1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Sự hài lòng và các yếu tố liên quan của bệnh nhân nội trú tại Bệnh viện Y học Cổ truyền Tây Ninh năm 2013

9 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 399,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu xác định tỷ lệ hài lòng và các yếu tố liên quan với sự hài lòng của bệnh nhân nội trú đối với 6 nhóm dịch vụ y tế tại bệnh viện Y học Cổ truyền Tây Ninh. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết của đề tài nghiên cứu này.

Trang 1

SỰ HÀI LÒNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA BỆNH NHÂN NỘI TRÚ 

TẠI BỆNH VIỆN Y HỌC CỔ TRUYỀN TÂY NINH NĂM 2013 

Ngô Kim Thuận*, Võ Minh Tuấn **  

TÓM TẮT 

Đặt  vấn  đề: Ngày nay, sự hài lòng của bệnh nhân đã trở thành một trong nhiều tiêu chí để đánh giá chất 

lượng chăm sóc tại cơ sở y tế. Năm 2005, bệnh viện Y học Cổ truyền Tây Ninh đã tiến hành một nghiên cứu đánh  giá mức độ hài lòng của bệnh nhân nội trú và kết quả cho thấy sự hài lòng chung của bệnh nhân trên 90%. Tuy  nhiên trải qua thời gian 8 năm, mức độ hài lòng của bệnh nhân có thể đã thay đổi vì nhiều lý do. Nghiên cứu được  tiến hành với mục đích đánh giá lại sự hài lòng của bệnh nhân nội trú tại bệnh viện Y học Cổ truyền Tây Ninh. 

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ hài lòng và các yếu tố liên quan với sự hài lòng của bệnh nhân nội trú đối với 6 

nhóm dịch vụ y tế tại bệnh viện Y học Cổ truyền Tây Ninh. 

Phương  pháp  nghiên  cứu: Cắt ngang mô tả trên 412 bệnh nhân nội trú điều trị tại bệnh viện Y học Cổ 

truyền Tây Ninh từ tháng 7‐10/2013. Sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân bằng bộ câu hỏi  soạn sẵn gồm 140 câu hỏi đánh giá sự hài lòng của bệnh nhân đối với 6 dịch vụ y tế tại bệnh viện là dịch vụ đăng 

ký nhập viện nội trú, dịch vụ phòng bệnh, dịch vụ chăm sóc bệnh nhân, dịch vụ khám và điều trị, dịch vụ xét  nghiệm, dịch vụ phục hồi chức năng.  

Kết quả: Tỷ lệ hài lòng đối với dịch vụ đăng ký nhập viện nội trú là 97,8%, dịch vụ phòng bệnh là 97,1%, 

dịch vụ chăm sóc bệnh nhân là 99,6%, dịch vụ khám và điều trị là 99,6%, dịch vụ xét nghiệm là 97,4%, dịch vụ  phục hồi chức năng là 80,3%. Các yếu tố bảo hiểm y tế, khoa điều trị nội trú đều có mối liên quan có ý nghĩa  thống kê với sự hài lòng đối với các dịch vụ của bệnh nhân.  

Kết luận: Mặc dù tỷ lệ hài lòng của bệnh nhân đối với các dịch vụ đều rất cao, tuy nhiên vẫn có sự không 

hài lòng đối với một số yếu tố thành phần như cơ sở vật chất, thời gian chờ đợi khám bệnh. Ban lãnh đạo bệnh  viện có thể dựa trên những dữ liệu từ nghiên cứu này để cải thiện chất lượng dịch vụ từ đó nâng cao mức độ hài  lòng của bệnh nhân.  

Từ khóa: Sự hài lòng của bệnh nhân, dịch vụ y tế, bệnh viện Y học cổ truyền Tây Ninh. 

ABSTRACT 

PATIENTS’ SATISFACTION AND RELATED FACTORS WITH HEALTH CARE SERVICES  

AT TAY NINH TRADITIONAL MEDICINE HOSPITAL 

Ngo Kim Thuan, Vo Minh Tuan 

 * Y Hoc Tp. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6‐ 2014: 371 – 379 

Background: Today, patients’ satisfaction is one of the most valuable tools for evaluating quality of health 

facilities. In 2005, Tay Ninh Traditional Medicine Hospital conducted a survey on patients’ satisfaction and the  results showed that patients’ satisfaction was 90%. However, patients’ satisfaction may change dramatically for  somewhat reasons during the last 8 years since this study has conducted. This present study aimed to re‐evaluate  the satisfaction of inpatients of Tay Ninh Traditional Medicine Hospital.  

Objectives:  identify  the  proportions  and  related  factors  of  patient  satisfaction  for  six  types  of  health  care 

services among inpatients at Tay Ninh Traditional Medicine Hospital. 

Methods:A  cross‐sectional  study  was  conducted  on  412  inpatients  at  Tay  Ninh  Traditional  Medicine 

 Bệnh viện Y học Cổ truyền Tây Ninh    ** Bệnh viện Từ Dũ 

Trang 2

Hospital from July to November 2013. Face‐to‐face interview was applied and a structured questionnaire with 

140 items was designed to evaluate patient satisfaction across six health care services, including registry service,  room service, nursing service, treatment service, laboratory service and rehabilitation service. 

Result:The proportions of satisfaction with registry service, room service, nursing service, treatment service, 

laboratory  service  and  rehabilitation  service  was  97.8%,  97.1%,  99.6%,  99.6%,  97.4%,  80.3%  respectively.  Health insurance and treatment ward were statistically significant associated with nursing and treatment service. 

Conclusion:  Although  the  proportions  of  satisfaction  with  all  six  services  were  high,  there  were  still 

unpleasant  ideas  about  elements  of  satisfaction  including  infrastructur  and  the  waiting  time  of  performing  services. The director board can use these results to improve the quality of services and that in turn enhance the  patients’ satisfaction.  

Keywords: Patient satisfaction, health service, Tay Ninh Traditional Medicine 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Ngày nay, sự tham gia của bệnh nhân trong 

chăm  sóc  và  điều  trị  đóng  vai  trò  quan  trọng 

trong  việc  cải  tiến  chất  lượng  tại  các  cơ sở  y tế. 

Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng các phản 

hồi của bệnh nhân có thể ảnh hưởng đến toàn bộ 

quy trình cải tiến chất lượng tại một cơ sở y tế và 

là một cơ hội để cơ sở y tế đó rút ra các bài học 

bổ  ích  nhằm  nâng  cao  chất  lượng  phục  vụ. 

Chính vì lý do trên, sự hài lòng của bệnh nhân 

đã  trở  thành  một  trong  nhiều  tiêu  chí  để  đánh 

giá chất lượng chăm sóc tại cơ sở y tế. 

Tại Việt Nam, mặc dù trạm y tế là cơ sở y tế 

tiếp  xúc  đầu  tiên  với  bệnh  nhân,  nhưng  bệnh 

viện  lại  là  cơ  sở  được  bệnh  nhân  đến  khám  và 

điều  trị  nhiều  nhất.  Tuy  nhiên,  chất  lượng  dịch 

vụ y tế tại nhiều bệnh viện có thể chưa đáp ứng 

được  nhu  cầu  của  bệnh  nhân.  Muốn  cải  thiện 

chất  lượng  dịch  vụ  cần  đánh  giá  được  những 

điểm yếu về chất lượng từ đó tìm biện pháp phù 

hợp  để  cải  thiện  các  điểm  yếu  này.  Một  trong 

nhiều cách đánh giá được các bệnh viện trong cả 

nước  thực  hiện  chính  là  tiến  hành  các  nghiên 

cứu  đánh  giá  mức  độ  hài  lòng  của  bệnh  nhân, 

đặc biệt bệnh nhân nội trú là đối tượng tiếp xúc 

lâu  dài  với  nhân  viên  y  tế  cũng  như  các  điều 

kiện cơ sở vật chất tại bệnh viện. 

Bệnh viện Y học Cổ truyền Tây Ninh có tổng 

số giường là 100 và công suất sử dụng luôn trên 

100%.  Trong  quá  trình  phát  triển,  bệnh  viện 

không ngừng tìm cách cải thiện chất lượng dịch 

vụ  y  tế  nhằm  đáp  ứng  nhu  cầu  ngày  càng  cao  của  người  dân.  Năm  2005,  bệnh  viện  đã  tiến  hành một nghiên cứu đánh giá mức độ hài lòng  của bệnh nhân nội trú và kết quả cho thấy sự hài  lòng chung của bệnh nhân trên 90%. Tuy nhiên  trải  qua  thời  gian  8  năm,  mức  độ  hài  lòng  của  bệnh  nhân  có  thể  đã  thay  đổi.  Nhận  thấy  điều  này,  chúng  tôi  tiến  hành  nghiên  cứu  với  mục  đích đánh giá lại sự hài lòng của bệnh nhân nội  trú tại bệnh viện Y học Cổ truyền Tây Ninh. Kết  quả của nghiên cứu sẽ được sử dụng làm cơ sở 

dữ liệu để ban lãnh đạo bệnh viện đề ra các giải  pháp  phù  hợp  nhằm  cải  thiện  chất  lượng  dịch 

vụ ngày càng tốt hơn. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Đối  tượng  của  nghiên  cứu  là  những  bệnh  nhân  nội  trú  nằm  tại  bệnh  viện  trong  khoảng  thời gian từ tháng 7‐10/2013 thỏa các tiêu chí >15  tuổi và có thời gian nằm nội trú tại bệnh viện từ 

24  giờ  trở  lên.  Tổng  cộng  có  412  bệnh  nhân  đủ  tiêu chuẩn để đưa vào nghiên cứu này. 

Các  bệnh  nhân  được  chọn  sẽ  được  điều  tra  viên đã qua tập huấn phỏng vấn trực tiếp bằng 

bộ câu hỏi soạn sẵn khi bệnh nhân hoàn tất thủ  tục  xuất  viện.  Bộ  câu  hỏi  gồm  140  câu  hỏi  chia  làm 7 phần bao gồm: đặc điểm chung của bệnh  nhân  (7  câu),  sự  hài  lòng  về  dịch  vụ  đăng  ký  nhập viện nội trú (24 câu), sự hài lòng về dịch vụ  phòng  bệnh  (21  câu),  sự  hài  lòng  về  dịch  vụ  chăm sóc bệnh nhân (19 câu), sự hài lòng về dịch 

vụ khám chữa bệnh (19 câu), sự hài lòng về dịch 

Trang 3

vụ  xét  nghiệm  (21  câu),  sự  hài  lòng  về  dịch  vụ 

phục  hồi  chức  năng  (29  câu).  Bộ  câu  hỏi  được 

thiết kế  dựa trên  bộ  câu hỏi  HCAHPS  của  Hoa 

Kỳ và bộ câu hỏi SHCQ của Hà Lan (10 câu hỏi) 

và tình hình thực tế tại bệnh viện. Kết quả đánh 

giá  độ  tin  cậy  của  bộ  câu  hỏi  thông  qua  hệ  số 

Cronbach’s  α  và  hệ  số  pretest‐postest  đều  >0,7, 

chứng  tỏ  bộ  câu  hỏi  phù  hợp  với  bối  cảnh 

nghiên cứu. 

Trong nghiên cứu này sự hài lòng của bệnh 

nhân được đo lường bằng thang Likert 5 điểm. 

Theo  Anderson  khoảng  giá  trị  trung  bình  cho 

mỗi  mức  độ  hài  lòng  được  tính  theo  công  thức 

(giá  trị  lớn  nhất  của  thang  đo‐giá  trị  nhỏ  nhất 

của thang đo)/ số mức độ = (5‐1)/5 = 0,8. Như vậy 

điểm trung bình của từng mức độ hài lòng sẽ là: 

Rất không hài lòng: (1,00‐1,80); Không hài lòng: 

(1,81‐2,60); Không có ý kiến: (2,61‐3,40); Hài lòng: 

(3,41‐4,20);  Rất  hài  lòng:  (4,21‐5,00).  Bệnh  nhân 

có sự hài lòng khi chỉ số trung bình ≥ 3,41. 

Mỗi dịch vụ y tế sẽ được đánh giá dựa trên 

các  yếu  tố  thành  phần  bao  gồm  khả  năng  tiếp 

cận,  cung  cấp  thông  tin,  chi  phí,  kỹ  năng  giao 

tiếp, điều kiện cơ sở vật chất, sự quan tâm. Các 

yếu  tố  thành  phần  trên  đều  được  đo  lường  sự 

hài lòng của bệnh nhân. 

KẾT QUẢ 

Đặc điểm của mẫu nghiên cứu 

Bảng 1: Các đặc điểm của mẫu nghiên cứu  

n = 412

Tỷ lệ (%)

Trình độ

học vấn

Nghề

nghiệp

Tình trạng kinh tế gia đình

Bảo hiểm y

tế

Khoa ngoại 191 46,4 Thời gian

nằm viện

Về  độ  tuổi  có  49,3%  bệnh  nhân  có độ  tuổi 

≥60 và 35,7% có độ tuổi từ 46‐59. Nữ chiếm tỷ 

lệ nhiều hơn nam (61,9% so với 38,1%) và hầu  hết  là  dân  tộc  Kinh  (98,5%).  Có  53,4%  bệnh  nhân  có  trình  độ  học  vấn  ≤cấp  I  và  43%  có  trình  độ  học  vấn  từ  cấp  II‐cấp  III.  Có  đến  50,5%  già  không  làm  nghề  nghiệp  gì,  18,9% 

làm  nghề  nông  và  18,2%  làm  các  nghề  khác  (buôn  bán:  5,6%;  nội  trợ:  10,9%;  lao  động  tay  chân:  1,7%).  Các  bệnh  nhân  chủ  yếu  thuộc  nhóm  hộ  gia  đình  không  nghèo  (77,4%)  và  14,3%  thuộc  hộ  nghèo.  Khi  được  hỏi  về  bảo  hiểm y tế thì có đến 70,4% có thẻ bảo hiểm y tế 

và  29,6%  chưa  mua  thẻ.  Trong  tổng  số  412  bệnh nhân tham gia nghiên cứu có 53,6% nằm  tại  khoa  Nội  và  46,4%  nằm  ở  khoa  Ngoại.  Đa 

số bệnh nhân (81,8%) có thời gian nằm viện từ 

15‐30 ngày. 

Sự hài lòng đối với các loại dịch vụ y tế 

Bảng 2: Mức độ hài lòng của bệnh nhân với dịch vụ 

đăng ký nhập viện nội trú 

Mức độ hài lòng đối với khả năng tiếp cận dịch vụ đăng ký

nhập viện nội trú

Chỉ số hài lòng (TB ± ĐLC) 4,03 ± 0,4 Mức độ hài lòng đối với việc cung cấp thông tin của dịch vụ

đăng ký nhập viện nội trú

Chỉ số hài lòng (TB ± ĐLC) 4,08 ± 0,3

Trang 4

Mức độ hài lòng đối với chi phí đăng ký của dịch vụ đăng ký

nhập viện

Chỉ số hài lòng (TB ± ĐLC) 4,02 ± 0,3

Mức độ hài lòng đối với kỹ năng giao tiếp của nhân viên

đăng ký của dịch vụ đăng ký nhập viện

Chỉ số hài lòng (TB ± ĐLC) 4,08 ± 0,3

Mức độ hài lòng đối với điều kiện cơ sở vật chất của dịch vụ

đăng ký nhập viện

Chỉ số hài lòng (TB ± ĐLC) 3,99 ± 0,4

Mức độ hài lòng chung của dịch vụ đăng ký nhập viện

Chỉ số hài lòng (TB ± ĐLC) 4,02 ± 0,3

Tỷ lệ hài lòng đối với khả năng tiếp cận dịch 

vụ đăng ký nội trú rất cao lên đến 97,4% và chỉ 

số hài lòng đối với yếu tố thành phần này là 4,03 

±  0,4.  Đối  với  yếu  tố  cung  cấp  thông  tin,  100% 

đều đánh giá hài lòng hoặc rất hài lòng trong đó 

hài  lòng  chiếm  đến  91,5%.  Chỉ  số  hài  lòng  của 

yếu  tố  này  tính  được  là  4,08  ±  0,3.  Các  yếu  tố 

thành phần khác bao gồm chi phí, kỹ năng giao 

tiếp,  điều  kiện  cơ  sở  vật  chất  cũng  có  tỷ  lệ  hài 

lòng rất cao, lần lượt là 97,8%, 99,5%, 95,7%. 

Bảng 3: Mức độ hài lòng đối với dịch vụ phòng bệnh 

Mức độ hài lòng đối với khả năng tiếp cận dịch vụ

Chỉ số hài lòng (TB ± ĐLC) 4,04 ± 0,3

Mức độ hài lòng đối với việc cung cấp thông tin của dịch vụ

Chỉ số hài lòng (TB ± ĐLC) 4,11 ± 0,4

Mức độ hài lòng đối với chi phí

Chỉ số hài lòng (TB ± ĐLC) 4,07 ± 0,3

Mức độ hài lòng đối với điều kiện cơ sở vật chất

Chỉ số hài lòng (TB ± ĐLC) 3,95 ± 0,5

Mức độ hài lòng chung của dịch vụ phòng bệnh

Chỉ số hài lòng (TB ± ĐLC) 4,01 ± 0,4

Có 98,5% bệnh nhân hài lòng với khả năng 

tiếp  cận  dịch  vụ  phòng  bệnh  với  chỉ  số  hài 

lòng trung bình là 4,04 ± 0,3. Đối với việc cung 

cấp thông tin về dịch vụ phòng bệnh, tỷ lệ hài  lòng  lên  đến  99,2%  trong  đó  chỉ  số  hài  lòng  trung bình là 4,11 ± 0,4. Tương tự, mức độ hài  lòng với chi phí nằm viện cũng rất cao lên đến  99,2%. Mức độ hài lòng đối với điều kiện cơ sở  vật  chất  đạt  99,4%,  tuy  nhiên  có  4,9%  bệnh  nhân  không  hài  lòng  với  điều  kiện  cơ  sở  vật  chất. Vì vậy chỉ số hài lòng trung bình của yếu 

tố này chỉ đạt 3,95 ± 0,5. Tỷ lệ hài lòng chung  của dịch vụ phòng bệnh đạt 97,1% với 6,1% rất  hài  lòng.  Chỉ  số  hài  lòng  trung  bình  của  dịch 

vụ này là 4,01 ± 0,4. 

Bảng 4: Mức độ hài lòng đối với dịch vụ chăm sóc

(n = 412)

Tỷ lệ (%)

Mức độ hài lòng đối với khả năng tiếp cận dịch vụ

Chỉ số hài lòng (TB ± ĐLC) 4,11 ± 0,3 Mức độ hài lòng đối với việc cung cấp thông tin

Chỉ số hài lòng (TB ± ĐLC) 4,16 ± 0,4 Mức độ hài lòng đối với kỹ năng giao tiếp

Chỉ số hài lòng (TB ± ĐLC) 4,16 ± 0,4 Mức độ hài lòng đối với sự quan tâm

Mức độ hài lòng chung của dịch vụ chăm sóc

Chỉ số hài lòng (TB ± ĐLC) 4,12 ± 0,4

Khả  năng  tiếp  cận  và  cung  cấp  thông  tin  đối với dịch vụ chăm sóc bệnh nhân có mức độ  hài  lòng  cao  với  100%  hài  lòng  về  hai  khía  cạnh  này.  Mức  độ  hài  lòng  đối  với  kỹ  năng  giao  tiếp  của  điều  dưỡng/  y  tá  là  99,8%  và  99,6%.  Mức  độ  hài  lòng  đối  với  sự  quan  tâm  của điều dưỡng/ y tá đạt 99,6% nhưng cũng có  0,2% bệnh nhân không hài lòng và 0,2% không 

có  ý  kiến.  Chỉ  số  hài  lòng  trung  bình  của  yếu 

tố này đạt 4,14 ± 0,4. Tỷ lệ hài lòng chung đối  với  dịch  vụ  chăm  sóc  đạt  99,6%  và  chỉ  số  hài  lòng chung là 4,12 ± 0,4.  

Trang 5

Bảng 5: Mức độ hài lòng đối với dịch vụ khám và 

điều trị 

Mức độ hài lòng đối với khả năng tiếp cận dịch vụ

Chỉ số hài lòng (TB ± ĐLC) 4,15 ± 0,4

Mức độ hài lòng đối với việc cung cấp thông tin

Chỉ số hài lòng (TB ± ĐLC) 4,26 ± 0,5

Mức độ hài lòng đối với kỹ năng giao tiếp

Chỉ số hài lòng (TB ± ĐLC) 4,25 ± 0,4

Mức độ hài lòng đối với sự quan tâm

Chỉ số hài lòng (TB ± ĐLC) 4,21 ± 0,4

Mức độ hài lòng chung của dịch vụ chăm sóc

Chỉ số hài lòng (TB ± ĐLC) 4,19 ± 0,4

Mức  độ  hài  lòng  đối  với  khả  năng  tiếp  cận 

đạt 99,8% với chỉ số hài lòng trung bình là 4,15 ± 

0,4. Mức độ hài lòng đối việc cung cấp thông tin 

và  kỹ  năng  giao  tiếp  của  bác  sĩ  lên  đến  99,8%. 

Mức độ hài lòng đối với sự quan tâm của bác sĩ 

đạt 100%. Tỷ lệ hài lòng chung đối với dịch vụ 

khám và điều trị đạt 99,6%. Chỉ số hài lòng trung 

bình tính được là 4,19 ± 0,4. 

Bảng 6: Mức độ hài lòng đối với dịch vụ xét nghiệm 

Mức độ hài lòng đối với khả năng tiếp cận dịch vụ

Chỉ số hài lòng (TB ± ĐLC) 3,75 ± 0,5

Mức độ hài lòng đối với việc cung cấp thông tin

Chỉ số hài lòng (TB ± ĐLC) 3,98 ± 0,4

Mức độ hài lòng đối với kỹ năng giao tiếp

Chỉ số hài lòng (TB ± ĐLC) 4,05 ± 0,3

Mức độ hài lòng đối với cơ sở vật chất

Chỉ số hài lòng (TB ± ĐLC) 4,05 ± 0,3

Mức độ hài lòng chung của dịch vụ xét nghiệm

Chỉ số hài lòng (TB ± ĐLC) 4 ± 0,3

Mức  độ  hài  lòng  đối  với  khả  năng  tiếp  cận 

dịch  vụ  xét  nghiệm  chỉ  đạt  76,7%  trong  đó  có 

0,5% bệnh nhân không hài lòng với yếu tố này. 

Chỉ số hài lòng trung bình chỉ đạt 3,75 ± 0,5. Mức 

độ  hài  lòng  với  việc  cung  cấp  thông  tin  của  kỹ  thuật  viên  cũng  không  cao  chỉ  đạt  92,5%  với  0,2%  bệnh  nhân  không  hài  lòng  về  yếu  tố  này.  Chỉ số hài lòng trung bình chỉ đạt 3,98 ± 0,4. Các  yếu tố  còn  lại như kỹ  năng giao tiếp, điều  kiện 

cơ sở vật chất của khoa Xét nghiệm đều có tỷ lệ  nhỏ bệnh nhân không hài lòng (1,5% và 0,2%), vì  vậy chỉ số hài lòng trung bình của hai yếu tố này  đều đạt 4,05 ± 0,3. Tỷ lệ hài lòng chung đối với  dịch vụ xét nghiệm đạt 97,4%, tuy nhiên có 0,2%  bệnh nhân không hài lòng do đó chỉ số hài lòng  chung chỉ đạt 4 ± 0,3. 

Bảng 7: Mức độ hài lòng với dịch vụ phục hồi chức năng 

(n = 127)

Tỷ lệ (%)

Mức độ hài lòng đối với khả năng tiếp cận dịch vụ

Chỉ số hài lòng (TB ± ĐLC) 3,95 ± 0,4 Mức độ hài lòng đối với việc cung cấp thông tin

Chỉ số hài lòng (TB ± ĐLC) 4,3 ± 0,5 Mức độ hài lòng đối với kỹ năng giao tiếp

Chỉ số hài lòng (TB ± ĐLC) 4,26 ± 0,5 Mức độ hài lòng đối với sự quan tâm

Chỉ số hài lòng (TB ± ĐLC) 4,22 ± 0,4 Mức độ hài lòng đối với cơ sở vật chất

Chỉ số hài lòng (TB ± ĐLC) 3,9 ± 0,6 Mức độ hài lòng chung của dịch vụ phục hồi chức năng

Chỉ số hài lòng (TB ± ĐLC) 3,8 ± 0,5

Mức độ hài lòng đối với khả năng tiếp cận  dịch  vụ  và  điều  kiện  cơ  sở  vật  chất  tại  khoa  Phục hồi chức năng có chỉ số hài lòng thấp chỉ  đạt 3,95 ± 0,4 và 3,9 ± 0,6. Các yếu tố khác như  cung cấp thông tin, kỹ năng giao tiếp, sự quan  tâm của kỹ thuật viên có chỉ số hài lòng đạt 4,3 

± 0,5; 4,26 ± 0,5; 4,22 ± 0,4. Tỷ lệ hài lòng chung  đối với dịch vụ phục hồi chức năng đạt 80,3% 

và chỉ số hài lòng trung bình đạt 3,8 ± 0,5. 

Trang 6

Mối liên quan giữa các yếu tố khảo sát và sự 

hài lòng đối với các loại dịch vụ  

Bảng 8: Mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa sự 

hài lòng đối với dịch vụ chăm sóc bệnh nhân và các 

yếu tố khảo sát

Biến số

Mức độ hài lòng đối với dịch

vụ chăm sóc bệnh nhân (TB ± ĐLC)

p

Bảo hiểm y tế

0,02

**

Khoa nội trú

0,003

**

***Phép kiểm Wilcoxon‐Mann‐Whitney 

Giữa  sự  hài  lòng  đối  với  dịch  vụ  chăm  sóc 

bệnh nhân và tình trạng bảo hiểm y tế có mối liên 

quan có ý nghĩa thống kê (p = 0,02) trong đó bệnh 

nhân  có  bảo  hiểm  y  tế  có  chỉ  số  hài  lòng  trung 

bình cao hơn bệnh nhân không có bảo hiểm y tế. 

Giữa sự hài lòng đối với dịch vụ chăm sóc bệnh 

nhân và khoa nội trú có mối liên quan có ý nghĩa 

thống kê (p = 0,003) trong đó bệnh nhân nằm nội 

trú khoa Ngoại có chỉ số hài lòng trung bình cao 

hơn bệnh nhân nằm nội trú khoa Nội 

Bảng 9: Mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa sự 

hài lòng đối với dịch vụ khám và điều trị và các yếu tố  khảo sát 

Biến số dịch vụ khám và điều trị Mức độ hài lòng đối với

(TB ± ĐLC)

p

Khoa nội trú

0,02**

***Phép kiểm Wilcoxon‐Mann‐Whitney 

Giữa  sự  hài  lòng  đối  với  dịch  vụ  khám  và  điều trị và yếu tố bảo hiểm y tế có mối liên quan 

có  ý  nghĩa  thống  kê  (p  =  0,002)  trong  đó  bệnh  nhân  có  bảo  hiểm  y  tế  có  chỉ  số  hài  lòng  trung  bình cao hơn bệnh nhân không có bảo hiểm y tế.  Giữa sự hài lòng đối với dịch vụ khám và điều  trị  và  khoa nội trú  có mối  liên  quan  có ý nghĩa  thống  kê  (p  =  0,02)  trong  đó  bệnh  nhân  nằm  ở  khoa Ngoại có chỉ số hài lòng trung bình cao hơn  bệnh nhân nằm ở khoa Nội. 

Bảng 10: Ma trận mối tương quan giữa các yếu tố thành phần của sự hài lòng và sự hài lòng chung đối với các 

dịch vụ 

DV đăng ký nhập viện nội trú

DV phòng bệnh

DV xét nghiệm

DV phục hồi chức năng

DV chăm sóc bệnh nhân

DV khám và điều trị bệnh nhân

Sự hài lòng với khả năng tiếp

cận dịch vụ

0,51

< 0,001

0,34

< 0,001

0,1 0,05

0,38

< 0,001

0,67

< 0,001

0,77

< 0,001

Sự hài lòng với cung cấp

thông tin

0,37

< 0,001

0,28

< 0,001

0,39

< 0,001

0,42

< 0,001

0,59

< 0,001

0,62

< 0,001

Sự hài lòng về chi phí 0,27

< 0,001

0,38

< 0,001

Sự hài lòng về kỹ năng giao

tiếp

0,53

< 0,001

0,43

< 0,001

0,29 0,0011

0,74

< 0,001

0,70

< 0,001

Sự hài lòng về điều kiện cơ

sở vật chất

0,4

< 0,001

0,76

< 0,001

0,7

< 0,001

0,34 0,0005

0,0002

0,86

< 0,001

0,89

< 0,001

Hầu hết sự hài lòng các yếu tố thành phần 

đều có mối tương quan với sự hài lòng đối với 

các dịch vụ. 

BÀN LUẬN  Các  đặc  điểm  dân  số  xã  hội  học  của  mẫu  nghiên cứu 

Trong nghiên cứu này tổng cộng có 412 bệnh  nhân được đưa vào nghiên cứu từ tháng 7/2013‐

Trang 7

10/2013. Có 53,6% bệnh nhân được nhập viện tại 

khoa  Nội  và  46,4%  nhập  viện  tại  khoa  Ngoại. 

Thời  gian  nằm  viện  của  bệnh  nhân  chủ  yếu  từ 

15‐30  ngày  chiếm  đến  81,8%.  Kết  quả  này  phù 

hợp  với  thực  tế  tại  bệnh  viện  Y  học  Cổ  truyền 

Tây  Ninh  vì  hầu  hết  các  bệnh  nhân  đến  bệnh 

viện  đều  lớn  tuổi,  mắc  các  bệnh  mạn  tính  như 

viêm  khớp,  tim  mạch,  viêm  phổi…nên  có  thời 

gian nằm viện dài ngày.  

Một  yếu  tố  khá  quan  trọng  được  khảo  sát 

trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  là  việc  có  hay 

không  có  bảo  hiểm  y  tế.  Trong  nghiên  cứu  của 

chúng  tôi  tỷ  lệ  bệnh  nhân  có  bảo  hiểm  y  tế  lên 

đến  70,4%  và  chỉ  có  29,6%  không  có  thẻ  bảo 

hiểm y tế. Khi phân tích mối liên quan giữa bảo 

hiểm y tế và sự hài lòng các dịch vụ y tế tại bệnh 

viện Y học Cổ truyền Tây Ninh, chúng tôi nhận 

thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê chứng 

tỏ bảo hiểm y tế thật sự là yếu tố góp phần quan 

trọng đến sự hài lòng của bệnh nhân. 

Mức độ hài lòng với các loại dịch vụ 

Đối  với  dịch  vụ  đăng  ký  nhập  viện nội trú, 

bệnh  nhân  có  sự  hài  lòng  cao  với  các  yếu  tố 

thành phần. Điều này dẫn đến sự hài lòng chung 

đối với dịch vụ cũng khá cao với chỉ số hài lòng 

chung là 4,02 ± 0,3. Tuy nhiên đối với điều kiện 

cơ sở vật chất, một số bệnh nhân vẫn không hài 

lòng. Cụ thể, bệnh nhân cho rằng khu vực đăng 

ký  thiếu  chỗ  che  nắng  cho  bệnh  nhân.  Khi  có 

mưa, khu vực đợi đăng ký thường hay ngập úng 

dẫn  đến  bất  tiện  cho  bệnh  nhân.  Chính  những 

điều  này  làm  cho  chỉ  số  hài  lòng  đối  với  điều 

kiện cơ sở vật chất chỉ đạt 3,99 ± 0,4. Kết quả này 

cũng tương tự nhiều nghiên cứu khảo sát sự hài 

lòng của bệnh nhân tại các bệnh viện khác, trong 

đó điều kiện cơ sở vật chất cũng là vấn đề bệnh 

nhân phàn nàn nhất(1, 2, 7). 

Tương  tự  như  dịch  vụ  đăng  ký  nhập  viện  nội trú,  dịch  vụ  phòng  bệnh  cũng  có  chỉ số hài  lòng chung cao là 4,01 ± 0,4. Tuy nhiên điều kiện 

cơ  sở  vật  chất  cũng  là  yếu  tố  thành  phần  được  một số bệnh nhân không hài lòng. Một số bệnh  nhân  cho  rằng  phòng  vệ  sinh  của  buồng  bệnh  thường  bị  ngập  dẫn  đến  mất  vệ  sinh  cho  bệnh  nhân và thân nhân. Chính vì vậy, chỉ số hài lòng  đối với điều kiện cơ sở vật chất cũng chỉ đạt 3,95 

± 0,5 thấp hơn so với các yếu tố thành phần khác.  Dịch  vụ  chăm  sóc  bệnh  nhân  và  dịch  vụ  khám và điều trị là hai dịch vụ nhận được sự hài  lòng của bệnh nhân nhiều nhất (4,12 ± 0,4 và 4,19 

±  0,4).  Kết  quả  này  là  do  sự  hài  lòng  của  bệnh  nhân đối với các yếu tố thành phần bao gồm khả  năng  tiếp  cận,  cung  cấp  thông  tin,  kỹ  năng  giao  tiếp và sự quan tâm của điều dưỡng và bác sĩ đều  cao.  Một  số  nghiên  cứu  khác  cũng  cho  kết  quả  tương  tự  trong  đó  bệnh  nhân  đều  hài  lòng  với  điều dưỡng và bác sĩ nhiều hơn so với các nhân  viên y tế khác như lao công, hộ lý, bảo vệ(3,6).  Dịch  vụ  xét  nghiệm  mặc  dù  có  chỉ  số  hài  lòng  là  4  ±  0,3  nhưng  hai  yếu  tố  thành  phần  là  khả  năng  tiếp  cận  và  cung  cấp  thông  tin  đều  thấp so với các yếu tố còn lại (3,75 ± 0,5 và 3,98 ±  0,4). Một số bệnh nhân có ý kiến rằng thời gian  chờ đợi để làm xét nghiệm quá lâu khiến cho sự  hài lòng của họ giảm sút. Ngoài ra, các thông tin 

do  kỹ  thuật  viên  xét  nghiệm  còn  ít  do  đó  bệnh  nhân  chưa  nắm  rõ  được  mục  đích  của  các  xét  nghiệm mà bệnh nhân được chỉ định thực hiện.   Dịch  vụ  phục  hồi  chức  năng  có  chỉ  số  hài  lòng  chung  thấp  là  3,8  ±  0,5  và  hai  yếu  tố  khả  năng tiếp cận và điều kiện cơ sở vật chất cũng có  chỉ số hài lòng thấp là 3,95 ± 0,4 và 3,9 ± 0,6. Điều  này xuất phát từ thực tế là bệnh nhân phải chờ  đợi quá lâu để được tập luyện vật lý trị liệu. Bên  cạnh  đó  một  số  bệnh  nhân  cũng  phàn  nàn  về 

Trang 8

một số trang thiết bị tập luyện đã cũ kỹ gây khó 

khăn cho bệnh nhân trong quá trình tập luyện.  

Mối liên quan giữa các yếu tố khảo sát và sự 

hài lòng đối với các loại dịch vụ  

Khi xét mối liên quan giữa các đặc điểm của 

bệnh  nhân  và  các  loại  dịch  vụ,  chúng  tôi  nhận 

thấy chỉ có hai đặc điểm là bảo hiểm y tế và khoa 

nội trú có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với 

dịch vụ chăm sóc và dịch vụ khám điều trị (p < 

0,05). Những bệnh nhân có bảo hiểm y tế sẽ có 

khả  năng  hài  lòng  cao  hơn  so  với  những  bệnh 

nhân không có bảo hiểm y tế. Điều này cũng đã 

được  chứng  minh  qua  một  số  nghiên  cứu  với 

cách lý giải là do bệnh nhân bảo hiểm y tế phải 

trả  chi  phí  nằm  viện  ít  hơn  nên  hài  lòng  nhiều 

hơn, trong khi bệnh nhân không có bảo hiểm y 

tế phải chi trả nhiều hơn do đó yêu cầu cao hơn 

về chất lượng dịch vụ và điều này gián tiếp dẫn 

đến  giảm  sự  hài  lòng  nếu  chất  lượng  dịch  vụ 

không tốt(4, 5, 8). 

Những bệnh nhân nằm tại khoa Ngoại có sự 

hài  lòng  cao  hơn  so  với  bệnh  nhân  nằm  tại  các 

khoa Nội. Các nghiên cứu của các tác giả tại các 

bệnh viện khác cũng chứng minh được mối liên 

quan  này.  Có  thể  bệnh  nhân  nằm  tại  các  khoa 

Ngoại đòi hỏi một sự chăm sóc hậu phẫu kỹ càng 

do đó sự quan tâm của điều dưỡng và bác sĩ cũng 

cao hơn so với bệnh nhân nằm tại khoa Nội. 

KẾT LUẬN 

Tỷ  lệ  hài  lòng  của  bệnh  nhân  đối  với  6  loại 

dịch vụ tại bệnh viện đều cao (dịch vụ đăng ký 

nhập viện nội trú là 97,8%, dịch vụ phòng bệnh 

là 97,1%, dịch vụ chăm sóc bệnh nhân là 99,6%, 

dịch  vụ  khám  và  điều  trị  là  99,6%,  dịch  vụ  xét 

nghiệm là 97,4%, dịch vụ phục hồi chức năng là 

80,3%). Tuy nhiên bệnh nhân vẫn còn không hài 

lòng đối với một số yếu tố của từng loại dịch vụ, 

đặc biệt là điều kiện cơ sở vật chất và khả năng 

tiếp cận đối với dịch vụ. Nghiên cứu cũng chỉ ra  rằng bảo hiểm y tế và khoa điều trị đóng vai trò  quan  trọng  có  thể  ảnh  hưởng  đến  sự  hài  lòng  của bệnh nhân.  

KIẾN NGHỊ 

Ban  lãnh  đạo  bệnh  viện có  thể dựa trên  kết  quả  nghiên  cứu  này  để  đưa  ra  các  giải  pháp  thích hợp nhằm nâng cao sự hài lòng của bệnh  nhân. Cụ thể, bệnh viện cần sữa chữa hệ thống 

vệ sinh, hệ thống thoát nước tại các nhà vệ sinh  của  phòng  bệnh  nội  trú.  Đối  với  dịch  vụ  xét  nghiệm,  bệnh  viện  nên  rút  ngắn  thời  gian  chờ  đợi xuống 5‐15 phút; cung cấp các thông tin về  mục đích làm xét nghiệm và cách thức tiến hành  xét  nghiệm  cho  bệnh  nhân;  mua  sắm  mới  các  trang thiết  bị  ; tăng  cường  công  tác giữ  vệ sinh  chung tại khoa Xét nghiệm, tạo sự thông thoáng  trong  phòng  xét  nghiệm  và  giảm  tải  số  bệnh  nhân đến làm xét nghiệm tại khoa cùng một lúc.  Đối với dịch vụ phục hồi chức năng, bệnh viện  cần giảm thời gian chờ đợi tập vật lý trị liệu của  bệnh nhân xuống còn khoảng 5‐15 phút và trang 

bị thêm các dụng cụ tập vật lý trị liệu mới nhằm  đáp ứng nhu cầu tập cho bệnh nhân. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

lòng  của  người  bệnh  về  dịch  vụ  khám.  chữa  bệnh  tại  khoa  khám bệnh. bệnh viện đa khoa huyện Ninh Giang. tỉnh Hải  Dương năm 2012. Y học thực hành. 856: 5‐8. 

bệnh nội trú sử dụng bảo hiểm y tế tại khoa khám bệnh bệnh  viện Nguyễn Trãi Thành phố Hồ Chí Minh tháng 4 năm 2011.  Luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Y tế công cộng. Đại học Y  Dược Thành phố Hồ Chí Minh. Tr.78‐89. 

y  tế  khám  và  chữa  bệnh  tại  bệnh  viện  Bà  Rịa.  Luận  văn  chuyên Khoa I chuyên ngành Y tế công cộng. Đại học Y Dược  Thành phố Hồ Chí Minh. Tr. 45‐67. 

nhân  tại  các  bệnh  viện  Thành  phố  Hồ  Chí  Minh  năm  1997.  Luận văn thạc sĩ y học. Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí  Minh. Tr. 67‐89. 

Minh (2010). Khảo sát sự hài lòng của thân nhân bệnh nhi tại 

Trang 9

khoa Nội Tổng Hợp Bv Nhi Đồng 2 năm 2010. Đề tài cấp cơ 

sở. Bệnh viện Nhi Đồng 2. Tr. 78‐89. 

người nhà người bệnh điều trị nội trú tại bệnh viện Vạn Ninh 

năm 2011. Đề tài cấp cơ sở. Bệnh viện Vạn Ninh. Khánh Hoà. 

Tr. 5‐10. 

hài lòng của khách hàng sử dụng dịch vụ y tế tại bệnh viện 

Việt Nam ‐ Cu Ba Đồng Hới‐Quảng Bình. Tạp chí khoa học. 

Đại học Huế. 72B. (3): 75‐84. 

của người bệnh tại 3 bệnh viện tỉnh Long An năm 2005. Y học 

Tp. Hồ Chí Minh. 10 (4) 12‐16. 

 

Ngày nhận bài báo:       24/5/2014  Ngày phản biện nhận xét bài báo:   17/6/2014  Ngày bài báo được đăng:     14/11/2014   

 

Ngày đăng: 23/01/2020, 04:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm