Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu xác định tỷ lệ các đặc điểm dịch tễ, lâm sàng của táo bón ở trẻ tại các trường mẫu giáo quận Gò Vấp niên khoá 2007-2008 và tỷ lệ các kiến thức, thái độ của bà mẹ trong chăm sóc táo bón ở trẻ em. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết.
Trang 1ĐẶC ĐIỂM TÁO BÓN Ở TRẺ MẪU GIÁO QUẬN GÒ VẤP
VÀ KIẾN THỨC THÁI ĐỘ CỦA BÀ MẸ TRONG CHĂM SÓC TRẺ TÁO BÓN
Lê thị Hồng Minh*, Hoàng Lê Phúc**, Trần Thị Thanh Tâm***
TÓM TẮT
Mục tiêu: Xác định tỷ lệ các đặc điểm dịch tễ, lâm sàng của táo bón ở trẻ tại các trường mẫu giáo quận Gò
Vấp niên khoá 2007- 2008 và tỷ lệ các kiến thức, thái độ của bà mẹ trong chăm sóc táo bón ở trẻ em
Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang
Kết quả: Khảo sát 695 trẻ và 695 bà mẹ về vấn đề táo bón và cách chăm sóc trẻ táo bón, cho kết quả như sau:
Tỉ lệ trẻ táo bón 7,3%; nam: nữ = 1,3: 1 Táo bón ở lứa tuổi 36- 48 tháng là 54,9%, 58,8% trẻ có triệu chứng bón lần đầu < 24 tháng tuổi; Tỉ lệ các đặc điểm lâm sàng: khó đi tiêu 98%, đau khi tiêu 100%, đi tiêu < 3 lần/ tuần 33,3%, phân có máu 33,3%, có khối phân cứng khi thăm trực tràng 56,9% Kiến thức về táo bón của bà mẹ: phòng ngừa đúng 13,4%, nhận biết táo bón đúng 28,2%, thái độ đúng trong chăm sóc trẻ táo bón 18,3% Nguồn thông tin cung cấp cho bà mẹ từ: truyền hình 55,1%, sách 51,6%, nhân viên y tế 22,2% và người xung quanh 36,2%
Kết luận: Đặc điểm táo bón ở trẻ mẫu giáo quận Gò Vấp tương tự y văn và các nghiên cứu khác Có một tỉ
lệ đáng kể các bà mẹ trong nghiên cứu chưa có kiến thức đầy đủ về táo bón ở trẻ em Vấn đề táo bón ở trẻ chưa được quan tâm đúng mức
ABSTRACT
CHARACTERISTICS OF CONSTIPATION IN PRESCHOOL CHILDREN AT GO VAP DISTRICT AND
MATERNAL KNOWLEGDGE AND ATTITUDE IN CONSTIPATION MANAGEMENT
Le Thi Hong Minh, Hoang Le Phuc, Tran Thi Thanh Tam
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 13 – Supplement of No 1 - 2009: 142 - 147
Objectives: To investigate the rate of epidemiologic and clinical characteristics in preschool children at the
kindergartens at Go Vap district in the year of 2007-2008 and the rate of maternal knowledge and attitude about constipation management
Study design: Cross- sectional descriptive study
Results: 695 children and their 695 mothers were recruited The general constipation prevalence rate was
7.3%; and of 36-48 months of age was 54.9%, the first symptoms of constipation were seen before 24months of age in 58.8% The ratio of constipated boys to girls was 1,3:1 Clinical characteristics: hard bowel movement (BM) 98%, pain with BMs 100%, BM frequency < 3 times/week 33.3%, blood with BM 33.3% and rectal impaction 56.9% Good maternal knowledge was reported in 13.4% of prevention, 28.2% of identifying constipation, and 18.3% of attitude toward taking care of constipated children Mothers achieved information from TV in 55.1%, from books in 51.6%, from medical practitioners in 22.2% and from the others in 36.2%
Conclusion: The characteristics of constipation in preschool children at Go Vap district were similar to the
literature and the other studies A lot of their mothers didn’t have adequate good knowledge Constipation children wasn’t paid enough attention at the moment
* BV 175, ** BV Nhi Đồng 1, *** Bộ môn nhi – ĐHYD TP HCM
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Sự thải phân bình thường được coi là dấu
hiệu sức khoẻ của trẻ mọi lứa tuổi Táo bón là
một dạng rối loạn sự thải phân(5) Táo bón ở trẻ
em là vấn đề thường gặp trên toàn cầu, là chủ đề
nghiên cứu được quan tâm ở nhiều quốc gia và
châu lục: Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Châu Âu, Trung
Đông và Châu Á Tỉ suất hiện mắc của bệnh thay
đổi từ 0,7 đến 29,6% (4) (15)
Nguyên nhân của táo bón trẻ em rất đa
dạng, nhưng qua giai đoạn sơ sinh nguyên nhân
thường gặp nhất của táo bón là chức năng (Error!
Reference source not found.) (5) (8) Táo bón chức năng gây
nhiều hậu quả về y học và xã hội nếu tiến triển
nặng hoặc trở thành táo bón mãn tính(7) (10) (11) (16)
Vấn đề điều trị không phức tạp, nhưng thời gian
điều trị duy trì và theo dõi kéo dài (Error! Reference source
not found.) nên rất cần có sự hiểu biết và hợp tác của
người chăm sóc trẻ Ở nước ta cho tới nay táo
bón trẻ em còn là vấn đề bỏ ngỏ Nghiên cứu của
chúng tôi nhằm xác định tỉ lệ các đặc điểm dịch
tễ, lâm sàng của táo bón ở trẻ tại các trường mẫu
giáo trong quận Gò Vấp và thăm dò sự hiểu biết
của bà mẹ về vấn đề táo bón và thái độ trong
chăm sóc trẻ táo bón
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Trẻ lứa tuổi mẫu giáo tại các trường mẫu
giáo quận Gò Vấp niên khóa 2007- 2008 và các bà
mẹ của trẻ trong trường
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
Tiêu chuẩn chẩn đoán
Theo hướng dẫn của hội tiêu hoá và dinh
dưỡng nhi khoa Bắc Mỹ (NASPHGAN): Trẻ
được xác định có táo bón khi các biểu hiện sau
kéo dài ≥ 2 tuần trước chẩn đoán:
* Tiêu < 3 lần/ 1 tuần kèm tiêu đau và tiêu
phân cứng hoặc
* Tiêu đau kèm tiêu khó và tiêu phân cứng
Xử lý dữ liệu
Xử lý bằng phần mềm EPI DATA, SPSS for Windows Tính các tỉ lệ, nhận xét các tỉ lệ giữa nhóm trẻ táo bón và không táo bón, tỉ lệ các kiến thức, thái độ trong chăm sóc trẻ táo bón giữa các nhóm bà mẹ phân bố theo trình độ học vấn, nghề nghiệp của bà mẹ bằng phép kiểm chi bình phương
Tính độ tin cậy của các câu hỏi trắc nghiệm bằng chỉ số Cronbach’s Alpha
KẾT QUẢ – BÀN LUẬN
Tỉ lệ táo bón của trẻ mẫu giáo quận Gò Vấp theo tiêu chuẩn đoán của NAPHSGAN
Đặc điểm dịch tễ của trẻ trong nghiên cứu
Giới tính
Tỉ lệ trẻ nam: nữ trong lô nghiên cứu = 1,1: 1
và trẻ táo bón có tỉ lệ nam: nữ =1,3:1 Không có
sự khác biệt về giới tính trong nhóm trẻ táo bón, ghi nhận này tương tự y văn và các nghiên cứu khác
Tuổi
Tỉ lệ trẻ trong nghiên cứu phân bố theo nhóm tuổi: 36- 48 tháng, 49- 60 tháng và ≥ 61 tháng lần lượt là 35,1%, 34,8%, 28,3% Táo bón gặp ở cả 3 nhóm tuổi nhưng nhiều hơn ở lứa tuổi 36- 48 tháng với 28/ 51 trẻ táo bón (54,9%) Thời điểm triệu chứng táo bón xuất hiện lần đầu tiên tập trung ở giai đoạn trẻ ≤ 24 tháng chiếm tỉ
lệ 58,8%
Đặc điểm lâm sàng của trẻ trong nghiên cứu
Tb Không tb
Táo bón Không táo bón
7,3%
92,7%
Trang 3
Tb Không tb n= 51 n= 644
Đi tiêu < 3 lần / tuần 17 (33,3%) 5 (0,78%)
Phân cứng (type 1,2,3) 51 (100%) 230 (35,7%)
Thời gian tiêu phân cứng
0 – 13 ngày 0 167 (25,9%)
14 - 59 ngày 16 (31,3%) 10 (1,5%)
≥ 60 ngày 35 (68,6%) 19 (2,9%)
Có đau khi đi tiêu: 51 (100%) 119 (18,5%)
Có khó đi tiêu 50 (98%) 156 (24,2%)
Có máu theo phân 17 (33,3%) 20 (3,1%)
Có đi tiêu khối phân lớn 11 (21,6%) 23 (3,6%)
Có són phân 3 (5,9%) 10 (1,5%)
Có hành vi giữ phân 9 (17,6%) 17 (2,6%)
Có vết nứt hậu môn 3 (5,9%) 11 (1,7%)
Có sa niêm mạc trực tràng 0 5 (0,78%)
Có khối phân lớn khi thăm
trực tràng
29 (56,9%) 52 (8,1%)
Hầu hết trẻ táo bón (50/51 trẻ) đều có biểu
hiện khó thải phân, trẻ phải gắng sức suốt thời
gian thải phân, trẻ nhăn mặt hoặc rên rỉ khi rặn,
rặn đỏ mặt, rặn lâu > 10 phút Có 170 trẻ (24,5%)
đau khi tiêu, biểu hiện thường gặp là trẻ khóc,
than đau hậu môn trong và sau khi thải phân, trẻ
có thể đau bụng trước khi tiêu hoặc trong khi
tiêu, một số trẻ khóc, không chịu đi tiêu vì sợ
đau Tiêu đau hiện diện ở 51/51 trẻ táo bón
Triệu chứng ít đi tiêu <3 lần/ tuần có ở 22/695
trường hợp trong nghiên cứu và có trong
17/51(33,3%) trẻ táo bón
Thăm trực tràng có khối phân cứng hiện
diện ở 56,8% trẻ táo bón, nứt hậu môn ở 3/51 trẻ
chiếm tỉ lệ 6,8% và són phân 5,9% trường hợp trẻ
táo bón
Dịch tễ của bà mẹ
Các bà mẹ của trẻ trong nghiên cứu, đa phần
có trình độ học vấn cao từ cấp 3 trở lên (73,9%)
Nhóm bà mẹ trình độ học vấn cấp 1 chiếm 1,9%
Nghề nghiệp chủ yếu là công nhân, viên chức
nhà nước (61,7%), các bà mẹ làm công việc lao
động chân tay như thợ hồ, uốn tóc, tạp vụ chiếm
tỉ lệ 6,8% Nhìn chung trình độ học vấn và nghề
nghiệp của các bà mẹ phản ánh mức độ dân trí
khá cao
Kiến thức của các bà mẹ về vấn đề táo bón
Kiến thức về nhận biết táo bón
Trong phần câu hỏi trắc nghiệm, trên 80% bà
mẹ đồng ý triệu chứng đau khi thải phân hoặc khó thải phân là biểu hiện của táo bón, cao hơn
so với nghiên cứu của Potts và của Kathleen: triệu chứng đau, sự gắng sức khi đi tiêu và độ cứng của phân ít được chú ý đến(10) (12) Có 30%
bà mẹ không đồng ý táo bón khi trẻ đi tiêu ít < 3 lần/ tuần, thông thường đối với các bà mẹ, khi trẻ đi tiêu không đều mỗi ngày được hiểu là ít đi tiêu 577 (83%) bà mẹ trả lời đúng ≥ 2 biểu hiện của táo bón, 117 bà mẹ (16,8%) trả lời sai
Trong phần câu hỏi mở, phần đông các bà
mẹ ghi nhận táo bón khi khó đi tiêu (48,2%) hoặc đau khi tiêu (28,6%) và khi tiêu phân cứng, lớn, phân vón cục (25,3%) Biểu hiện it đi tiêu chỉ
đúng về biểu hiện của táo bón Tỉ lệ bà mẹ trả lời đúng biểu hiện táo bón ở trẻ trong phần câu hỏi
mở thấp hơn rất nhiều so với trong câu trắc nghiệm về vấn đề này Điều này phản ánh nhiều
bà mẹ chưa có kiến thức thực sự mà chỉ cảm nhận điều đó là đúng và đoán câu trả lời trong phần câu hỏi trắc nghiệm
Kiến thức về nguyên nhân táo bón
Đa số các bà mẹ biết chế độ ăn uống không hợp lý như ăn ít rau, trái cây, uống nước không
đủ gây táo bón (96,6% và 83,1%) Nghiên cứu của Warren, Ip và Roma cho thấy tỉ lệ táo bón tăng ở những trẻ ăn ít rau quả, trẻ táo bón có chế
độ ăn ít chất xơ đáng kể so với trẻ không táo bón(Error! Reference source not found.) (9) (13) (17). Trên 70% bà mẹ không biết các vấn đề về tâm lý như sợ dơ, sợ đau, thay đổi thói quen sinh hoạt, stress tâm lý
… cũng có thể đưa tới táo bón Trong thực tế, yếu tố tâm lý thường được để ý đến Một số nghiên cứu đã ghi nhận có sự rối loạn hành vi mức độ cao ở trẻ táo bón có kèm theo tiêu són hoặc không có tiêu són (6) (8) (11) (13) (14)
Tương tự như vậy, chỉ có 12,7% bà mẹ biết ngoài chế độ ăn uống táo bón có thể là triệu chứng của bệnh lý khác và 60% bà mẹ không biết trẻ ít vận động cũng dễ bị táo bón(13) Số bà
mẹ trả lời đúng ≥ 3 nguyên nhân gây táo bón là 345(49,6%)
Trang 4Kiến thức về hậu quả của táo bón
89,8% bà mẹ biết táo bón lâu ngày sẽ gây ra
bệnh trĩ và gần 50% các bà mẹ biết các hậu quả
khác của táo bón như sa niêm mạc trực tràng
(45,1%), ảnh hưởng sự phát triển tâm lý và sinh
hoạt của trẻ (46,8%) nhưng rất ít bà mẹ biết về
són phân (24,8%) Theo y văn, ứ phân chức năng
do kìm giữ phân là nguyên nhân của 3- 5% bệnh
nhân tới gặp bác sĩ nhi tổng quát và 25% trường
hợp tới bác sĩ chuyên khoa tiêu hoá nhi Són
phân cũng thường được các bà mẹ hiểu lầm là
trẻ tiêu chảy(8) Tỉ lệ bà mẹ có kiến thức đúng về
hậu quả của táo bón là 40,3%
Kiến thức về xử trí khi trẻ táo bón
Có 32,7% bà mẹ đồng ý nên đưa trẻ đi khám
khi có triệu chứng táo bón, 24,6% bà mẹ chọn
bơm thuốc vào hậu môn để trẻ đi tiêu được
trong trường hợp cấp và sau đó đưa trẻ đi khám,
17,6% bà mẹ chỉ sử dụng thuốc bơm hậu môn
cho trẻ để giải quyết tình trạng táo bón tại nhà, tỉ
lệ này trong nghiên cứu của Potts là 38% và tỉ lệ
bà mẹ đưa trẻ đi khám khi có táo bón là 62,6%
cao hơn nghiên cứu của Potts với 23% trường
hợp bà mẹ hỏi ý kiến bác sĩ khi con táo bón Kết
quả nghiên cứu cũng cho thấy có khoảng 20% bà
mẹ điều chỉnh chế độ ăn uống để giải quyết vấn
đề táo bón ở trẻ Ip và cộng sự ghi nhận 58% cha
mẹ tin rằng để giải quyết vấn đề táo bón của con
họ chỉ cần điều chỉnh chế độ ăn và 23% hỏi ý
kiến của bác sĩ
62,9% bà mẹ chọn cách xử trí đúng khi trẻ
táo bón
Kiến thức về dự phòng táo bón
Hầu hết các bà mẹ cho rằng một chế độ ăn
uống với nhiều rau, trái cây, uống đủ nước có
thể ngừa táo bón, 15,9% bà mẹ biết tập thói quen
đi tiêu đều đặn hàng ngày cho trẻ cũng rất quan
trọng để dự phòng táo bón Có rất nhiều yếu tố
làm tăng nguy cơ phân cứng và tiêu không
thường xuyên ở trẻ như chế độ ăn có nhiều thực
phẩm gây bón và thiếu chất xơ, trẻ không có thói
quen đi tiêu đều đặn, trẻ đã trải qua cảm giác
đau khi thải phân… Các nghiên cứu cho thấy
phản ứng cố nhịn đi tiêu lúc ban đầu dần dần sẽ trở thành một phản xạ tự động gây ra tình trạng
co thắt cơ hậu môn ngoài trong khi đang đại tiện, làm phân khó thải ra ngoài(Error! Reference source not
found.) Vì vậy ở một số trẻ hành vi nhịn đi tiêu vì
lý do đơn giản như ham chơi, sợ dơ hay lạ chỗ… nếu không được điều chỉnh có nguy cơ đưa tới táo bón(Error! Reference source not found.) Số ít bà mẹ (13,4%)
trả lởi được ≥ 3 cách phòng ngừa táo bón theo đúng định nghĩa Điều này có lẽ do các bà mẹ chưa biết đầy đủ về các nguyên nhân gây ra táo bón ở trẻ ngoài chế độ ăn uống nên việc phòng ngừa cũng chỉ tập trung vào điều chỉnh chế độ
ăn
Kiến thức chung về táo bón
Tỉ lệ các bà mẹ có kiến thức đúng về nhận biết táo bón rất cao (83%) trong phần câu hỏi trắc nghiệm nhưng tỉ lệ trả lời đúng về vấn đề này là 28,2% trong phần câu hỏi mở Ở phần kiến thức
về xử trí có 62,9% bà mẹ trả lời đúng Còn lại 50- 60% bà mẹ trả lời sai trong phần kiến thức về nguyên nhân và hậu quả của táo bón 13,4% bà
mẹ có kiến thức đúng về phòng ngừa Vì vậy số
bà mẹ có kiến thức chung về vấn đề táo bón đúng chỉ đạt tỉ lệ 48,1%
Thái độ của bà mẹ trong chăm sóc táo bón ở trẻ
81% bà mẹ trả lời táo bón nguy hiểm cho trẻ, 77,6% bà mẹ đồng ý táo bón cần điều trị và theo dõi lâu dài Tuy nhiên một tỉ lệ khá cao các bà
mẹ lựa chọn giải quyết vấn đề táo bón ở trẻ tại nhà (77%), chỉ 18,3% bà mẹ có thái độ đúng trong chăm sóc trẻ táo bón Vấn đề táo bón ở trẻ còn bị xem nhẹ và chưa được các bà mẹ quan tâm đúng mức
Nguồn cung cấp thông tin táo bón cho bà mẹ
Chủ yếu các bà mẹ có được kiến thức về táo bón qua theo dõi trên truyền hình (55,1%) và qua sách (51,6%) Kiến thức được cung cấp từ nhân viên y tế chỉ 22,2%, kết quả này tương tự trong nghiên cứu của Potts(12)
Trang 5Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ trong
chăm sóc trẻ táo bón và đặc điểm dịch tễ của
mẹ
Tỉ lệ bà mẹ học vấn cấp 3 trở lên có xu hướng
trả lời đúng về kiến thức táo bón nhiều hơn bà
mẹ trình độ học vấn cấp 1 và cấp 2, nhưng sự
khác biệt này không có ý nghĩa thống kê P> 0,05
Thái độ của bà mẹ trong chăm sóc trẻ táo bón
không khác biệt giữa các bà me có trình độ học
vấn và nghề nghiệp khác nhau
Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ trong
chăm sóc trẻ táo bón của nhóm bà mẹ có con
táo bón và không táo bón
Phần nhận biết táo bón trong câu hỏi trắc
nghiệm, kết quả trả lời của các bà mẹ có con táo
bón và không táo bón không có sự khác biệt
Tuy nhiên trong phần câu hỏi mở về vấn đề này,
23/51(46,9%) bà mẹ có con táo bón và
173/607(28,5%) bà mẹ nhóm có con không táo
bón ghi nhận đúng biểu hiện táo bón ở trẻ, sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê P= 0,002 Các bà
mẹ có con táo bón đã ghi nhận đúng triệu chứng
của táo bón ở trẻ vì con của họ đã trải qua các
triệu chứng này khi bé bị táo bón
10/51 bà mẹ có con táo bón có thái độ đúng
trong chăm sóc táo bón ở con (19,6%) và trong
nhóm bà mẹ có con không táo bón có 117/633 bà
mẹ có thái độ đúng chiếm tỉ lệ 18,5% Kết quả
cho thấy thái độ đúng của các bà mẹ có con táo
bón và không táo bón đều thấp tương đương
nhau
KẾT LUẬN _ ĐỀ XUẤT
Khảo sát 695 trẻ mẫu giáo quận Gò Vấp niên
khoá 07- 08 và tìm hiểu kiến thức của các bà mẹ
về vấn đề táo bón và cách chăm sóc trẻ táo bón,
chúng tôi có một số kết luận sau: tỉ lệ táo bón ở
trẻ là 7,3%, tương tự y văn Không có khác biệt
giữa nam và nữ Tỉ lệ trẻ táo bón cao ở lứa tuổi
36- 48 tháng (54,9%), trẻ có triệu chứng bón lần
đầu < 24 tháng tuổi là 30/51 trường hợp Tỉ lệ các
kiến thức, thái độ đúng của bà mẹ về táo bón ở
trẻ không cao, trình độ học vấn và nghề nghiệp
không có ảnh hưởng đến kiến thức, thái độ đúng
của bà mẹ Tỉ lệ nguồn thông tin cung cấp cho bà
mẹ các kiến thức về táo bón ở trẻ từ nhân viên y
tế 22,2%
Từ kết quả thu dược chúng tôi xin đề xuất một vài ý kiến: Tiến hành khảo sát thêm tỉ lệ táo bón ở trẻ lứa tuổi ≤ 24 tháng Bác sĩ tăng cường trao đổi hướng dẫn kiến thức về táo bón ở trẻ nhỏ cho cha mẹ trong các lần khám bệnh, theo dõi Thông tin rộng rãi về táo bón ở trẻ trên bảng thông tin của khoa, trên trang web bệnh viện và phát tờ bướm cho thân nhân trẻ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
dược học: tháng 6, tr 137 – 139
Guiraldes, Jeffrey S Hyams, Annamaria Staiano, and Lynn S
Disorders: Child/Adolescent”, J Gastroenterology, 130:1527–
1537
“Constipation and toileting issues in children” MJA, 182: 242
– 246
school – aged children at public school in Rio de Janeiro,
Brazil”, J Pediatr Gastroenterol Nutr, 29: 190 – 193
infants and children: evaluation and treatment A medical position statement of the North American Society for
Pediatric Gastroenterology and Nutrition”, J Pediatr
Gastroenterol Nutr, 29: 612 – 626
Lancet, 384: 766 – 767
pediatric fecal incontinence” Gastroenterology, 126 (suppl 1):
S33 – S40
children”, BMJ 333;1051-1055
study of the prevalence of constipation in young children and
the role of dietary fibre”, HongKong Med J, 11: 431 – 436
Jones (2008), “The frequency of constipation in children with nocturnal enuresis: a comparison with parental reporting”,
Journal of Paediatrics and Child Health, 44: 19.27 19
Anne-Martine Onland-van Nieuwenhuizen, Bob F Last (2007), “Chronic childhood constipation: A review of the literature and the introduction of a protocolized behavioral
intervention program”, Patient Education and Counseling, 67:
63–77,
knowledge and beliefs”, Clin Pediatr (Phila), 31(3):143-8
chronic constipation in children: the role of fiber”, J Pediatr
Gastroenterol Nutr, 28: 169 – 174
Trang 6in children”, Community Pratitioner, 74, 1: 29 – 31
“Epidemiology of childhood constipation: a systematic
review”, Am J Gastroenterol, 101: 2401- 2409
Ponce, Pilar Nos, and Julio Ponce(2004) “Prevalence of Constipation: Agreement among Several Criteria and Evaluation of the Diagnostic Accuracy of Qualifying Symptoms and Self-reported Definition in a Population-based
Survey in Spain”, Am J Epidemiol, 159:520–526
Betty WY Young (2008), “Increased prevalence of constipation
in pre-school children is attributable to under-consumption of
plant foods: A community-based study”, Journal of Paediatrics
and Child Health, 44:170.175