuộc tiêu chuẩn đánh giá) hay

dạng thừa cân/béo phì (30,5%) (bảng 4) Mặc dù

vậy, tỷ lệ SDD ghi nhận được từ nghiên cứu này

thấp hơn so với tỷ lệ 30% - 52,2% ở nghiên cứu

trước đây của chúng tôi thực hiện trên đối tượng

bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối chưa

điều trị thay thế thận, cũng với 3 tiêu chuẩn

đánh giá là phương pháp BMI, SGA, albumin

Điều này có thể giải thích là do sự khác biệt về

đối tượng nghiên cứu Ở nghiên cứu này đối

tượng là những bệnh nhân BTM phân bố đều ở

cả 3 giai đoạn (giai đoạn 3, 4, 5) trong khi ở

nghiên cứu trước kia chỉ gồm những bệnh nhân

BTM giai đoạn 5 Mà tỷ lệ SDD thường thấp ở

những giai đoạn đầu và gia tăng cùng với mức

độ tiến triển của BTM Vì vậy tỷ lệ SDD ghi nhận

được từ nghiên cứu này thấp hơn so với nghiên

cứu trước kia là hợp lý

Tỷ lệ SDD ghi nhận được bằng phương pháp

BMI có sự khác biệt đáng kể so với 2 phương

pháp SGA và Albumin là (11,9% so với 20,3% và

32,2%) thể hiện sự giới hạn về độ nhạy của

phương pháp BMI trong việc chẩn đoán SDD,

đặc biệt là ở những bệnh nhân có tiền căn thừa

cân/béo phì Tỷ lệ thừa cân/béo phì ghi nhận

được trong nghiên cứu này khá cao là 30,5%

Một vài nghiên cứu đã chứng minh béo phì là

một trong những yếu tố nguy cơ mắc BTM và

suy thận mạn giai đoạn cuối(7,10) Những phân

tích về mặt sinh học đã chứng minh tình trạng thừa cân/béo phì có tiềm năng dẫn đến những tổn thương thận, ví dụ như làm rối loạn yếu tố nội tiết, tình trạng viêm, stress oxy hóa và những rối loạn chức năng nội mô(3) Điều này cho thấy việc chẩn đoán phát hiện và điều chỉnh kịp thời tình trạng thừa cân/béo phì cùng với việc ngăn ngừa các biến cố tim mạch có thể giúp ngăn ngừa và làm giảm tốc độ tiến triển của BTM

Lựa chọn phương pháp đánh giá những rối loạn tình trạng dinh dưỡng ở bệnh nhân BTM có hay không có ĐTĐ chưa lọc thận

Phương pháp đánh giá tình trạng suy dinh dưỡng

Đã từ lâu nồng độ albumin huyết thanh được sử dụng rộng rãi như là chỉ số tiêu chuẩn cho việc đánh giá tình trạng dinh dưỡng Sự suy giảm nồng độ albumin huyết thanh cho thấy có liên quan đến sự gia tăng tỷ lệ bệnh tật

và tử vong ở những bệnh nhân BTM Chỉ số albumin huyết thanh có độ đặc hiệu cao trong việc chẩn đoán tình trạng SDD nên trong rất nhiều nghiên cứu đánh giá dinh dưỡng, albumin huyết thanh luôn là thông số đánh giá quan trọng không thể thiếu

Dựa trên cơ sở đó, chúng tôi lựa chọn albumin huyết thanh là thông số tiêu chuẩn để

so sánh hệ số tương quan Kết quả cho thấy phương pháp SGA tương quan tốt với chỉ số albumin huyết thanh (r = 0,649, p = < 0,001), trong khi phương pháp BMI tương quan kém hơn với chỉ số albumin huyết thanh (r = 0,257, p

= 0,005) (bảng 5) Kết quả phân tích này xác nhận mặt hạn chế trong việc chẩn đoán SDD của phương pháp BMI là độ nhạy kém đặc biệt trong trường hợp đánh giá SDD ở bệnh nhân có tiền

sử béo phì(13), đồng thời xác nhận độ tin cậy cao trong chẩn đoán xác định tình trạng SDD của phương pháp SGA

Trong thực hành lâm sàng, phương pháp SGA có tính ứng dụng cao và nổi bật hơn so với phương pháp albumin với một số ưu điểm: là phương pháp không xâm lấn, cho kết quả gần

Trang 8

như lập tức, không tốn kém, có thể thực hiện tại

giường Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện

trên đối tượng bệnh nhân BTM đang điều trị lọc

thận hay thẩm phân phúc mạc đưa ra kết luận

phương pháp SGA thực sự là công cụ có giá trị

để chẩn đoán tình trạng SDD(2,5,19). Và hiện nay

với kết quả từ nghiên cứu này, chúng tôi nhận

thấy phương pháp SGA thích hợp cho việc chẩn

đoán tình trạng SDD cho đối tượng bệnh nhân

BTM có hay không có ĐTĐ chưa lọc thận

Phương pháp đánh giá tình trạng thừa cân/béo

phì

Phương pháp albumin huyết thanh và

phương pháp SGA có thể xác định rối loạn tình

trạng dinh dưỡng dạng SDD với độ đặc hiệu

cao(17) Tuy nhiên các phương pháp này không

thể đánh giá được rối loạn dạng thừa cân/béo

phì Với những bệnh nhân được chẩn đoán thừa

cân/ béo phì ở nghiên cứu này, đánh giá phân

loại bằng phương pháp SGA và phương pháp

albumin cho kết quả là dinh dưỡng bình thường

Phương pháp đo chỉ số khối cơ thể (BMI) là

phương pháp kinh điển trong việc đánh giá

phân loại tình trạng dinh dưỡng Phương pháp

này đã và đang được sử dụng một cách phổ biến

trên thế giới đặc biệt hữu dụng trong việc chẩn

đoán thừa cân/béo phì Phương pháp BMI với

nhiều ưu điểm là phương pháp không xâm lấn,

cho kết quả nhanh chóng, dễ thực hiện với dụng

cụ đơn giản và ít tốn kém Đặc biệt khi sử dụng

phương pháp BMI để đánh giá phân loại dinh

dưỡng tình trạng dinh dưỡng ở người lớn thì có

điều thuận lợi đó là chỉ số này không phụ thuộc

vào tuổi và giống nhau ở cả hai giới(20)

Phương pháp BMI rất hữu dụng trong phân

loại tình trạng dinh dưỡng theo trọng lượng cơ

thể, nhưng phương pháp BMI có một vài hạn

chế đó là chỉ số BMI không phân biệt giữa khối

lượng cơ và mỡ trong cơ thể, nên không thể

phân biệt được giữa những người nặng cân vì

chất béo và những người nặng cân vì khối cơ

bắp Giới hạn này có thể dẫn tới kết quả là

phương pháp BMI có xu hướng đánh giá quá

cao mỡ trong cơ thể ở người có nhiều cơ bắp và đánh giá thấp lượng mỡ trong cơ thể ở những người rất ít vận động(ít cơ bắp)(13) Phương pháp BMI chỉ liên quan đến sự phân bố rộng khắp của phần trăm chất béo trong cơ thể nên không xác định chính xác nơi phân bố của chất béo trong cơ thể Trong khi chất béo vùng bụng mang lại nhiều nguy cơ sức khỏe lớn nhất Nhiều chuyên gia y tế cho rằng tỷ lệ phần trăm mỡ cơ thể là một chỉ báo về nguy cơ thừa cân/béo phì tốt hơn chỉ số BMI Tỷ lệ phần trăm lượng mỡ cơ thể có thể được xác định bằng phương pháp đo trở

kháng sinh điện (Bioelectrical impedance analysis –

BIA), phương pháp đo độ dày nếp gấp da tại 4 vị

trí cơ: tam đầu, nhị đầu, dưới xương vai, mào chậu Tuy nhiên việc áp dụng các phương pháp này gặp nhiều khó khăn trong việc đo đạc, tính toán kết quả, thiết bị đắt tiền Có lẽ vì vậy mà hiện nay trên thế giới đa số các nghiên cứu về mối liên hệ giữa thừa cân/béo phì và bệnh thận mạn đều sử dụng phương pháp BMI để chẩn đoán thừa cân béo phì(9,10) Ngoài ra, chỉ số BMI

có thể còn được sử dụng như là chỉ số tiên lượng kết quả lâm sàng, sự tăng cao chỉ số BMI được chứng minh là có liên quan đến nguy cơ mắc các bệnh không lây nhiễm như: bệnh tim mạch (nhồi máu cơ tim, đột quỵ), bệnh tiểu đường, viêm xương khớp, một số bệnh ung thư (nội mạc tử cung, vú, đại tràng) Dựa vào những phân tích trên, chúng tôi gợi ý sử dụng phương pháp đo chỉ số BMI trong việc đánh giá chẩn đoán tình trạng thừa cân/béo phì cho cộng đồng bệnh nhân BTM có hay không có ĐTĐ chưa lọc thận

KẾT LUẬN

Những rối loạn tình trạng dinh dưỡng (thừa cân/béo phì, SDD) ở bệnh nhân BTM do ĐTĐ tương tự như ở bệnh nhân BTM không có ĐTĐ Tỷ lệ SDD ở bệnh nhân BTM có hay không có ĐTĐ ghi nhận được theo từng phương pháp BMI, SGA, Albumin tương ứng

là 11,9%, 32,2%, 20,3% Bên cạnh đó tỷ lệ thừa cân/ béo phì xác định được bằng phương pháp BMI là 30,5% Tình trạng dinh dưỡng ở bệnh nhân BTM không phụ thuộc vào bệnh căn

Trang 9

nguyên mà luôn có chiều hướng suy giảm cùng

với tiến triển của BTM Phương pháp SGA có

nhiều ưu điểm trong chẩn đoán SDD, trong khi

phương pháp BMI được sử dụng phổ biến

trong chẩn đoán tình trạng nặng cân/béo phì

Từ kết quả của nghiên cứu này đã mở ra một

hướng nghiên cứu mới về việc kết hợp những

ưu điểm của phương pháp SGA và phương

pháp BMI để tạo ra một phương pháp đánh giá

tình trạng dinh dưỡng mới có thể chẩn đoán

những rối loạn dạng suy dinh dưỡng lẫn dạng

thừa cân/béo phì với độ nhạy và độ tin cậy cao

cho đối tượng bệnh nhân BTM

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bostrom G, Eliasson M (2006), “Major public health problems

– overweight and obesity”, Scandinavian Journal of Public

Health, 34(67), pp 69–77

2 Cooper BA et al (2002), “Validity of subjective global

assessment as a nutritional marker in end-stage renal disease”,

Am J Kidney Dis, 40, pp.126-132

3 De Jong PE et al (2002), “Obesity and target organ damage: the

kidney”, Int J Obes Relat Metab Disord, 26 (4), S21–S24

4 Detsky AS, McLaughlin JR, Baker JP, Johnston N, Whittaker S,

Mendelson RA & Jeejeebhoy KN (1987), “What is subjective

global assessment of nutritional status”, Journal of Parenteral

and Enteral Nutrition, 11(1), pp.8–13

5 Enia G, Sicuso C et al (1993), “Subjective global assessment of

nutrition in dialysis patients”, Nephrol Dial Transplant, 8,

pp.1094-1098

6 Fiaccadori E et al (1999)," Prevalence and clinical outcome

associated with preexisting malnutrition in acute renal failure:

a prospective cohort study”, J Am Soc Nephrol, 10(3),

pp.581-93

7 Gelber RP et al (2005), “Association between body mass index

and CKD in apparently healthy men”, Am J Kidney Dis, 46,

pp.871-880

8 Heimburger DC (2008), “Malnutrition and nutritional assessment”, Harrison’s primciples of internal medicine, 17th

ed, The M C Graw Hill companies Inc, pp.450 – 454

9 Hsu CY et al (2006), “Body mass index and risk for end-stage renal disease”, Ann Intern Med, 144, pp.21– 28

10 Iseki K et al (2004), “Body mass index and the risk of development of end-stage renal disease in a screened cohort”, Kidney Int, 65, pp.1870– 1876

11 Jane A et al (2001), “Prevalence and Prognostic Significance of Malnutrition in Chronic Renal Insufficiency”, Journal of Renal Nutrition, 11(1), pp 16-22.xz

12 K Eeg-Olofsson et al (2009), “Risk of cardiovascular disease and mortality in overweight and obese patients with type 2 diabetes: an observational study in 13,087 patients”, Diabetologia, 52, pp.65–73

13 Kruizenga HM et al (2005), “Effectiveness and cost-effectiveness of early screening and treatment of malnourished patients”, Am J Clin Nutr, 82, pp.1082-1089

14 Lawson JA et al (2001), “Prevalence and prognostic significance of malnutrition in chronic renal insufficiency”, J Ren Nutr, 11, pp.16-22

15 National Kidney Foundation (2002), “K/DOQI clinical practice guidelines for chronic kidney disease: evaluation, classification, and stratification”, Am J Kidney Dis, 39,

pp.1-266

16 O’Bryan GT, Hostetter TH (1997), “The renal hemodynamic basis of diabetic nephropathy”, Semin Nephrol, 17, pp.93-100

17 Oliveira CM; Kubrusly M et al (2010), “Malnutrition in chronic kidney failure: what is the best diagnostic method to assess?”, J Bras Nefrol, 32 (1), pp.55-68

18 Stenvinkel P et al (1999), “Strong association between malnutrition, inflammation, and atherosclerosis in chronic renal failure”, Kidney Int, 55, pp.1899-1911

19 Tapiawala S et al (2006), “Subjective global assessment of nutritional status of patients with chronic renal insufficiency and end stage renal disease on dialysis”, J Assoc Physicians India, 54, pp.923-926

20 WHO expert consultation (2004), “Appropriate body-mass index for Asian populations and its implications for policy and intervention strategies”, The Lancet, 363, pp.157–163

21 World Health Organization (2000), “Obesity: Preventing and managing the global epidemic”, Report of WHO Consultation

on Obesity, pp 9

Ngày đăng: 23/01/2020, 04:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w