1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Gây tê màng cứng với thuốc tê và thuốc giảm đau trung ương cho phẫu thuật vùng bụng dưới

6 65 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 255,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung của bài viết trình bày về gây tê ngoài màng cứng để giảm đau trong và sau mổ làm giảm những biến chứng trong và sau mổ, giảm tỉ lệ tử vong sau mổ của các phẫu thuật nặng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, phương pháp gây tê ngoài màng cứng phối hợp gây mê là kỹ thuật an toàn cho phẫu thuật vùng bụng dưới, với hiệu quả vô cảm và giảm đau sau mổ tốt, không có những tai biến và biến chứng nặng.

Trang 1

GÂY TÊ NGOÀI MÀNG CỨNG VỚI THUỐC TÊ VÀ THUỐC GIẢM ĐAU

TRUNG ƯƠNG CHO PHẪU THUẬT VÙNG BỤNG DƯỚI

Nguyễn Văn Chừng**, Trần Thị Ngọc Phượng*, Nguyễn Thị Thanh Ngọc*, Trần Đỗ Anh Vũ*

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Gây tê ngoài màng cứng (GTNMC) để giảm đau trong và sau mổ được áp dụng rộng rãi trên

thế giới từ nhiều thập niên qua Kết quả của nhiều công trình nghiên cứu cho thấy phương pháp này làm giảm những biến chứng trong và sau mổ, giảm tỉ lệ tử vong sau mổ của các phẫu thuật nặng

Mục tiêu: Đánh giá sự an toàn và hiệu quả giảm đau trong và sau mổ của phương pháp gây tê ngoài màng

cứng với sự phối hợp thuốc tê và thuốc giảm đau trung ương cho phẫu thuật lớn vùng bụng dưới

Phương pháp nghiên cứu: cắt ngang, mô tả Từ tháng 10/2012 đến tháng 03/2013 tại Bệnh viện Bình Dân

TPHCM, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu 37 trường hợp ASA từ 1 đến 3, phẫu thuật lớn vùng bụng dưới với gây mê toàn diện kết hợp GTNMC để giảm đau trong và sau phẫu thuật

Kết quả: tuổi trung bình trong mẫu nghiên cứu: 56,1 ± 13,6 tuổi (25 – 85) Thời gian gây mê phẫu thuật

217,1 ± 107,7 (80 - 480) phút Hầu hết các trường hợp đều đáp ứng đủ nhu cầu thao tác ngoại khoa trong mổ, rất

ít sử dụng thêm opioids tĩnh mạch ngoại trừ liều khởi mê, chỉ có 5 trường hợp cần sử dụng thêm thuốc giảm đau opioids trong mổ Thuốc mê hô hấp duy trì trong mổ < 1 MAC Không có tai biến nặng liên quan catheter NMC

và tử vong chu phẫu trong nghiên cứu

Kết luận: Kết quả cho thấy phương pháp GTNMC phối hợp gây mê là kỹ thuật an toàn cho phẫu thuật vùng

bụng dưới, với hiệu quả vô cảm và giảm đau sau mổ tốt, không có những tai biến và biến chứng nặng

Từ khóa: gây tê ngoài màng cứng, phẫu thuật bụng dưới

ABSTRACT

EPIDURAL WITH LOCAL ANESTHETICS AND OPIOIDS IN LOWER ABDOMINAL SURGERY

Nguyen Van Chung, Tran Thi Ngoc Phuong, Nguyen Thi Thanh Ngoc, Tran Do Anh Vu

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 18 - No 1 - 2014: 226 - 231

Background: Epidural for intra and postoperative pain relief has been widely used in the world for many

decades Previous studies have shown that this method may reduce complications, and decrease the mortality in severe cases.

Objectives: The present study investigates the safety and the efficacy of epidural combined local anaesthetics

and opioids in major lower abdominal surgery.

Methods: descriptive, cross-sectional study 37 ASA physical status 1 - 3 patients undergoing major surgery

of the lower abdomen with a combined general anaesthesia and epidural postoperative analgesia were studied at Binh Dan hospital from 2012 October to 2013 March

Results: Average ages: 56.1 ± 13.6 years (25 – 85) Duration of surgery: 217.1 ± 107.7 (80 - 480) minutes

In most cases, the patients had no negative responses to the stimulus provided during the surgical procedure Anesthesiologists rarely needed to administer intravenous opioids except a conductive dose There were only five cases which more opioids were used during on operation Anesthesia was maintained with less than 1 MAC of inhalation anesthetics With regards to epidurals in this study, there were no severe complications or mortality.

* Khoa phẫu thuật, Bệnh viện Bình Dân Tp HCM ** Đại học Y Dược TP HCM

Tác giả liên lạc : ThS Bs Trần Đỗ Anh Vũ ĐT: 0903181976 Email: trandoanhvu@gmail.com

Trang 2

Conclusions: The results illustrate that a combined general - epidural anesthesia technique is safe for lower

abdominal surgery with both efficient anesthesia and satisfactory pain relief There were no serious complications involved in this process.

Keyword: epidural, lower abdominal surgery

ĐẶT VẤN ĐỀ

Gây tê ngoài màng cứng (GTNMC) để giảm

đau trong và sau mổ được áp dụng rộng rãi trên

thế giới từ nhiều thập niên qua Kết quả của

nhiều công trình nghiên cứu cho thấy phương

pháp này làm giảm những biến chứng trong và

sau mổ, cải thiện tình trạng phục hồi chức năng

sau mổ và giảm tỉ lệ tử vong sau mổ của các

phẫu thuật nặng

Phối hợp thuốc tê và thuốc giảm đau trung

ương (nhóm á phiện) dùng trong GTNMC bằng

cách truyền liên tục cũng đã cho thấy những ưu

điểm, thuận lợi rõ rệt như cải thiện chất lượng

giảm đau, giảm bớt liều lượng sử dụng của cả

hai nhóm thuốc, giảm tai biến ngộ độc thuốc,

duy trì nồng độ thuốc ổn định, giảm tải công

việc cho người làm công tác hồi sức sau mổ,

tránh được tác dụng ức chế giao cảm ngắt quãng

do chích từng liều(1, 7)

Đối với các phẫu thuật lớn vùng bụng dưới,

thời gian mổ kéo dài, trên các đối tượng có các

bệnh lý tim mạch, hô hấp kèm theo… với nhiều

nguy cơ trong và sau phẫu thuật, ngoài các vấn

đề về ngoại khoa, đau được ví như một dấu hiệu

sinh tồn cần phải được quan tâm đúng mức

Những trường hợp như vậy, việc đặt một

catheter vào khoang ngoài màng cứng (NMC)

vừa là phương pháp vô cảm và giảm đau trong

mổ, vừa giảm đau sau mổ liên tục rất tiện lợi

Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá sự an toàn và hiệu quả giảm đau

trong và sau mổ của phương pháp gây tê ngoài

màng cứng với sự phối hợp thuốc tê và thuốc

giảm đau trung ương cho phẫu thuật lớn vùng

bụng dưới

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Các bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật lớn

vùng bụng dưới tại Bệnh viện Bình Dân

TP.HCM

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả, cắt ngang

Tiêu chuẩn nhận bệnh

- Bệnh nhân thuộc nhóm ASA 1 – 3, không

có chống chỉ định GTNMC

- Bệnh nhân đồng ý hợp tác với thầy thuốc

để tiến hành GTNMC

Tiêu chuẩn loại trừ

- Bệnh nhân đang nhiễm trùng toàn thân, đang ở trong tình trạng sốc hay thiếu khối lượng tuần hoàn

- Không thực hiện GTNMC được

Phương thức tiến hành

Thăm khám, giải thích và chuẩn bị bệnh nhân (BN) như một cuộc gây mê bình thường

Kỹ thuật GTNMC phối hợp gây mê toàn diện:

+ GTNMC TL 3-4 hoặc TL 2-3, luồn catheter vào khoang NMC với độ sâu 3 – 5 cm Bơm liều test bằng hỗn hợp 3ml Lidocain 1,5% và epinephrine 1/200.000

+ Sau khi xác định catheter đúng vào khoang NMC, tiến hành gây mê toàn diện có đặt ống nội khí quản (NKQ) cho bệnh nhân

+ Truyền liên tục trong mổ hỗn hợp: Bupivacaine 0,1% + Fantanyl 4 mcg/1ml với vận tốc 4-8ml/giờ

Sau mổ, vẫn tiếp tục truyền liên tục hỗn hợp Bupivacaine 0,1% + Fantanyl 4 mcg/1ml với vận tốc 4-8ml/giờ

Theo dõi dấu hiệu sinh tồn của BN trước, trong và sau khi thực hiện thủ thuật, xử lý những rối loạn khi cần, bao gồm:

+ Tại phòng mổ: sau khi gây tê, theo dõi:

Trang 3

mạch, HA, nhịp thở, tri giác

+ Trong mổ: theo dõi các chỉ số M, HA, các

đáp ứng về độ mê với các kích thích phẫu thuật

khác nhau

+ Sau mổ: tiếp tục duy trì giảm đau qua

catheter NMC bằng bơm điện liên tục Ghi nhận

và đánh giá các yếu tố cần nghiên cứu: hiệu quả

giảm đau, các tai biến và biến chứng Khi BN về

khoa ngoại, thăm khám BN vào những giờ nhất

định trong ngày theo phác đồ nghiên cứu, và

thăm khám ngay lập tức các vấn đề liên quan

đến catheter NMC để đưa ra hướng xử trí

Thu thập và xử lý số liệu

Các dữ kiện được đưa vào phân tích là:

- Tuổi, giới tính

- Phân loại nguy cơ gây mê phẫu thuật ASA

- Bệnh kèm theo trước mổ: thiếu máu cơ tim,

cao huyết áp, tiền căn nhồi máu cơ tim, suy tim,

bệnh van tim, lao phổi, hen phế quản, bệnh phổi

khác, suy thận, suy gan, đái tháo đường, có bệnh

ung thư, tai biến mạch máu não…

- Biến đổi huyết động trong mổ: mạch, huyết

áp, lượng nước tiểu

- Mức độ phong bế vận động, hiệu quả giảm

đau trong và sau mổ

- Các thuốc hồi sức được sử dụng trong mổ

- Thời gian lưu catheter, thời gian nằm theo

dõi điều trị tại hồi sức

- Những khó khăn, thuận lợi và các tai biến,

biến chứng trong và sau mổ liên quan đến gây

mê – hồi sức

Xử lý các số liệu

Phần mềm thống kê SPSS 16.0 for Windows

KẾT QUẢ

Từ tháng 10/2012 đến tháng 03/2013 tại Bệnh

Viện Bình Dân TPHCM, chúng tôi đã tiến hành

thực hiện và theo dõi 37 trường hợp phẫu thuật

lớn vùng bụng dưới với gây mê toàn diện kết

hợp GTNMC để giảm đau trong và sau phẫu

thuật Một số kết quả thu được như sau:

Bảng 1: Đặc điểm chung của bệnh nhân

Đặc điểm chung Trung bình Nhỏ nhất Lớn nhất

Tuổi 56,1 ± 13,6 25 85 Chiều cao (cm) 161,6 ± 9,4 150 180 Cân nặng (kg) 55,9 ± 10,1 36 77

ASA

Có 4 trường hợp (8,5%) loại 1, 28 (59,6%) loại

2, và 5 (10,6%) loại 3

Bảng 2: Loại phẫu thuật

(n = 37)

K tiền liệt tuyến 2

Dò bàng quang âm đạo 1 Bàng quang thần kinh 1

Thời gian phẫu thuật

217,1 ± 107,7 (80 - 480) phút

Bệnh kèm theo

Hầu hết các bệnh nhân đều có ít nhất một bệnh lý nội khoa kèm theo, nổi bật là tình trạng tăng huyết áp, với 10 trường hợp, chiếm 27% bệnh nhân Có 6 trường hợp bệnh tim thiếu máu

cục bộ, 2 trường hợp hen phế quản

Bảng 3: Thay đổi M và HA của bệnh nhân tại các

thời điểm quan trọng

Trước gây tê (tỉnh táo) 82,7 ± 9,6 105,3 ± 9,4 Trước rạch da 65,2 ± 11,4 * 69,7 ± 6,2 * Trong mổ 71,9 ± 9,3 * 75,3 ± 8,7 * Sau mổ (vừa hồi tỉnh) 89,7 ± 10,8 110,4± 8,5

(*): khác biệt có ý nghĩa thống kê, P < 0,05

Chúng tôi lấy các thông số về M và HA trước khi gây tê làm mức cơ bản của BN Tại thời điểm trước rạch da và trong phẫu thuật, sự thay đổi M

và HA so với mức cơ bản có ý nghĩa về mặt thống kê, nhưng về phương diện lâm sàng thì

BN chấp nhận được mức đáp ứng thay đổi huyết động này

Tai biến và biến chứng

Không có tai biến nặng ghi nhận trong nghiên cứu này

Trong nghiên cứu này chúng tôi không ghi

Trang 4

nhận trường hợp nào bị tụt HA trầm trọng liên

quan catheter NMC, cũng không có trường hợp

nào bị suy hô hấp phải điều trị ở giai đoạn sau

mổ

Bảng 5: Các tai biến, biến chứng khác

Đánh giá hiệu quả giảm đau trong và sau

phẫu thuật

Giảm đau trong mổ

Hầu hết các trường hợp đều đáp ứng đủ nhu

cầu thao tác ngoại khoa trong mổ, rất ít sử dụng

thêm opioids tĩnh mạch ngoại trừ liều khởi mê,

chỉ có 5 trường hợp cần sử dụng thêm thuốc

giảm đau opioids trong mổ Thuốc mê hô hấp

duy trì trong mổ < 1 MAC

Giảm đau sau mổ

Thang điểm đau (VAS)

Bảng 6: Thang điểm đau VAS

(tỉnh táo)

Giờ 4 Giờ 8 Giờ 16 Giờ 24 Giờ 36 - 72

Có 5 trường hợp rút catheter sớm sau 1 ngày

vì lý do bệnh nhân sốt cao (2 trường hợp), và do

catheter bị sút (1 trường hợp), tắc nghẽn (2

trường hợp)

Phong bế vận động

Chỉ có 1 trường hợp bị liệt hoàn toàn 2 chi

dưới vào giờ thứ 5 sau truyền thuốc qua

catheter NMC, sau khi giảm liều thì phục hồi

vận động 5 trường hợp yếu nhẹ ở 1 hoặc 2 chi

dưới Các trường hợp còn lại đa số chỉ có cảm

giác dị cảm nhẹ

NHẬN XÉT VÀ BÀN LUẬN

Tuổi trung bình của bệnh nhân trong mẫu

nghiên cứu 56,1 ± 13,6 tuổi, thấp nhất là 25 tuổi,

cao nhất là 85 tuổi

Tuổi trong dân số mẫu nghiêng về phía người cao tuổi, phù hợp với phân bố dịch tể của loại bệnh cần phẫu thuật, gồm 12 trường hợp (32,4%) bướu bàng quang và 19 trường hợp (51,4%) ung thư trực tràng Điều này cũng góp phần gây khó khăn cho nghiên cứu vì ở độ tuổi càng cao, việc chuyển hóa và đào thải thuốc ít nhiều bị ảnh hưởng, dễ dẫn đến tình trạng tích lũy thuốc và gây ngộ độc.(1)

Vai trò gây tê ngoài màng cứng giảm đau trong mổ

Theo Robert J (2003), gây tê NMC phối hợp gây mê và giảm đau hậu phẫu làm giảm biến cố tim mạch chu phẫu 30%, giảm nhiễm trùng phổi 40%, tắc mạch phổi 50%, suy thận cấp 30% so với gây mê toàn thân và giảm đau truyền thống.(8)

Trong nghiên cứu chúng tôi nhận thấy, vai trò của phối hợp GTNMC hoàn toàn có thể thay thế nhóm opioids giảm đau trong mổ, chúng tôi

sử dụng opioids (sufentanil hoặc fentanyl) trong hầu hết các trường hợp vào lúc khởi mê để đặt NKQ Tránh được sử dụng opioids liều cao trong phẫu thuật rất có lợi, đặc biệt ở người già

và những BN có tình trạng thể chất kém (ASA 3), giúp tỉnh mê sớm và tránh những biến cố do dùng opioids quá nhiều được cộng dồn vào khi cho giảm đau sau mổ

Điều này được chứng minh khi thời gian rút NKQ sớm, BN tỉnh táo sớm

Để tránh tình trạng tụt HA, một tác dụng thường đi kèm với phối hợp gây tê vùng và gây

mê toàn diện, trong nghiên cứu, chúng tôi chỉ thực hiện liều bolus khi M và HA đã ổn định sau khởi mê, điều này giúp chúng tôi phòng ngừa được tác dụng tụt HA khi phối hợp giữa GTNMC và gây mê toàn diện

Các thuốc sử dụng trong mổ như thuốc mê bốc hơi cũng có xu hướng giảm, chúng tôi sử dụng gây mê với nồng độ thuốc mê < 1 MAC,

và không có trường hợp nào BN bị thức tỉnh trong mổ

Trang 5

Đánh giá mức độ an toàn của giảm đau hậu

phẫu qua catheter NMC với các tai biến,

biến chứng trong nghiên cứu

Nhiều tác dụng phụ liên quan đến thuốc

(opioids và thuốc tê vùng) có thể xảy ra với việc

dùng giảm đau NMC ở hậu phẫu, nhưng trước

khi quy nguyên nhân cho giảm đau NMC, điều

quan trọng đầu tiên là phải xem xét những

nguyên nhân khác, như giảm thể tích, chảy máu,

cung lượng tim thấp dẫn đến tụt huyết áp, tai

biến mạch máu não, phù phổi; và nhiễm trùng

huyết dẫn đến suy hô hấp…(1, 5)

Trong nghiên cứu này, chúng tôi không gặp

phải các tai biến nặng liên quan đến catheter như

tử vong hoặc các tai biến liên quan với tổn

thương thần kinh trung ương không hồi phục

Một số tác dụng phụ khác được chúng tôi

ghi nhận như sau

Tụt huyết áp

Thuốc tê vùng dùng trong chế độ trị liệu

giảm đau NMC có thể phong bế những sợi giao

cảm và góp phần gây tụt huyết áp sau mổ Tỷ lệ

tụt huyết áp hậu phẫu với giảm đau NMC sau

mổ có thể cao xấp xỉ 7%, trung bình gần 0,7 - 3%

Những chiến lược điều trị tụt huyết áp không

nguy hiểm gây ra bởi giảm đau NMC bao gồm

việc giảm tổng liều thuốc tê vùng sử dụng (bằng

việc giảm tốc độ hay nồng độ), chỉ truyền opioid

vào khoang NMC và điều trị những nguyên

nhân căn bản của tụt huyết áp(2,3,5)

Trong nghiên cứu của chúng tôi, các trường

hợp tụt HA có ý nghĩa đều xảy ra trong lúc phẫu

thuật Nguyên nhân chủ yếu vẫn là do tình trạng

giảm thể tích do mất máu

Trong giai đoạn hậu phẫu, chúng tôi không

ghi nhận trường hợp nào tụt HA liên quan đến

việc truyền thuốc tê và opioid qua catheter

khoang ngoài màng cứng

Phong bế vận động

Sử dụng thuốc tê vùng cho tác dụng giảm

đau NMC ở hậu phẫu cũng góp phần phong bế

vận động chi dưới xấp xỉ 2 - 3% BN Nồng độ

thấp hơn của thuốc gây tê vùng và catheter - đường rạch da - vị trí phù hợp của catheter NMC cho quá trình phẫu thuật bụng hay ngực

có thể làm giảm tỷ lệ phong bế vận động Mặc

dù trong phần lớn các trường hợp sự phong bế vận động được giải quyết sau khi ngưng truyền vào khoang NMC trong vòng gần 2 giờ, nếu sự phong bế vận động tiếp tục tồn tại hay tăng lên cần phải được đánh giá nhanh, các nguyên nhân như khối máu tụ ở tủy sống, áp-xe tủy sống, sự

di dời của catheter vào trong tủy sống, phải được quan tâm xem xét như một phần của chẩn đoán phân biệt(5, 6)

Trong nghiên cứu này, chỉ có 1 trường hợp bị liệt đột ngột sau khoảng 5 giờ truyền thuốc tê Chúng tôi xử trí bằng cách ngưng truyền thuốc

và theo dõi, vận động của bệnh nhân hồi phục trong khoảng 2 giờ sau đó

Vì vậy với nghiên cứu này, chúng tôi nhận thấy nồng độ thuốc tê, opioids và tốc độ truyền như vậy là phù hợp để giảm đau đủ và ít phong

bế vận động nhất

Buồn nôn và nôn

Buồn nôn và nôn kết hợp với việc chích một liều đơn opioids vào trục thần kinh xảy ra xấp xỉ

20 - 50% BN, và tỷ lệ tích lũy ở những BN nhận

sự điều trị truyền opioids liên tục có thể cao từ

45 - 80% Những dữ liệu lâm sàng và thử nghiệm cho thấy rằng tỷ lệ buồn nôn và nôn liên quan đến opioid chích vào trục thần kinh thì tùy thuộc

vào liều Buồn nôn và nôn từ việc chích opioid

vào trục thần kinh có thể liên quan đến sự di chuyển về phía đầu của opioid(4, 5)

Nghiên cứu của chúng tôi có 9 trường hợp (24,3%) bệnh nhân bị buồn nôn và nôn, cũng phù hợp với tỷ lệ chung

Suy hô hấp

Tỷ lệ suy hô hấp với opioids chích vào trục thần kinh thì tùy thuộc vào liều và khoảng từ

0,1 - 0,9%

Những yếu tố nguy cơ của suy hô hấp với opioids chích vào trục thần kinh bao gồm tăng liều, tuổi cao, dùng đồng thời với opioids toàn

Trang 6

thân hay thuốc an thần và có thể do phẫu

thuật mở rộng hay kéo dài, và phẫu thuật lồng

ngực(1,4,5)

Trong nghiên cứu này, với phác đồ thực

hiện, chúng tôi không ghi nhận trường hợp

nào bị suy hô hấp cần phải can thiệp Vì vậy,

chúng tôi cho rằng có thể thực hiện an toàn

việc truyền opioids liên tục qua catheter NMC

tại khoa ngoại

KẾT LUẬN

Kết quả cho thấy phương pháp gây tê ngoài

màng cứng phối hợp gây mê là kỹ thuật an toàn,

hiệu quả và không có những tai biến biến chứng

quan trọng

Với phác đồ sử dụng trong nghiên cứu, đặt

catheter NMC đoạn TL 2 - 3 hoặc TL 3 - 4, truyền

liên tục hỗn hợp Bupivacaine 0,1% và Fentanyl 4

mcg/mL trong và sau mổ, tốc độ 4 – 8 mL/giờ

Phác đồ này đã đáp ứng được nhu cầu giảm đau

trong và sau phẫu thuật với tính hiệu quả và an

toàn cao cho các trường hợp phẫu thuật lớn

vùng bụng dưới

Do đó, đề tài có thể được ứng dụng rộng rãi

hơn cho các phẫu thuật lớn vùng bụng trên và

vùng ngực Tuy nhiên, với những nguy cơ của

thủ thuật và thuốc sử dụng, chúng tôi khuyến

cáo khi áp dụng phương pháp này cần phải

chuẩn bị đầy đủ nhân lực, trang thiết bị, nhất là

phải có quy trình và phác đồ thống nhất với các

bộ phận liên quan

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Brown DL (2009) Spinal, Epidural, and Caudal Anesthesia In: Ronald D Miller Miller’s Anesthesia, 7th edition, Churchill Livingstone, pp 1611 – 1636

2 Doi K, Yamanaka M, Shono A, Fukuda N, Saito Y (2007) Preoperative epidural fentanyl reduces postoperative pain after upper abdominal surgery Br J Anaesth, 98(3): 380-384

3 Duncan F (2011) Prospective observational study of postoperative epidural analgesia for major abdominal surgery

J Clin Nurs, 20(13-14): 1870 – 1879

4 Gudaityte J, Germaniene O, Juknyte A, Ubartiene G (2010) The quality of postoperative epidural analgesia after upper and lower abdominal surgery: A survey of postoperative records: 14AP11-3 EUR J ANAESTH, Volume 27 - Issue 47:

pp 220

5 Hurley RW and Wu CL (2009) Acute Postoperative Pain In: Ronald D Miller Miller’s Anesthesia, 7th edition, Churchill Livingstone: pp.2757 – 2776

6 Lê Văn Chung, Nguyễn Văn Chừng (2008) Gây tê ngoài màng cứng và gây tê tủy sống phối hợp trong phẫu thuật chỉnh hình chi dưới Y học TP Hồ Chí Minh, tập 12 (1): 78 - 83

7 Nguyễn Văn Chừng (2002) GMHS trong phẫu thuật vùng hậu môn trực tràng Trong: Lê Quang Nghĩa Bệnh trĩ, NXB Y Học TP.HCM: 167-192

8 Robert J et al (2003) The role of Epidural Anesthesia and Analgesia in surgical practice Annals Surgery, 238(5): 663-673

9 Võ Thị Nhật Khuyên, Nguyễn Thị Ngọc Đào, Phan Tôn Ngọc

Vũ, Nguyễn Văn Chừng (2010) Máu tụ ngoài màng cứng sau gây tê ngoài màng cứng Y học TP Hồ Chí Minh, tập 14 (1):

278 - 282

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 28/11/2013 Ngày bài báo được đăng: 20/02/2014

Ngày đăng: 23/01/2020, 03:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w