1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá tình trạng hút thuốc lá thụ động ở bệnh nhân nữ

8 109 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 238 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu nhằm đánh giá tình trạng hút thuốc lá thụ động ở bệnh nhân nữ. Đề tài nghiên cứu được tiến hành từ 6/2006 đến 6/2008, có 138 bệnh nhân nữ hít khói thuốc lá thụ động, tuổi trung bình là 48,3 (2-77 tuổi).

Trang 1

ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG HÚT THUỐC LÁ THỤ ĐỘNG

Ở BỆNH NHÂN NỮ

Ngô Thanh Bình*, Quang Văn Trí*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá tình trạng hút thuốc lá thụ động ở bệnh nhân nữ

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang phân tích

Kết quả: Từ 6/2006 đến 6/2008, có 138 bệnh nhân nữ hít khói thuốc lá thụ động Tuổi trung bình là 48,3

(22 – 77 tuổi) Có 84,06% trường hợp từ 35 tuổi trở lên và 87,68% đã lập gia đình Có 44,2% trường hợp hít phải khói thuốc lá thụ động tại nhà, 22,47% tại nơi làm việc và 33,33% tại cả hai nơi Hít phải khói thuốc lá thụ động cả ở nhà và nơi làm việc thì nguy cơ mắc bệnh lý phổi cao gấp 1,63 lần so với tại một nơi (p = 0,037) Bệnh nhân nữ có người thân sống cùng gia đình hút thuốc lá ≥ 10 gói/năm (74,64%) thì nguy cơ mắc bệnh lý phổi cao gấp 2,47 lần nhiều hơn so với nhóm khác (p = 0,014) Biểu hiện lâm sàng thường gặp là khó thở nhẹ (88,41%), ho khan (71,01%), khạc đàm (35,51%), đau ngực (34,06%), đau họng (31,88%), khó ngủ (59,42%) và lo âu, mệt mỏi, hay quên (65,94%) Trên X-quang phổi chủ yếu là hình ảnh mô kẽ phổi (68,12%), khí phế thũng (11,6%), hình khối u (2,17%) Đồng thời, 75,75% có chức năng hô hấp bình thường hoặc hội chứng hạn chế mức độ nhẹ Mặt khác, 126 trường hợp (91,3%) hít khói thuốc lá thụ động có biểu hiện bệnh lý phổi, trong đó, thường gặp nhất là viêm phế quản (58,7%), viêm họng (21,01%); kế đến là 11 trường hợp hen phế quản, 5 xơ phổi và 3 ung thư phổi Ngoài ra, 65,94% trường hợp có biểu hiện rối loạn trạng thái tâm thần

Kết luận: Trong nghiên cứu của chúng tôi, bệnh nhân nữ hít phải khói thuốc lá thụ động dễ mắc nhiều bệnh

lý, thường gặp là bệnh lý hô hấp và biểu hiện rối loạn trạng thái tâm thần

ABSTRACT

EVALUATION OF SECOND-HAND SMOKE ON WOMEN PATIENTS

Ngo Thanh Binh, Quang Van Tri

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 12 - Supplement of No 4 - 2008: 140 - 145

Objective: to evaluate passive smoking on women patients

Method: analytical cross-sectional study

Result: From 6/2006 to 6/2008, there were 138 cases of second-hand smoke on women patients The average

age was 48.3 (range, 22 – 77) 84.06% among them were over 35 years old and 87.68% were got married There were 44.2% cases of involuntary smoking at home, 22.47% at workplaces and 33.33% at both Passive smoking at home and at workplaces was 1.63 times higher than at one (p = 0.037) Group of women patients whose relatives have smoked ≥ 10 pack/year (74.64%) was easy to suffer from lung diseases 2.47 times higher than another (p = 0.014) Clinical symptoms were often mild breathless (88.41%), cough (71.01%), sputum productive (35.51%), chest tight (34.06%), sore throat (31.88%), trouble in sleep (59.42%) and anxious, exhausted, forgetful (65.94%)

On the chest X-rays, there were mainly interstial lession (68.12%), emphysema (11.6%), tumor (2.17%) Simultaneously, 75.75% cases had normal lung function or mild limitation syndrome Besides, 126 cases (91.3%)

of passive smoking were respiratory diseases, including bronchitis (58.7%), pharyngitis (21.01%), next to 11 cases of asthma, 5 lung fibrosis and 3 lung cancer On the other hand, there was 65.94% cases of mental disorders

Conclusion: in our study, passive smoking women patients were easy to get many diseases but the most

* Bộ Môn Lao và Bệnh phổi – Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Trang 2

common was respiratory diseases and mental disorders

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), hàng

ngày trên thế giới có khoảng 250 triệu phụ nữ và

gần 1 tỷ nam giới hút thuốc lá, tức là tỉ lệ hút

thuốc lá ở nam giới nhiều gấp hơn 4 lần so với

nữ giới (48% so với 12%), và đặc biệt, tỉ lệ hút

thuốc lá ở nữ giới ngày càng gia tăng, dự báo có

thể tăng lên đến 20% vào năm 2025(1,5,8,9,11,13,15,19) Ở

Việt nam, theo điều tra năm 1997, tỉ lệ hút thuốc

lá ở nam giới là 50% và nữ giới là 3,4%(4) Khói

thuốc lá chứa nhiều chất độc hại (khoảng 4.000

chất) và là yếu tố thuận lợi gây nên nhiều bệnh

lý nguy hiểm cho bản thân người phụ nữ như

ung thư (thường gặp nhất là ung thư phổi), bệnh

lý hô hấp (viêm phế quản mãn tính, hen phế

quản,…), bệnh lý tim mạch, bất thường về sức

khỏe sinh sản và tình trạng rối loạn tâm

thần…(2,4-7,10,12,14,18,19) Số tỉ lệ tử vong ở phụ nữ hít

phải khói thuốc lá ngày càng gia tăng; chẳng

hạn, ở Châu Âu, con số tử vong này là 10.000

vào năm 1955 tăng lên 113.000 vào năm 1995(9);

và ở trên toàn thế giới vào năm 2000, khoảng

990.000 phụ nữ tử vong do các bệnh lý liên quan

đến hút thuốc lá(11,13,21)

Hút thuốc lá thụ động ở phụ nữ và những

tác hại của nó đã được nghiên cứu và ghi nhận ở

một số nước trên thế giới bởi các tổ chức y tế,

chính phủ và các nhà khoa học(28,10,12,14-22) Hút

thuốc lá thụ động có thể xảy ra tại nơi sinh sống,

nơi làm việc, và nơi công cộng Theo Tổ chức

Lao động quốc tế, ước đoán ít nhất 200.000

người tử vong mỗi năm do tiếp xúc với khói

thuốc lá tại nơi làm việc(13,19) Theo Cơ quan Bảo

vệ môi trường Hoa Kỳ, cho rằng hút thuốc lá thụ

động chịu trách nhiệm về 3.000 trường hợp tử

vong do ung thư phổi hàng năm trong số những

người không hút thuốc lá tại Mỹ(1,22) Theo một

nghiên cứu về tác hại của hít khói thuốc lá thụ

động, vào năm 2002, ở Châu Âu có khoảng 7.000

trường hợp tử vong có liên quan do hít khói

thuốc lá thụ động tại nơi làm việc và 72.000

trường hợp tử vong có liên quan do hít khói

thuốc lá thụ động tại nhà(9,15,17,18) Ở Việt nam,

chưa có một nghiên cứu rõ ràng về vấn đề này

Do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu nhằm đánh giá tình trạng hút thuốc lá thụ động và những tác hại do thuốc lá gây ra ở bệnh nhân

nữ

Mục tiêu nghiên cứu

Mô tả đặc điểm về dịch tễ học và các yếu tố thuận lợi ở các bệnh nhân nữ hít khói thuốc lá thụ động

Phân tích đặc điểm lâm sàng, X-quang phổi

và kết quả chức năng hô hấp Xác định một số dạng bệnh lý xảy ra có liên quan đến hít khói thuốc lá thụ động

Mối liên quan giữa một số các yếu tố thuận lợi với bệnh lý phổi ở bệnh nhân nữ

ĐỐI TƯỢNG -PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang phân tích

Đối tượng nghiên cứu

Tất cả bệnh nhân nữ từ 18 tuổi trở lên có hít phải khói thuốc lá thụ động đến khám và được điều trị tại Phòng khám Phổi, Bệnh viện Đại học

Y Dược từ 06/2006 đến 06/2008

* Tiêu chuẩn loại trừ: bệnh nhân nam; bệnh nhân nữ hút thuốc lá chủ động; bệnh nhân đang mắc lao hoặc suy thận cấp, suy gan cấp, rối loạn đông máu…

Phương pháp nghiên cứu:

Bệnh nhân được khai thác về hành chính, tiền căn, bệnh sử bao gồm các biến số cần phải thu thập như: tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn, nơi cư trú, tiền căn dị ứng, tiền căn gia đình, tiền căn điều trị lao, tiền căn bệnh lý khác, môi trường làm việc

Bệnh nhân được khám lâm sàng và thực hiện một số xét nghiệm cận lâm sàng giúp chẩn đoán bệnh, trong đó, có chụp X-quang phổi và

đo chức năng hô hấp (nếu có chỉ định)

Thu thập dữ liệu vào mẫu bệnh án chung; ghi nhận tất cả các biến số và xử lý phân tích thống kê bằng phần mềm STATA phiên bản 8.0

Trang 3

Các biến số định tính sẽ được biểu diễn theo tần

suất, tỉ lệ phần trăm và kiểm định theo phép

kiểm γ2 Các biến số định lượng sẽ được biểu

diễn theo trung bình, độ lệch chuẩn và kiểm

định theo phép kiểm Fisher Giá trị P < 0,05 và

các mối liên quan được tính bằng trị số nguy cơ

tương đối RR (relative risk) không chứa 1 được

xem là có ý nghĩa thống kê với khoảng tin cậy

95% (95% Confident Interval)

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Trong thời từ 06/2006 đến 06/2008, có 138

bệnh nhân nữ có hít khói thuốc lá thụ động đến

khám và điều trị tại Phòng khám Phổi, Bệnh

viện Đại học Y Dược Trong đó: trường hợp lớn

tuổi nhất: 77 tuổi; nhỏ tuổi nhất: 22 tuổi; và tuổi

trung bình: 48,3

Đặc điểm dịch tễ học

Bảng 1: Đặc điểm dịch tễ học và các yếu tố nguy cơ

Đặ c đ i ể m

d ị ch t ễ h ọ c

S ố tr ườ ng

h ợ p (%)

Phân b ố l ứ a

tu ổ i

Làm trong quán bar,

N ơ i c ư trú

Trình độ h ọ c

v ấ n

Ti ề n c ă n b ệ nh

Ti ề n c ă n b ệ nh

lý n ộ i khoa

Phân b ố v ị trí

n ữ th ườ ng

Đặ c đ i ể m

d ị ch t ễ h ọ c

S ố tr ườ ng

h ợ p (%)

thu ố c lá c ủ a

c ủ a b ệ nh

Đặc điểm lâm sàng, X-quang phổi và chức năng hô hấp

Bảng 2: Đặc điểm lâm sàng X-quang phổi và chức

năng hô hấp

Đặ c đ i ể m S ố tr ườ ng

h ợ p (%)

Lâm sàng

X-quang

ph ổ i

hô h ấ p:

(n=66)

Các dạng bệnh lý xảy ra trong nhóm nghiên cứu

Bảng 3: Các dạng bệnh lý xảy ra trong nhóm nghiên

cứu

S ố tr ườ ng h ợ p (%)

Trang 4

Bảng 4: Tỉ lệ mắc bệnh lý phổi ở bệnh nhân nữ có hít

khói thuốc lá thụ động

B ệ nh lý ph ổ i S ố tr ườ ng h ợ p (%)

Mối liên quan của một số yếu tố thuận lợi

gây bệnh lý phổi xảy ra ở bệnh nhân nữ có

hít khói thuốc lá thụ động

Bảng 5: Mối liên quan của một số yếu tố thuận lợi

gây bệnh lý phổi ở bệnh nhân nữ có hít khói thuốc lá

thụ động

B ệ nh lý ph ổ i

Đặ c đ i ể m

Có Không

RR 95%CI P

S ố v ị trí mà b ệ nh

thu ố c lá

1,63 1,12-3,49 0,037

<10

thu ố c lá c ủ a ng ườ i

≥ 10

2,47 1,74-5,26 0,014

BÀN LUẬN

Về đặc điểm dịch tễ học, trong thời từ 06/2006

đến 06/2008, chúng tôi chỉ ghi nhận được có 138

bệnh nhân nữ có hít phải khói thuốc lá thụ động

đến khám và điều trị tại Phòng khám Phổi, Bệnh

viện Đại học Y Dược Phần lớn bệnh nhân nữ hít

phải khói thuốc lá có lứa tuổi từ 35 tuổi trở lên

(116 trường hợp, chiếm 84,06%) với tuổi trung

bình là 48,3; trong đó tập trung nhiều nhất là từ

45 – 54 tuổi Điều này cũng phù hợp với các

nghiên cứu khác trên thế giới Trong khi ở bệnh

nhân nữ hút thuốc lá chủ động là thường tập

trung dưới 35 tuổi, nhưng nhiều nhất là lứa tuổi

18–25 tuổi(2,5,7,10,11,14,15,17-21) Ngoài ra, đa số trường

hợp có trình độ phổ thông cơ sở (cấp II) trở lên

(113 trường hợp, chiếm 81,88%) và sống ở thành

thị nhiều hơn ở nông thôn (66,67% so với

33,33%) Có 121 trường hợp (87,68%) bệnh nhân

nữ đã lập gia đình và chỉ có 12,32% trường hợp

chưa lập gia đình, chủ yếu là các bệnh nhân nữ

còn trẻ dưới 35 tuổi Trong y văn, các nghiên cứu

khảo sát về tác hại của khói thuốc lá tại Hoa kỳ

cũng ghi nhận, đa số bệnh nhân nữ hút thuốc lá

thụ động là những người có gia đình và đều có

trình độ học vấn (chiếm trên 80%)(10,11,20) Về tiền

căn bệnh lý, có 34 trường hợp lao phổi cũ

(24,64%); 11 trường hợp đái tháo đường týp 2 (xảy ra chủ yếu ở bệnh nhân trên 50 tuổi, vẫn đang được tiếp tục theo dõi và điều trị bằng thuốc hạ đường huyết); 4 trường hợp đang mắc các bệnh lý tim mạch (2 tăng huyết áp, 1 hở van tim và 1 rối loạn nhịp); 3 trường hợp viêm gan mạn và 1 trường hợp hội chứng thận hư

Mặt khác, 131 trường hợp (94,93%) có người thân sống trong cùng gia đình bệnh nhân là có hút thuốc lá Trong đó, 103 trường hợp (74,64%) hút thuốc lá từ 10 gói/năm trở lên Phần lớn bệnh nhân nữ (107 trường hợp, chiếm 77,54%) hít phải khói thuốc lá thụ động đều sống trong gia đình

có ít nhất chồng hoặc cha hoặc anh em trai nghiện hút thuốc lá và thường xuyên hút thuốc

lá trong nhà Theo một nghiên cứu ở Hà Lan (1996), có đến 79% trường hợp phụ nữ hít phải khói thuốc lá tại nhà Ngoài ra, số bệnh nhân nữ hít phải khói thuốc lá thụ động tại nơi làm việc

là 77 trường hợp (55,8%)(13,17) Tỉ lệ này trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với nghiên cứu tại Anh (1998) về tình trạng hút thuốc lá thụ động tại nơi làm việc là 27%(5) Đặc biệt là ở các nơi có chứa nhiều khói thuốc lá nhiều nhất như quán bar, vũ trường, cà phê máy lạnh Đồng thời, chúng tôi cũng ghi nhận 33,33% trường hợp bệnh nhân nữ hít phải khói thuốc lá thụ động tại hai nơi (tại nhà và tại nơi làm việc) Theo nhiều nghiên cứu hiện nay tình trạng hít phải thuốc lá thụ động của phụ nữ tại ít nhất hai nơi (tại nhà và tại nơi làm việc) đang xảy ra ngày càng tăng ở các nước đang phát triển (1,2,8-11,13-15,17-19)

Về đặc điểm lâm sàng, X-quang phổi và chức năng hô hấp, đa số trường hợp bệnh nhân có biểu

hiện triệu chứng khó thở nhẹ (88,41%), chủ yếu xảy ra khi gắng sức hoặc về đêm Kế đến là ho khan (71,01%), khạc đàm (35,51%) và đau ngực (34,06%) Một số trường hợp có biểu hiện sốt ớn lạnh (25,36%), đau họng (31,88%) và họng viêm

đỏ (21,01%) Ngoài ra, chúng tôi cũng ghi nhận các biểu hiện bất thường về trạng thái tâm thần như 59,42% trường hợp khó ngủ và 65,94% thường lo âu, mệt mỏi hoặc hay quên Các biểu

Trang 5

hiện triệu chứng xảy ra ở các bệnh nhân nữ hút

thuốc lá thụ động cũng được ghi nhận tương tự

như trong các nghiên cứu khác(2,4-6,10,12,14-18,22) Tiến

hành phân tích các tổn thương trên X-quang

phổi, có 23 trường hợp (16,67%) X-quang phổi

bình thường Tỉ lệ này thấp hơn so với các

nghiên cứu khác, ghi nhận khoảng 20 – 30%

trường hợp bệnh nhân nữ hút thuốc lá thụ động

không phát hiện có tổn thương trên X-quang

phổi Ở các bệnh nhân có tổn thương trên

X-quang phổi, gặp nhiều nhất là hình ảnh mô kẽ

phổi (68,12%), kế đến là khí phế thũng (11,6%)

Ngoài ra, có một số hình ảnh di chứng của lao cũ

như xơ sẹo do lao phổi cũ (24,64%), hoặc dày

màng phổi (7,97%) Chúng tôi cũng ghi nhận có

16 trường hợp (11,6%) thâm nhiễm và 3 trường

hợp (2,17%) có hình khối u Về kết quả của 66

trường hợp được đo chức năng hô hấp, đa số

(75,75%) có chức năng hô hấp bình thường hoặc

có hội chứng hạn chế mức độ nhẹ Còn lại một

số ít trường hợp khác có biểu hiện hội chứng tắc

nghẽn (10,61%) hoặc hội chứng hỗn hợp

(13,64%) Điều này cũng được ghi nhận tương tự

như trong y văn(2,4-6,10,12,14-18,22)

Về biểu hiện bệnh lý phổi và liên quan của

một số yếu tố liên quan gây bệnh lý phổi xảy ra

ở bệnh nhân nữ có hít khói thuốc lá thụ động,

Trong nhóm nghiên cứu, có 126 trường hợp

(91,3%) hít khói thuốc lá thụ động có biểu hiện

bệnh lý phổi và 12 trường hợp không có biểu

hiện bệnh lý phổi (đây là các bệnh nhân chỉ có

biểu hiện của viêm họng mạn đơn thuần) Các

biểu hiện bệnh lý có thể xảy ra riêng lẽ hoặc phối

hợp nhưng dạng bệnh lý do hít phải khói thuốc

thường gặp nhất là viêm phế quản (cấp và mạn)

(58,7%), kế đến là hen phế quản (7,97%) Đồng

thời, ở những bệnh nhân này rất dễ xuất hiện các

đợt cấp tính khi có yếu tố thuận lợi như nhiễm

trùng, thay đổi thời tiết, bụi, ô nhiễm không

khí… Có 5 trường hợp xơ phổi và 3 trường hợp

ung thư phổi (được xác định qua giải phẫu

bệnh) đều xảy ra ở bệnh nhân trên 65 tuổi Trong

đó, cả 3 trường hợp ung thư phổi đã tử vong (1

trường hợp không điều trị tử vong sau 2 tháng

và 2 trường hợp được hóa trị và xạ trị đã tử vong sau 6 đến 9 tháng) Theo nghiên cứu ở Mỹ, Châu

Âu và Úc, cũng ghi nhận các bệnh lý hô hấp thường xảy ra ở bệnh nhân nữ hít phải khói thuốc lá thụ động là viêm phế quản mãn, khí phế thũng, hen phế quản, xơ phổi ung thư phổi,

và viêm vùng hầu họng(2,10,14-18,21,22) Theo nhiều nghiên cứu tại Mỹ đã cho thấy rằng tử vong gây

ra do ung thư phổi và ung thư vú có liên đến yếu tố hít khói thuốc lá thụ động ở những bệnh nhân nữ sống trong môi trường nhiều khói thuốc lá(19-22) Ngoài ra, trong nghiên cứu của chúng tôi có 65,94% trường hợp có biểu hiện rối loạn trạng thái tâm thần (lo âu, mệt mỏi, hay quên…) Điều này cũng được ghi nhận trong nhiều nghiên cứu khác(2,4,6,10,14,17,18,22) Đồng thời, những bệnh nhân nữ thường xuyên hít phải khói thuốc lá thụ động tại hai nơi (ở nhà và nơi làm việc) thì nguy cơ mắc bệnh lý phổi cao gấp 1,63 lần so với tại một nơi Sự khác biệt này là có

ý nghĩa thống kê với p = 0,037 Mặt khác, những bệnh nhân nữ có người thân sống cùng gia đình hút thuốc lá ≥ 10 gói/năm thì nguy cơ mắc bệnh

lý phổi cao gấp 2,47 lần nhiều hơn so với những phụ nữ có người thân sống cùng gia đình hút thuốc lá < 10 gói/năm và sự khác biệt này cũng

có ý nghĩa thống kê với p = 0,014

KẾT LUẬN

Nghiên cứu của chúng tôi đã cho thấy được tác hại của hít phải khói thuốc lá thụ động gây ra nhiều bệnh lý, đặc biệt các bệnh lý hô hấp và biểu hiện rối loạn trạng thái tâm thần, cũng như một số yếu tố thuận lợi có liên quan làm tăng nguy cơ mắc bệnh lý phổi cho những phụ nữ sống và làm việc trong môi trường nhiều khói thuốc lá Hít phải khói thuốc lá ở phụ nữ không chỉ đe dọa đến sức khỏe tinh thần lẫn thể chất

mà còn ảnh hưởng đáng kể đến đời sống kinh tế

và xã hội của họ nữa

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 American College of Occupational and Environmental Medicine (2000) Epidemiological Basis for an Occupational and Environmental Policy on Tobacco Smoke – Position Statement July 30, 2000

Trang 6

2 Australian National Health and Medical Research Council

(1997) Health effects of passive smoking Canberra

3 Bello, N., & Mosca, L (2004), “Epidemiology of coronary heart

disease in women”, Progress in Cardiovascular Diseases, (46),

pp.287-95

4 Bộ Y tế (2008), “Tác hại của thuốc lá”, Chương trình phòng

chống tác hại thuốc lá quốc gia, sẳn có trên mạng

http://vinacosh.gov.vn/?mPage=11N80K01T119, cập nhật

10/2008

5 British Medical Association (2004) Smoking and reproductive

life: The impact of smoking on sexual, reproductive and child

health London, UK: BMA Publications Unit; 2004 Available

http://www.bma.org.uk/ap.nsf/Content/smokingreproductive

life/$file/smoking.pdf

6 Breslau N., Novak S.P., & Kessler R.C (2004), “Psychiatric

disorders and stages of smoking”, Biological Psychiatry (55),

pp 69-76

7 Burns D.M.(2003), “Epidemiology of smoking-induced

cardiovascular disease”, Progress in Cardiovascular Diseases,

(46), pp.11-29

8 Centre for Health Promotion Studies in the National

University of Ireland (2003), “Irish Women and Tobacco:

Knowledge, Attitudes and Beliefs”, Research Report on

Tobacco Use in Ireland, Reported in August 2003

9 European Network of Smoking Prevention (2000)

Smoke-Free Workplaces: Improving the Health and Well-being of

People at Work European Status Report Brussels

10 Giovino G.A (2000), “Surveillance of patterns and

consequences of tobacco use: USA” Tobacco Control (9),

pp.232-3

11 Giovino G.A (2002), “Epidemiology of tobacco use in the

United States”, Oncogene, (21), pp.7326-40.

12 Hymowitz N (1987), “Community and clinical trials of

disease prevention: Effects on cigarette smoking”, Public

Health Reviews (15), pp.45-81

13 Joy de Beyer and Linda Waverley Brigden (2003), “Tobacco

Control Policy Strategies, Successes, and Setbacks”, A

copublication of the World Bank and Research for

International Tobacco Control (RITC)

14 National Health and Medical Research Council (1986),

“Effects of passive smoking on health” Canberra: Australian

Government Publishing Service

15 Office of Tobacco Control, Ireland and Health and Safety

Authority (2004) Report on the Health Effects of

Environmental Tobacco Smoke (ETS) in the Workplace

Kildare

16 Patel JD, Bach PB, Kris MG (2004), “Lung cancer in U.S

women, a contemporary epidemic” Journal of the American

Medical Association, (291), pp.1763-8

17 Sara Sanchez, (2005), “ Second-hand Smoke and Women in

Europe”, International Network of Women against Tobacco –

Europe, Report from an Expert Seminar, March 30-31, 2005

18 Sasco A & Dubois G (1997), “Passive smoking The health

impact A European report” Europe Against Cancer

Program Commission of the European Community

19 State of California Air Resources Board (2006), “Proposed

Identification of Environmental Tobacco Smoke as a Toxic Air

http://www.arb.ca.gov/regact/ets2006/ets2006.htm

20 U.S Department of Health and Human Services (2001),

“Women and Smoking: A Report of the Surgeon General” Rockville: MD: U.S Department of Health and Human Services, Public Health Service, Office of the Surgeon General

21 U.S Department of Health and Human Services, (2004),

“Women, Tobacco, and Cancer: An Agenda for the 21st Century”, National Institutes of Health and National Cancer Institute, July 2004

22 U.S Environmental Protection Agency (1992), “Respiratory effects of passive smoking: lung cancer and other disorders”, Washington DC: Office of Research and Development

23 U.S Surgeon General – US Dept of Health and Human Services, Washington, DC (1986) “The Health Consequences

of Involuntary Smoking”, A Report of the Surgeon General Atlanta

Ngày đăng: 23/01/2020, 03:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w