Nghiên cứu nhằm đánh giá mức độ kiểm soát hen theo ACT (Asthma Control Test) của bệnh nhân ở câu lạc bộ hen phế quản. Nghiên cứu cắt ngang mô tả được tiến hành với 30 bệnh nhân của câu lạc bộ hen bệnh viện Đại học Y Hà Nội.Thời gian nghiên cứu từ tháng 11/2014 đến tháng 1/2015.
Trang 1ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ KIỂM SOÁT HEN BẰNG ACT ĐỐI VỚI BỆNH NHÂN CÂU LẠC BỘ HEN
BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Bùi Thị Hương 1 , Bùi Văn Dân 1 , Hoàng Thị Lâm 2
1 Bệnh viện Đại học Y Hà Nội; 2 Trường Đại học Y Hà Nội Nghiên cứu nhằm đánh giá mức độ kiểm soát hen theo ACT (Asthma Control Test) của bệnh nhân ở câu lạc bộ hen phế quản Nghiên cứu cắt ngang mô tả được tiến hành với 30 bệnh nhân của câu lạc bộ hen bệnh viện Đại học Y Hà Nội.Thời gian nghiên cứu từ tháng 11/2014 đến tháng 1/2015 Các bệnh nhân tham gia được phỏng vấn theo bộ câu hỏi có sẵn và được tự đánh giá mức độ kiểm soát bệnh bằng ACT Đo chức năng hô hấp được thực hiện khi có chỉ định của bác sĩ Điểm trung bình của nhóm kiểm soát bệnh tốt
là 21,92 và nhóm không kiểm soát được bệnh là 13,46 (p < 0,01) 56,67% bệnh nhân của câu lạc bộ kiểm soát tốt bệnh hen của mình Nhóm bệnh nhân không có viêm mũi dị ứng kiểm soát cơn hen tốt hơn so với nhóm có viêm mũi dị ứng, p < 0,05) ACT test có giá trị dự đoán tương đối chỉ số FEV1 của bệnh nhân hen (p < 0,05) ACT là test đơn giản có giá trị cao trong đánh giá kiểm soát hen phế quản
Từ khóa: ACT, hen phế quản, câu lạc bộ bệnh nhân hen
Địa chỉ liên hệ: Hoàng Thị Lâm, Bộ môn Dị ứng - Miễn
dịch Lâm sàng, Trường Đại học Y Hà Nội
Email: hoangthilam@yahoo.com
Ngày nhận: 24/9/2015
Ngày được chấp thuận: 26/02/2016
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Hen phế quản là bệnh mạn tính thường
gặp ở mọi lứa tuổi Theo Tổ chức Y tế thế giới
(WHO), ước tính có khoảng 300 triệu người
trên thế giới hiện nay đang mắc hen, dự đoán
con số này sẽ tăng lên 400 triệu người vào
năm 2025 [1] Tỷ lệ hen phế quản ở nội thành
và ngoại thành Hà nội là 5,6% và 3,9%, hen
phế quản liên quan chặt chẽ với viêm mũi dị
ứng [2; 3] Hiện nay, chi phí cho điều trị bệnh
hen phế quản bằng cả 2 bệnh lao và HIV/
AIDS cộng lại Thiệt hại do hen phế quản
không chỉ bao gồm các chi phí trực tiếp cho
điều trị mà còn do giảm khả năng lao động,
giảm hoạt động thể lực, tăng số ngày nghỉ
học, nghỉ việc Khi không được kiểm soát, hen
phế quản có thể trở nên nặng hơn, ảnh
hưởng lớn tới sức khỏe cũng như chất lượng
cuộc sống hằng ngày của bệnh nhân, hậu quả
có thể dẫn đến tử vong Hen trở thành một gánh nặng không chỉ cho bệnh nhân, gia đình
mà cho cả toàn xã hội Do vậy, việc kiểm soát hen phế quản là một yếu tố then chốt trong quản lý điều trị những người bệnh hen Việc điều trị hen không phải hướng tới điều trị khỏi
mà là kiểm soát bệnh tốt Mặc dù hen phế quản hoàn toàn có thể kiểm soát được nhưng mới chỉ có 5% số bệnh nhân đạt được các tiêu chí kiểm soát bệnh của GINA (2004) [4] Nước ta chỉ có 39,7% người trưởng thành đạt được kiểm soát hen Kiểm soát hen là một hoạt động quan trọng đối với bệnh nhân hen phế quản, có thể đánh giá việc kiểm soát hen bằng nhiều phương pháp khác nhau, trong đó ACT (Asthma Control Test) là một bảng câu hỏi đơn giản, dễ áp dụng và hiệu quả, không cần sử dụng thông số chức năng hô hấp, được áp dụng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới Năm 2012, tiến hành nghiên cứu tại thành phố Hồ Chí Minh cho biết ACT test có ý nghĩa trong việc đánh giá mức độ kiểm soát hen phế quản của bệnh nhân điều trị ngoại trú
Trang 2[5] Một số nghiên cứu khác cho biết, ACT test
phù hợp với mức độ tăng đáp ứng phế quản
của bệnh nhân, đồng thời ACT test cũng phù
hợp với xét nghiệm đánh giá chức năng thông
khí phổi [6; 7; 8]
Ở Việt Nam, theo chúng tôi nhận thấy các
đề tài đánh giá về mức độ kiểm soát hen chưa
được áp dụng rộng Vì vậy, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu này với mục tiêu sau: Đánh
giá mức độ kiểm soát theo ACT của bệnh
nhân tham gia câu lạc bộ hen phế quản bệnh
viện Đại học Y Hà Nội
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
1 Đối tượng
Gồm các bệnh nhân > 12 tuổi được chẩn
đoán hen phế quản theo tiêu chuẩn GINA
2011, tham gia câu lạc bộ hen phế quản tại
bệnh viện Đại học Y Hà Nội, từ đầu tháng
11/2014 đến hết tháng 1/ 2015
2 Phương pháp
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, cỡ mẫu
thuận tiện gồm 30 bệnh nhân đang tham gia
câu lạc bộ hen bệnh viện Đại học Y Hà Nội
Công cụ nghiên cứu
Bộ câu hỏi phỏng vấn theo phiếu điều tra
có 5 câu hỏi trong bảng ACT (Asthma Control
Test)
Cách tiến hành nghiên cứu
Phỏng vấn trực tiếp theo bộ câu hỏi thiết
kế sẵn Người bệnh tự chấm điểm kiểm soát
hen theo các câu hỏi của test ACT có sẵn
Các biến số nghiên cứu
Một số đặc điểm dịch tễ, thông tin của đối
tượng: tuổi, giới, công việc hiện tại, mùa xuất
hiện cơn hen nhiều nhất Về tiền sử dị ứng cá
nhân và tiền sử dị ứng gia đình Các thuốc
bệnh nhân đang dùng Cận lâm sàng: đo CNHH
3 Phương pháp xử lý số liệu
Nhập và quản lý số liệu bằng phần mềm quản lý số liệu EPIDATA, xử lý, phân tích số liệu bằng phần mềm thống kê STATA 11, với các thuật toán: Tính các thống kê mô tả của biến định tính: tần số, tỷ lệ phần trăm Tính các thống kê mô tả của biến định lượng: tính trị số trung bình, độ lệch chuẩn, lớn nhất, nhỏ nhất p < 0,05 được coi là có ý nghĩa thống kê
4 Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu được sự đồng ý của Bộ môn
Dị ứng - Miễn dịch lâm sàng Trường Đại học
Y Hà Nội, của Bệnh viện đại học Y Hà Nội, của câu lạc bộ hen phế quản và các phòng ban có liên quan Nghiên cứu được tiến hành dựa trên sự hợp tác, tự nguyện của đối tượng nghiên cứu Các thông tin của đối tượng nghiên cứu được bảo mật hoàn toàn
III KẾT QUẢ
1 Điểm trung bình kiểm soát hen theo từng mức kiểm soát
Theo bảng 1, khi so sánh với điểm kiểm soát hoàn toàn là 25 điểm thì điểm trung bình ACT của nhóm bệnh nhân đạt được kiểm soát hen tốt và nhóm không được kiểm soát lần lượt là 21,92 và 13,46 Sự khác biệt này là có
ý nghĩa thống kê (p < 0,05) (bảng 1)
Biểu đồ 1 cho thấy: theo kết quả đánh giá của test ACT thì có 13,34% (n = 4) số người trong câu lạc bộ đạt được kiểm soát hen hoàn toàn và có 43,33% (n = 13) số người có kiểm soát hen tốt Tổng cộng có 56,67% số người bệnh đạt được kiểm soát hen, và còn 43,33% (n = 13) số người bệnh chưa đạt được kiểm soát hen
Trang 3Bảng 1 Điểm trung bình ACT theo từng mức kiểm soát
p < 0,05
2 Kết quả kiểm soát hen theo ACT
13,34%
43,33%
Kiểm soát tốt Chưa kiểm soát được
Biểu đồ 1 Mức độ kiểm soát hen theo ACT Bảng 2 Kết quả kiểm soát hen theo ACT và tự đánh giá của người bệnh
Không kiểm soát Kiểm soát tốt Kiểm soát hoàn toàn
Theo bảng 2 có 26,67% bệnh nhân cho rằng mình được kiểm soát hen hoàn toàn trong khi tỷ
lệ này theo ACT chỉ có 13,33% Tỷ lệ bệnh nhân không được kiểm soát hen ở nhóm tự đánh giá
và nhóm theo ACT đều bằng nhau với tỷ lệ 43,33%
3 Mối liên quan giữa viêm mũi dị ứng và mức độ kiểm soát hen phế quản
Bảng 3 Mối liên quan giữa viêm mũi dị ứng và mức độ kiểm soát hen phế quản
Mức kiểm soát
Nhóm có viêm mũi dị ứng
(n = 22)
Nhóm không viêm mũi dị ứng
(n = 8)
Trang 4Kết quả bảng 3 cho thấy, có 50% người bệnh trong nhóm bị viêm mũi dị ứng không được kiểm soát hen, trong khi tỷ lệ này ở nhóm không viêm mũi dị ứng chỉ có 25%
4 Mối liên quan giữa % FEV1 và ACT
Bảng 4 Điểm số ACT ở các nhóm bệnh nhân có mức % FEV1 khác nhau
ACT 40 - 60% (n = 1) 60 - 80% (n = 8) > 80% (n = 8) Tổng (n = 17)
Điểm ACT trung bình 11 21,25 ± 3,15 20,63 ± 3,25 20,35 ± 3,86
F = 4,61; p = 0,0289 (ANOVA test)
% FEV1
Trong nghiên cứu của chúng tôi giá trị của FEV1 ở thời điểm làm test ACT dao động từ 48,1% đến 101,5%; giá trị trung bình là 80,88 ± 13,80%
Theo kết quả ở bảng 4, nhóm bệnh nhân có giá trị của FEV1 > 80% có số điểm ACT trung bình là 20,63; nhóm bệnh nhân có giá trị FEV1 dao động từ 60% đến 80% có số điểm ACT trung bình cao nhất là 21,25; cả 2 nhóm này đều có tỷ lệ bệnh nhân bằng nhau Nhóm còn lại có giá trị FEV1 thấp nhất thì cũng có số điểm ACT trung bình là thấp nhất bằng 11 Sự khác biệt về số điểm trung bình của ACT ở 3 nhóm giá trị của FEV1 là có ý nghĩa thống kê, p < 0,05
IV BÀN LUẬN
Trong nghiên cứu này, khi sử dụng bộ câu
hỏi ACT với điểm cắt 20 để đánh giá kiểm
soát hen, chúng tôi phát hiện 56,67% bệnh
nhân đạt được kiểm soát hen Trong đó có
13,34% người bệnh đạt được kiểm soát hoàn
toàn (ACT = 25) và 43,33% người bệnh đạt
được kiểm soát tốt Kết quả này khá phù hợp
với nghiên cứu ARIAP 2 được tiến hành năm
2006 với tỷ lệ bệnh nhân kiểm soát được hen
theo bộ câu hỏi ACT là 56,4% [9] Nghiên cứu
điều tra 14.262 người dân ≥ 16 tuổi tại 7 vùng
miền sinh thái trong cả nước cho kết quả tỷ lệ
bệnh nhân trưởng thành đạt được kiểm soát
hen khi đánh giá bằng ACT là 39,7% [10] Cho
thấy tỷ lệ kiểm soát hen theo nghiên cứu của
chúng tôi là cao hơn với 56,67%, sự khác biệt
có ý nghĩa thống kê Hiệu quả kiểm soát hen
ở nhóm người bệnh tham gia Câu lạc bộ hen,
là những người được giáo dục sức khoẻ, có
nhiều hiểu biết hơn về bệnh hen, cũng như
được điều trị dự phòng tốt hơn các bệnh nhân
ở cộng đồng (76,67%) bệnh nhân ở câu lạc
bộ Hen được điều trị dự phòng bởi các thuốc phối hợp ICS/LABA)
Theo bảng 2 chúng ta thấy tỷ lệ người bệnh tự đánh giá đạt được kiểm soát hen hoàn toàn là 26,67% Trong khi tỷ lệ này khi kiểm tra theo ACT chỉ có 13,33% Có 43,33% bệnh nhân không được kiểm soát hen theo ACT nhưng chỉ 10% bệnh nhân nghĩ rằng bệnh hen của mình không được kiểm soát chút nào Theo một nghiên cứu khác, tác giả cho thấy có 53% bệnh nhân trong số 893 người tham gia nghiên cứu chưa được kiểm soát hen nhưng chỉ 3% người bệnh nghĩ rằng bệnh hen của mình chưa được kiểm soát [7] Điều này cho thấy người bệnh thường có khuynh hướng đánh giá cao mức kiểm soát tình trạng hen của mình Chứng tỏ ACT khách quan hơn trong việc đánh giá kiểm soát hen ở người bệnh Như vậy, nên tiến hành đánh giá
Trang 5mức độ kiểm soát bằng ACT thường xuyên
cho bệnh nhân hen, đặc biệt là những nơi
không có điều kiện đo chức năng hô hấp
Tuy nhiên, theo nghiên cứu của chúng tôi,
nếu xét tổng tỷ lệ đạt được kiểm soát hen
(gồm kiểm soát hoàn toàn và kiểm soát tốt),
thì kết quả người bệnh tự đánh giá hay đánh
giá theo ACT đều bằng nhau với 56,67%
được kiểm soát Điều này có thể do người
bệnh tham gia vào câu lạc bộ Hen đã được
giáo dục về cách quản lý, kiểm soát hen nên
họ có mức đánh giá chính xác hơn về bệnh
của mình
Kết quả của chúng tôi cho thấy tỷ lệ không
được kiểm soát hen ở nhóm bệnh nhân có
kèm viêm mũi dị ứng (50%) cao hơn rất nhiều
so với nhóm không có viêm mũi dị ứng (25%)
Trong một nghiên cứu khác khi đánh giá mức
kiểm soát ở những người bệnh hen theo các
tiêu chuẩn của GINA cho kết quả 29,7%
không được kiểm soát ở nhóm người bệnh có
hen kèm viêm mũi dị ứng và 22,8% không
được kiểm soát ở nhóm không có viêm mũi dị
ứng [8] Kết quả này khá phù hợp với kết quả
của chúng tôi Điều này cho thấy rằng sự có
mặt của viêm mũi dị ứng làm giảm khả năng
kiểm soát hen của người bệnh Với sự có
mặt của viêm mũi dị ứng trong một tỷ lệ rất
lớn (73,33%) người bệnh hen như đã trình
bày ở phần trước, càng thấy rõ vai trò cần
thiết phải chẩn đoán và điều trị sớm viêm mũi
dị ứng ở bệnh nhân hen phế quản nhằm
giảm mức độ nặng của hen, nâng cao mức
kiểm soát cũng như chất lượng cuộc sống
của bệnh nhân hen Tuy nhiên, theo nghiên
cứu của chúng tôi, ở nhóm kèm viêm mũi dị
ứng tỷ lệ kiểm soát hoàn toàn (18,2%) cao
hơn nhóm không có viêm mũi dị ứng (0%) Lý
do có thể vì chúng tôi khai thác viêm mũi dị
ứng trong tiền sử, bệnh sử của người bệnh
nên có thể hiện tại các bệnh nhân này đang ở
giai đoạn ổn định của bệnh nên không có các biểu hiện của viêm mũi, vì vậy không có ảnh hưởng đến mức kiểm soát hen
Có sự khác biệt về điểm trung bình ACT ở các nhóm có % FEV1 khác nhau là có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 Điểm ACT ở nhóm có giá trị FEV1< 60% là thấp nhất với 11 điểm Khi xét ở 2 nhóm còn lại thì điểm ACT ở nhóm
có giá trị FEV1 dao động từ 60% đến 80% (ACT = 21,25) lại cao hơn nhóm có giá trị FEV1 > 80% (ACT = 20,63) Tại Việt Nam, sự tương quan được xác định trong nghiên cứu của Nguyễn Như Vinh (r = 0,35; p < 0,001) [7] Như vậy, ACT có giá trị khá cao trong dự đoán %FEV1 Do đó,theo chúng tôi, ở các
cơ sở y tế có phương tiện kỹ thuật nên khuyến khích bệnh nhân đo chức năng hô hấp nếu có điều kiện song song với việc tiến hành đánh giá kiểm soát bằng ACT để có thể đánh giá chính xác nhất mức kiểm soát của người bệnh
V KẾT LUẬN
Có 56,67% người bệnh đạt kiểm soát hen theo ACT (13,34% người bệnh đạt mức kiểm soát hen hoàn toàn, 43,33% người bệnh đạt kiểm soát hen tốt) Có 43,33% người bệnh không được kiểm soát hen theo ACT Không
có tương quan giữa ACT và %FEV1
Lời cám ơn
Nhóm nghiên cứu xin chân thành cảm ơn
sự tham gia của các bệnh nhân câu lạc bộ hen phế quản bệnh viện Đại học Y Hà nội
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Loftus P.A., Wise S.K (2015).
Epidemiology and economic burden of
asthma Int Forum Allergy Rhinol 5 (1), 7-10.
2 Lâm H.T., Ronmark E., Tuong N.V et
al (2011) Increase in asthma and a high
Trang 6prevalence of bronchitis: results from a
population study among adults in urban and
rural Vietnam Respir Med, 105 (2), 177 - 185.
3 Lâm H.T., Tuong N.V., Ekerljung L et
al (2011) Allergic rhinitis in northern vietnam:
increased risk of urban living according to a
large population survey. Clinical and
Translational Allergy, 1, 7
4 Reddel H.K., Bateman E.D., Becker A
(2015) A summary of the new GINA strategy:
a roadmap to asthmacontrol Eur Respir J, 46
(3), 622 - 639.
5 Nguyen V.N., Chavannes N., Le L.T et
al (2014) The Asthma Control Test (ACT) as
an alternative tool to Global Initiative
for Asthma (GINA) guideline criteria for
assessing asthma control in Vietnamese
outpatients Prim Care Respir J, 21(1), 85 - 89.
6 Grzelewska - Rzymowska., I.F., Mikolajczyk
J., Kroczyńska - Bednarek J et al (2015).
Association between asthma control test,
pul-monary function tests and non-specific
bron-chial hyperresponsiveness in assessing the
level of asthma control Pneumonol Alergol
Pol, 83(4), 266 - 274.
7 Waibel V., Ulmer H., Horak E (2012).
Assessing asthma control: symptom scores, GINA levels of asthma control, lung function,
and exhaled nitric oxide Pediatr Pulmonol, 47 (2), 113 - 118.
8 Thomas M., Kay S., Pike J et al (2009).
The Asthma Control Test (ACT) as a predictor
of GINA guideline-defined asthma control: analysis of a multinational cross-sectional
survey Primary Care Respiratory Journal, 18
(1), 41 – 49.
9 Xin X., Feng-ming D., Jiang-tao L et al (2009) Validity of asthma control test for
asthma control assessment in Chinese primary
care settings CHEST, 135(4), 904 - 910.
10 Trần Thị Thuý Hạnh, Nguyễn Văn Đoàn (2012) Một số đặc điểm dịch tễ học của
hen phế quản ở người trưởng thành Việt
Nam Tạp chí Y học Lâm sàng, 65, 46 - 50.
Summary ACT (ASTHMA CONTROL TEST) FOR ASSESSING ASTHMA CONTROL FOR PATIENTS AT HANOI MEDICAL UNIVERSITY
HOSPITAL ASTHMA CLUB
The purpose of our study was to assess the asthma control by ACT for patients at Hanoi Medi-cal University Hospital Asthma Group The cross sectional study was conducted with 30 patients
at the asthma group The study was carried out from 11/2014 to 1/2015 Questionnaire survey and ACT was undergone by patient themselfves Spirometry was done as needed The medium point of ACT for control group was 21.92 vesus 13.46 among uncontrol group, p < 0.001 Among patients of the asthma group, 56.67% had asthma control The asthma patients without allergic rhinitis had asthma control more common than asthma patients with allergic rhinitis, p < 0.05 ACT had a predicted value for FEV1 (p < 0.05) In conclusion, ACT was a simple test that had a predicted value for assessing asthma control
Key words: Asthma, ACT, Asthma group