1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trị viêm loét dạ dày tá tràng tại khoa nội tiêu hóa Bệnh viện Nguyễn Tri Phương

7 197 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 435,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài này được tiến hành nhằm nghiên cứu khảo sát 400 hồ sơ bệnh án có sử dụng thuốc trị viêm loét dạ day tá tràng tại khoa Nội tiêu hóa bệnh viện Nguyễn Tri Phương từ tháng 2/2010 đến 5/2010 nhằm xem việc sử dụng có an toàn hiệu quả.

Trang 1

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC TRỊ VIÊM LOÉT DẠ DÀY-TÁ TRÀNG TẠI KHOA NỘI TIÊU HÓA BỆNH VIỆN NGUYỄN TRI PHƯƠNG

Trần Mai Quỳnh Chi*, Nguyễn Thị Cẩm Tú**, Nguyễn Hữu Đức*

TÓM TẮT

Mở đầu: Sử dụng thuốc, trong đó có thuốc trị viêm loét dạ dày- tá tràng (DDTT) an toàn hợp lý đang là

mối quan tâm hàng đầu của các nhà điều trị tại các bệnh viện Khoa Nội tiêu hóa Bệnh viện Nguyễn Tri Phương (BVNTP) đã xây dựng phác đồ chuẩn để điều trị viêm loét DDTT, đặc biệt là phác đồ tiệt trừ Helicobacter pylori (Hp) được cập nhật từ tài liệu nước ngoài Vấn đề sử dụng thuốc tại đây rất cần khảo sát và đóng góp từ giới chuyên môn, trong đó có dược sĩ lâm sàng, nhằm đạt hiệu quả và an toàn

Mục tiêu: Nghiên cứu khảo sát 400 hồ sơ bệnh án có sử dụng thuốc trị viêm loét DDTT tại khoa Nội tiêu

hóa BVNTP từ tháng 2/2010 đến 5/2010 nhằm xem việc sử dụng có an toàn hiệu quả

Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu mô tả cắt ngang các hồ sơ bệnh án có sử dụng thuốc trị viêm loét

DDTT tại khoa Nội tiêu hóa BVNTP Phỏng vấn các bác sĩ và điều dưỡng tại Khoa Nội tiêu hóa, các dược sĩ tại Khoa Dược để biết rõ vì sao lại có thực trạng sử dụng thuốc như khảo sát

Kết quả: Việc kê đơn chỉ định thuốc nhìn chung là hợp lý, theo đúng phác đồ của bệnh viện và phù hợp với

khuynh hướng dùng thuốc của các nước tiên tiến, đưa đến hiệu quả điều trị khá tốt (97,75% bệnh nhân sau thời gian nằm viện đều đỡ giảm hoặc khỏi) Với các trường hợp bị viêm loét DDTT nhiễm Hp lần đầu, phác đồ chuẩn

3 thuốc được dùng Có 3 trường hợp dùng phác đồ 4 thuốc có bismuth Không có trường hợp nào phải dùng phác đồ mới là phác đồ “liên tiếp” hoặc “cứu vãn”

Kết luận: Nghiên cứu cho thấy việc sử dụng thuốc trị viêm loét DDTT tại bệnh viện là hợp lý và an toàn,

đặc biệt, có một số yếu tố phù hợp với điều kiện kinh tế cho người bệnh

Từ khóa: Viêm loét dạ dày-tá tràng, Helicobacter pylori, phác đồ tiệt trừ Hp

ABSTRACT

EVALUATION OF DRUG USE FOR TREATING PEPTIC ULCER DISEASE

IN INTERNAL GASTROENTEROLOGY DEPARTMENT OF NGUYEN TRI PHUONG HOSPITAL

Tran Mai Quynh Chi, Nguyen Thi Cam Tu, Nguyen Huu Duc

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 1 – 2011: 229 - 235

Background: Rational use of drugs, especially treating peptic ulcer disease (PUD) is major concern of

hospital staff Internal gastroenterology department of Nguyen Tri Phuong (NTP) hospital has set up guidelines for treating PUD, especially guideline for eradication of Helicobacter pylori (Hp) It is necessary to review the drug use in the department and collect comments from health professionals, especially that from clinical pharmacists to optimise the policy of drug use

Objectives: The study was conducted on reviewing of 400 cases of drug use for treating PUD in internal

gastroenterology department of NTP hospital from February 2010 to May 2009 to see the appropriateness of drug use

∗Khoa Dược - Đại học Y Dược TPHCM ∗∗Bệnh viện Nguyễn Tri Phương

Trang 2

Methods: A cross-sectional methodology was applied to review prescriptions utilising to treat PUD

Interviews of medical and pharmacy staff in the department were conducted regarding prescription and dispensing the drugs

Results: Description the drugs for treating PUD was rational and conformed to hospital guidelines which

had been updated, leading to the treatment were relatively effective Almost the cases of Hp-positive patients were treated with first- line therapy initiated with a PPI-based three-drug regimen There were 3 cases using bismuth-based four-drug regimen No cases of using “sequalae regimen” or “salvage regimen” were reported

Conclusion: Reviewing from the study revealed that the drug use for treating PUD in

internalgastroenterology department of NTP hospital was relatively rational and safety

Keywords: Peptic ulcer disease, Helicobacter pylori, Hp eradication regimens

ĐẶT VẤN ĐỀ

Viêm loét dạ dày tá tràng (DDTT) là bệnh rất

phổ biến trên thế giới Đối với loét DDTT, ở Mỹ

bệnh chiếm 10% dân số Ở các nước châu Âu:

loét tá tràng 8%, loét dạ dày 2% Ở Việt Nam,

riêng miền Bắc, bệnh viêm loét DDTT chiếm

5-7% dân số(4)

Năm 1983, Marshall và Warren phát hiện

một loại vi khuẩn hiện diện ở niêm mạc dạ

dày(3), trước đặt tên Campylobacter pylori sau đặt

tên là Helicobacter pylori (Hp) Người ta đã xác

lập mối liên hệ giữa vi khuẩn này với bệnh viêm

loét DDTT, với cả ung thư dạ dày và đặt vấn đề

tiệt trừ Hp như liệu pháp quan trọng trong điều

trị viêm loét

Khoa Nội tiêu hóa Bệnh viện Nguyễn Tri

Phương (BVNTP) là khoa chuyên điều trị các

bệnh liên quan đến DDTT trong đó có viêm loét

DDTT Hiện nay tại khoa đã có các phác đồ

chuẩn để điều trị các bệnh này, đặc biệt là phác

đồ tiệt trừ Hp mới(2) được cập nhật từ tài liệu

nước ngoài(1) Tuy nhiên, vấn đề chỉ định và sử

dụng thuốc đạt hiệu quả và an toàn vẫn còn

phải khảo sát bàn luận, đặc biệt cần có sự đóng

góp từ giới chuyên môn, trong đó có dược sĩ

lâm sàng

Chúng tôi đã thực hiện đề tài này với mục

tiêu: Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trị viêm

loét DDTT tại khoa Nội tiêu hóa BVNTP và có

nhận xét, đánh giá nhằm giúp cho việc sử dụng

thuốc an toàn hợp lý tại bệnh viện

ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

Các hồ sơ bệnh án (HSBA) có chỉ định thuốc trị viêm loét DDTT được lưu trữ tại BVNTP từ tháng 2/2010 đến tháng 5/2010

2

) 2 / 1

d

P P

Z

N: cỡ mẫu cần cho nghiên cứu; P = 0,5: tỷ lệ ước tính cho mẫu lớn nhất; d = 0,05: sai số tự ước định; Z (1−α/2) = 1,96: độ tin cậy ở mức xác suất 0,95

Để đạt độ tin cậy số lượng mẫu HSBA cần phải thu thập là 384

Trong đề tài này, chúng tôi đã khảo sát 400 mẫu HSBA có sử dụng thuốc trị viêm loét DDTT được lưu trữ tại BVNTP từ 2/2010 đến 5/2010

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp hồi cứu

Hồi cứu các hồ sơ bệnh án có sử dụng thuốc trị viêm loét DDTT tại khoa Nội tiêu hóa BVNTP

từ tháng 2/2010 đến 5/2010

Phương pháp phỏng vấn

Phỏng vấn các bác sĩ và điều dưỡng tại Khoa Nội tiêu hóa, các dược sĩ tại khoa Dược bằng hình thức phỏng vấn trực tiếp không sử dụng bảng câu hỏi để biết rõ vì sao lại có thực trạng sử dụng thuốc như khảo sát

Phân tích so sánh và đánh giá

Từ các số liệu, việc chỉ định thuốc điều trị viêm loét DDTT đã khảo sát, so sánh chỉ định với phác đồ điều trị của bệnh viện, phác đồ điều

Trang 3

trị mới của một số nước tiên tiến Đánh giá việc

sử dụng thuốc

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Đặc điểm bệnh nhân

Tuổi

Tỷ lệ bệnh nhân cao nhất ở độ tuổi từ 18-55

(77%), tức đa số bệnh nhân trong độ tuổi lao

động Bệnh nhân nhỏ tuổi nhất là 16 tuổi, lớn

tuổi nhất là 88 tuổi

Giới tính

Nữ chiếm 56,75% (trong đó có 5 bệnh nhân

nữ mang thai chiếm 2,2%), nam chiếm 43,25%

Như vậy, số bệnh nhân nữ cao hơn nam, gấp

khoảng 1,3 lần

Bệnh được chẩn đoán

Bệnh viêm loét và liên quan DDTT

Bệnh nhân bị viêm dạ dày chiếm tỷ lệ cao

nhất (74,75%), tiếp theo là loét dạ dày (9,5%),

viêm tá tràng (5,75%), loét tá tràng (3,25%) Có

27 bệnh án bị bệnh liên quan đến DDTT nhưng

không phải viêm loét, gồm có: rối loạn tiêu hóa

giống loét, trào ngược dạ dày-thực quản

(GERD), bệnh Mallory – Weiss, ung thư dạ dày

Các bệnh khác kèm theo không liên quan

DDTD

Có 69/400 trường hợp bệnh nhân còn bị các

bệnh khác như: cao huyết áp (4%), đái tháo

đường (2,25%), viêm đường hô hấp trên (1,75%),

nhiễm trùng tiểu (1,5%)…

Chẩn đoán viêm loét DDTD và xét nghiệm

Hp

Trong 400 HSBA được chẩn đoán ban đầu là

mắc bệnh lý về DDTT, có 308 trường hợp được

ra y lệnh (chỉ định) nội soi và làm xét nghiệm

Clo-test, 92 trường hợp còn lại không được chỉ

định nội soi bao gồm: bệnh nhân chống chỉ định

với nội soi (phụ nữ có thai, bệnh nhân tim mạch,

người cao tuổi,…) hoặc những bệnh nhân đã nội

soi tại cơ sở y tế khác trong vòng 2 tuần, bệnh

nhân tái phát và nhập viện

Trong số 308 bệnh nhân được chỉ định nội soi và làm Clo-test, sự tuân thủ của bệnh nhân

có khác nhau:

- 265 bệnh nhân tuân thủ nội soi và Clo-test

chiếm 86%

- 43 bệnh nhân không tuân thủ nội soi và không Clo-test chiếm 14%, vì nhiều lý do: do tâm

lý sợ nội soi, do không đủ khả năng trả chi phí…

Tỷ lệ nhiễm Hp theo tình trạng viêm loét ở

DD hoặc TT

Trong số 265 bệnh nhân được nội soi và thử Clo-test, tỷ lệ nhiễm Hp theo tình trạng viêm loét ở dạ dày hoặc tá tràng được trình bày trong bảng 1

Bảng 1 Tỷ lệ nhiễm Hp theo vị trí viêm loét (VL)

Hp (+) Hp (-) Tổng Tỷ lệ %

nhiễm Hp

Kết quả cho thấy bệnh nhân bị viêm loét TT nhiễm Hp chiếm tỷ lệ 19,4%, viêm loét DD nhiễm Hp chiếm 5,2%, còn không viêm loét thì không bị nhiễm (0%) Tỷ lệ nhiễm Hp ở bệnh nhân đã được xác định bị viêm loét như thế là quá thấp trong khi nhiều nghiên cứu cứu trước đây cho thấy tỷ lệ nhiễm Hp ở viêm loét TT khoảng 90%, viêm loét DD khoảng 70%(4) Nguyên nhân có thể do: bệnh nhân đã sử dụng thuốc, đặc biệt là kháng sinh trước đó, do âm tính giả,… So sánh giữa 2 nhóm bệnh nhân mắc bệnh DD và TT, ta thấy tỷ lệ nhiễm Hp ở nhóm bệnh nhân bị bệnh lý TT cao hơn nhóm bệnh nhân bị bệnh lý DD (p =0,0024<α =0,05) Đặc biệt, ở bệnh nhân không bị viêm loét thì không

bị nhiễm Hp

Phác đồ điều trị Hp tại Khoa Nội tiêu hóa BVNTP

Khoa Nội tiêu hóa BVNTP đã xây dựng phác đồ tiệt trừ Hp và cập nhật thường xuyên theo các tài liệu mới của nước ngoài, đặc biệt cập nhật phác đồ “liên tiếp” (sequalae regimen) và

“cứu vãn” (salvage regimen) (xem bảng 2)

Trang 4

Bảng 2 Phác đồ điều trị Hp tại Khoa Nội tiêu hóa BVNTP (2,1)

Phác đồ Liều lượng Chỉ định

3 thuốc

Điều trị được lựa chọn đầu tiên Dùng trong 14 ngày

4 thuốc

Điều trị ban đầu cho bệnh nhân dị ứng với penicillin hoặc liệu pháp với 3 thuốc

thất bại

“Liên tiếp”

Khi liệu pháp với 3 thuốc thất bại

“Cứu vãn”

Khi liệu pháp với 3 thuốc thất bại

Khảo sát việc sử dụng thuốc trị viêm loét

DDTT

Tỷ lệ sử dụng các nhóm thuốc trị viêm loét

DDTT (xem bảng 3)

Bảng 3 Tỷ lệ các nhóm thuốc dùng trị viêm loét

DDTT

Số HSBA Tỷ lệ %

An thần - chống co thắt 278/400 69,50

Nhóm PPI được chỉ định nhiều nhất với tỷ

lệ 93%, tiếp đến là nhóm kháng acid 88,75%,

nhóm an thần – chống co thắt 69,5%, nhóm bảo

vệ niêm mạc 4,25%, nhóm kháng thụ thể H2 ít

nhất 2%

Các thuốc sử dụng trong nhóm PPI

Qua khảo sát, PPI là nhóm được chỉ định

nhiều nhất (93%) vì thuộc phác đồ chuẩn tiệt

trừ Hp, bao gồm 3 loại thuốc: omeprazol,

pantoprazol, esomeprazol Omeprazol là thuốc

được sử dụng nhiều hơn hết với tỷ lệ 46,5% do

là thuốc tương đối rẻ tiền được lựa chọn ban

đầu, kế tiếp là pantoprazol (43,8%) và cuối

cùng, esomeprazol là thuốc có giá thành cao

hơn các thuốc cùng nhóm nên được dùng khá ít

với sự thoả thuận của người bệnh (9,7%) Cả 3

loại thuốc đều có dạng tiêm chích được dùng khi cần

Các thuốc sử dụng trong nhóm kháng acid

Nhóm kháng acid được chỉ định tương đối nhiều chiếm 88.75% vì đây là thuốc hỗ trợ hiệu quả trong phác đồ điều trị viêm loét DDTT, gồm các biệt dược như: Varogel, Simelox, Stomafar, Maloxid Đặc biệt, gần đây khoa Nội tiêu hóa bệnh viện thường sử dụng Simelox là thuốc sản xuất trong nước giá rẻ thay thế thuốc ngoại nhập

Các thuốc sử dụng trong nhóm an thần – chống co thắt

Đây là nhóm thuốc cũng được sử dụng nhiều (69,5%) nhằm hỗ trợ điều trị đau, lo âu, mất ngủ, gồm có: Buscopan, Diazepam, Pym– hyospan, No-spa, Pyme–nospa, Meteospamyl…

Các thuốc sử dụng trong nhóm bảo vệ niêm mạc

Nhóm bảo vệ niêm mạc chỉ được dùng khi cần (4,25%), gồm có sucralfat và bismuth Sucralfat được dùng khi bệnh nhân nữ có thai, khi ngăn ngừa loét tiến triển Có 3 trường hợp bismuth được dùng trong phác đồ trị Hp 4 thuốc

Các thuốc sử dụng trong nhóm kháng thụ thể

H 2

Nhóm kháng thụ thể H2 được sử dụng rất ít

Trang 5

(2%) gồm 2 loại thuốc là ranitidin và famotidin

(ranitidin được sử dụng nhiều hơn một ít so với

famotidin) Đây là thuốc được các bác sĩ cân

nhắc dùng thay thế PPI trong trường hợp bệnh

nhân nữ mang thai

Phối hợp thuốc

Trong 400 trường hợp sử dụng thuốc trị

viêm loét DDTT, đa số các trường hợp là dùng

thuốc phối hợp (86%) Đơn trị chiếm tỷ lệ thấp

(14%), trong đó chủ yếu chỉ dùng PPI trị rối loạn

tiêu hóa giống loét

- Phối hợp thuốc không có kháng sinh: Phối hợp

được chỉ định nhiều nhất là phối hợp giữa 2

thuốc PPI và kháng acid (88,75%) dùng trị bệnh

về DDTT không nhiễm Hp

- Phối hợp thuốc có kháng sinh: Được dùng

trong trường hợp được phát hiện nhiễm Hp với

phác đồ 3 thuốc chính gồm: amoxicillin,

clarithromycin, omeprazol (hoặc PPI khác với

liều tương ứng) Hoặc trong một số ít trường

hợp 3 thuốc kết hợp thêm bismiuth Ngoài ra, có

chỉ định thêm các nhóm thuốc hỗ trợ như thuốc

kháng acid, chống co thắt, thuốc an thần… Như

vậy, để tiệt trừ Hp phải sử dụng từ 3 thuốc trở

lên Qua khảo sát chúng tôi chưa thấy sử dụng

phác đồ mới như phác đố “liên tiếp” hoặc “cứu

vãn” để điều trị Hp kháng thuốc

Đường sử dụng thuốc

Chúng tôi ghi nhận nhóm thuốc PPI thường

được thay đổi đường sử dụng Trong các bệnh

nhân được chỉ định PPI, sự thay đổi đường sử

dụng của PPI được ghi nhận như sau:

- Bệnh nhân nhập viện trong tình trạng

nặng hoặc không sử dụng được đường uống

nên được cho dùng PPI đường tiêm ngay từ

đầu, sau đó cải thiện được chuyển từ dạng tiêm

sang dạng uống (54,6%); một số không cải thiện

hoặc bác sĩ thấy vẫn cần thiết nên vẫn tiếp tục sử

dụng dạng tiêm (23,9%)

- Bệnh nhân nhập viện không nặng và có

thể uống được chỉ định PPI dạng uống (15,9%),

sau đó bệnh trở nặng nên phải chuyển sang

đường tiêm (5,6%)

Như vậy, việc thay đổi đường dùng của PPI

là hợp lý, chủ yếu căn cứ vào tình trạng bệnh nhân lúc nhập viện, khả năng uống và diễn tiến của bệnh để việc điều trị có hiệu quả

Thời gian sử dụng thuốc

Chúng tôi chỉ ghi nhận thời gian sử dụng thuốc trị viêm loét DDTT của bệnh nhân trong thời gian nằm viện mà không thống kê được thời gian bệnh nhân điều trị ngoại trú, do đó thời gian sử dụng thuốc thực tế có thể dài hơn Thời gian dùng thuốc ngắn nhất: 1 ngày, dài

nhất: 27 ngày, trung bình: 7,6 ± 0,4 ngày

Thông thường, thời gian điều trị viêm loét DDTT thường phải kéo dài Do đó, thời gian sử dụng thuốc được ghi nhận trung bình 7,6 ngày

là thấp Nguyên nhân có thể kể: bệnh nhân chỉ

bị bệnh nhẹ như bị rối loạn tiêu hóa giống loét, bệnh nhân có tiến triển tốt nên được cho xuất viện và tiếp tục điều trị ngoại trú, hoặc tự ý bỏ viện khi đợt điều trị tích cực chưa kết thúc…

Tương tác thuốc

Tương tác thuốc thường gặp là tương tác giữa thuốc kháng acid và thuốc cho tác dụng toàn thân Các điều dưỡng khi được hỏi cho biết

là có dặn bệnh nhân trước khi dùng thuốc nên uống cách xa nhưng thời gian uống cách xa chỉ trong 30 phút

Hiệu quả của việc điều trị

Chúng tôi đánh giá hiệu quả điều trị dựa vào tình trạng bệnh nhân khi xuất viện có 3

mức: Khỏi (chấm dứt sử dụng thuốc), Đỡ giảm

(bệnh nhân cải thiện nhưng vẫn phải tiếp tục sử dụng thuốc ngoại trú hoặc bệnh nhân cải thiện

và trốn viện), Không thay đổi (bệnh nhân không

cải thiện nhưng xin xuất viện hoặc trốn viện)

Tỷ lệ bệnh nhân xuất viện trong tình trạng

Đỡ giảm chiếm tỷ lệ cao nhất (91%), kế đến là Khỏi (6.75%) Có 9 bệnh nhân bệnh Không thay đổi (2.25%), trong đó có 5 bệnh nhân trốn viện, 2

bệnh nhân mắc nhiều bệnh kèm theo tuổi già nên gia đình xin về, 2 bệnh nhân bị ung thư dạ dày Không có bệnh nhân nào tử vong Như vậy, việc điều trị được xem là tương đối tốt

Trang 6

Theo dõi ADR

Trong 400 hồ sơ bệnh án mà chúng tôi khảo

sát, có 2 trường hợp bệnh nhân khi sử dụng

thuốc trong phác đồ trị Hp bị tiêu chảy và được

chỉ định thuốc trị tiêu chảy, sau đó bệnh nhân

vẫn tiếp tục điều trị theo phác đồ Có thể nhận

định đây không phải là ADR của thuốc

BÀN LUẬN

Phương tiện chẩn đoán bệnh viêm loét

DDTT hiện nay ở KNTHBVNTP là nội soi và xét

nghiệm Hp bằng phương pháp Clo-test Tuy

nhiên, việc chẩn đoán này không được thực hiện

trên tất cả bệnh nhân theo yêu cầu (có không ít

bệnh nhân từ chối việc chẩn đoán cần thiết này

vì lý do không xác đáng) Đặc biệt, hiện tượng

xét nghiệm Hp âm tính giả được ghi nhận có thể

xảy ra, vì vậy, rất cần đánh giá các điều kiện liên

quan để việc xét nghiệm Hp được chính xác

(bệnh nhân dùng thuốc gây ảnh hưởng đế xét

nghiệm trước đó, điều kiện hóa chất, trang thiết

bị xét nghiệm…)

Việc kê đơn chỉ định thuốc nhìn chung là

hợp lý, theo đúng phác đồ của bệnh viện(2) và

phù hợp với khuynh hướng dùng thuốc của thế

giới(1), đưa đến hiệu quả điều trị khá tốt (97,75%

bệnh nhân sau thời gian nằm viện đều đỡ giảm

hoặc khỏi)

Với các trường hợp bị viêm loét DDTT

nhiễm Hp lần đầu, phác đồ chuẩn 3 thuốc được

dùng Có 3 trường hợp dùng phác đồ 4 thuốc (3

thuốc kết hợp với bismuth) Không có trường

hợp nào phải dùng phác đồ mới là phác đồ “liên

tiếp” hoặc “cứu vãn”

Đối với trường hợp bị viêm loét DDTT

không nhiễm Hp, phối hợp PPI và thuốc kháng

acid thường được dùng, hoặc có khi phối hợp

thêm thuốc khác như an thần-chống co thắt… vì

cần thiết

Điều kiện kinh tế của bệnh nhân có được

quan tâm như trong nhóm ức chế bơm proton,

pantoprazol và esomeprazol có giá thành cao

thường ít được lựa chọn; hay Simelox là thuốc

sản xuất trong nước gần đây được dùng nhiều

hơn so với thuốc cùng loại Hoặc khi cần thiết, đường dùng được thay đổi từ tiêm sang uống có lợi cho bệnh nhân hơn

Vấn đề tương tác thuốc do thuốc kháng acid có được chú ý nhưng cách xử lý chưa đúng mực (hướng dẫn thời gian uống cách xa

2 thuốc quá ngắn) Đây là vấn đề cần đến công tác Dược lâm sàng

Thời gian điều trị bệnh viêm loét DDTT thường phải kéo dài Tuy nhiên, thời gian nằm viện dùng thuốc ở bệnh viện thường ngắn, đòi hỏi việc điều trị ngoại trú tiếp theo phải chặt chẽ

và chu đáo

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

Nhìn chung, việc sử dụng thuốc trị viêm loét DDTT tại bệnh viện là hợp lý và an toàn, đặc biệt, có một số mặt phù hợp với điều kiện kinh

tế cho người bệnh

Chúng tôi đã khảo sát các văn bản, tài liệu liên quan như: phác đồ điều trị viêm loét DDTT của bệnh viện, tài liệu nước ngoài mà bệnh viện

đã tham khảo để xây dựng và cập nhật phác đồ Chính tuân thủ, thực hiện đúng phác đồ mà việc điều trị viêm loét DDTT tại đây đạt hiệu quả cao

Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy vẫn còn một

số điểm cần được cải thiện như:

- Việc chẩn đoán bằng nội soi và Clo-test đã không được thực hiện một cách đầy đủ cho tất

cả bệnh nhân theo yêu cầu Các bác sĩ nên tận tình giải thích và tạo điều kiện cần thiết để bệnh nhân tuân thủ xét nghiệm

- Bệnh viện cần làm nghiên cứu thẩm định phương tiện và điều kiện xét nghiệm Hp để tránh hiện tượng âm tính giả có thể xảy ra lảm ảnh hưởng đến kết quả điều trị

- Bệnh viện cần có những hình thức huấn luyện đào tạo nội bộ, đặc biệt đẩy mạnh công tác Dược lâm sàng để khắc phục những thiếu sót trong sử dụng thuốc (áp dụng phác đồ điều trị tốt nhất, tránh tương tác thuốc bất lợi…) Nên tiếp tục đẩy mạnh việc sử dụng thuốc có lợi về

Trang 7

kinh tế cho người bệnh mà vẫn đảm bảo hiệu

quả điều trị

Do thời gian tiến hành đề tài tương đối

ngắn, chắc chắn việc khảo sát còn nhiều thiếu

sót, chúng tôi hy vọng đề tài này sẽ được tiếp

tục nghiên cứu và mở rộng sang các bệnh viện

khác để có cái nhìn đầy đủ hơn về sử dụng

thuốc trị viêm loét DDTT an toàn hợp lý ở

nước ta

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Hoàng Hà Phương (dịch) (2010), Bình đơn thuốc: Điều trị loét

tá tràng tái phát (Drug regimen review: Therapy for recidive duodenal ulcer), Tạp chí Nghiên cứu Dược và Thông tin thuốc, Tập 1, số 2, 67-71

2 Khoa Nội tiêu hóa Bệnh viện Nguyễn tri Phương (2010), Khuyến cáo điều trị Hp hiện nay, Tài liệu lưu hành nội bộ

3 Marshall BJ, Warren JR (1983), Unidentified curved bacilii on gastric epithelium in active chronic gastritis, Lancet i:

1273-1275

4 Tạ Long (2003), Bệnh lý dạ dày tá tràng và nhiễm Helicobacter pylori, Nhà XB Y học, Hà nội, 15

Ngày đăng: 23/01/2020, 03:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w