1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Gây tê màng giáp nhẫn để xử trí đường thở khó trong gây mê hồi sức: Báo cáo 20 trường hợp

4 107 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 269,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài nghiên cứu nhằm mục tiêu đánh giá bước đầu sử dụng kỹ thuật gây tê màng giáp nhẫn để đánh giá đường thở và đặt nội khí quản trong các trường hợp có yếu tố tiên lượng đường thở khó trong gây mê hồi sức. Mời các bạn cùng tham khảo đề tài qua bài viết này.

Trang 1

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012

GÂY TÊ MÀNG GIÁP NHẪN ĐỂ XỬ TRÍ ĐƯỜNG THỞ KHÓ

TRONG GÂY MÊ HỒI SỨC: BÁO CÁO 20 TRƯỜNG HỢP

Võ Thị Thúy Nga*, Đỗ Thanh Huy**

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá bước đầu sử dụng kỹ thuật gây tê màng giáp nhẫn để đánh giá đường thở và đặt nội

khí quản trong các trường hợp có yếu tố tiên lượng đường thở khó trong gây mê hồi sức

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: với phương pháp tiền cứu mô tả cắt ngang, tại phòng mổ bệnh

viện Ung Bướu Cần Thơ, 20 trường hợp chỉ định phẫu thuật chương trình, có 1 hay nhiều các yếu tố dự báo đường thở khó Người bệnh được gây tê màng giáp nhẫn để đánh giá đường thở, và tiến hành đặt nội khí quản (NKQ) trong khi người bệnh tỉnh, làm theo y lệnh và tự thờ (Awake Intubation; AI), gây mê được tiến hành sau khi đặt thành công ống NKQ Ghi lại số liệu lâm sàng bao gồm: đặc điểm người bệnh, loại phẫu thuật, các dạng đường thở khó, kỹ thuật đặt NKQ, các thuận lợi và phiền nạn của kỹ thuật này Số liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS

Kết quả: từ tháng 6/2011 đến tháng 9/2011, có 20 bệnh nhân bao gồm 15(75%) trường hợp bướu cổ (bướu

giáp nhân, basedow, k giáp), 2(10%) trường hợp phẫu thuật tuyến mang tai, 2(10%) trường hợp phẫu thuật vùng hầu họng, 1(5%) trường hợp phẫu thuật bụng Các dạng NKQ khó ghi nhận được dưới đèn soi thanh quản (Cormack và Lehane) gồm:10(50%) gadeIII, 1(5%) gradeIV còn lại là grade I và II, 2 trường hợp khí quản di lệch

do bướu to chèn ép Có 19(95%) trường hợp đặt NKQ thành công sau khi gây tê, 1(5%) trường hợp phải cho ngủ và đặt NKQ qua mặt nạ Fastrack Có 2(10%) trường hợp tăng mạch và huyết áp sau khi đặt NKQ nhưng

ổn định ngay sau khi cho ngủ, 10(50%) trường hợp có chảy ít máu sau khi gây tê nhưng đều tự khỏi

Kết luận: qua sử dụng kỹ thuật gây tê màng giáp nhẫn cho 20 trường hợp cho thấy: đây là kỹ thuật đạt hiệu

quả cao, giúp người gây mê chủ động hơn trong xử trí các trường hợp đường thở khó có tiên lượng trước, có thể dùng kỹ thuật này với đèn soi thanh quản để đánh giá đường thở khó trước khi gây mê Các biến chứng xảy ra với mức độ nhẹ và đều khắc phục được

Từ khóa:gây tê màng giáp nhẫn, đường thở khó, gây mê hồi sức

ABSTRACT

THE TRANSTRACHEAL NERVE BLOCK IN DIFFICULT AIRWAY: A REPORT OF 20 CASES

Vo Thi Thuy Nga, Do Thanh Huy

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 1 - 2012: 296 - 299

Objectives: To evaluate the efficacity and safe of the translaryngeal block in prediction and managing

difficult airway

Study design: prospective, crossection study

Patients and methods: 20 patients who were received routine elective surgery, difficult airway was

expected, translarygeal block for awake intubation Clinical information obtained included patient characteristics, type of surgery, details of difficult airway, details of adverse events

Results:75% thyroid surgery, 10% parotid gland surgery, 10% oral cavity surgery, 5% abdominal surgery

Form of difficult airway: 50% gradeIII, 5%gradeIV Moved airway track by tumor in 2 cases Success rate was

 Bệnh Viện Ung Bướu Cần Thơ ** Đại Học Y Dược Cần Thơ

Tác giả liên lạc: ThS Đỗ Thanh Huy, Đt: 0939625107 Email: catbui.rac@gmail.com,

Trang 2

Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012 Nghiên cứu Y học

95% One case was intubation under anesthesia through Fastrack LMA 40% hemodynamic changes, 50% minute bleeding, but all recovered themselves

Conclusions: the translaryngeal block is safe and effective in expected difficult airway.There is less urgency

in difficult airway management Minor complications completely recover

Key words: the transtracheal nerve block, difficult airway

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đặt NKQ với gây mê và thuốc dãn cơ là tình

huống quen thuộc trên lâm sàng Tuy nhiên

không phải tất cả các trường hợp đều dễ dàng,

Tần suất đặt NKQ thất bại là 1/1-2000, không

thông khí được qua mặt nạ mặt là 1/1500, tình

huống “không thể thông khí, không thể đặt

NKQ” (CICV) là 1/5000-10000 và CICV chiếm

đến 25% các rường hợp tử vong liên quan đến

gây mê(2) Nếu người bệnh được gây mê và dãn

cơ, khi gặp phải các tình huống này, người gây

mê trong tình huống phải tìm mọi biện pháp để

thông khí cho người bệnh, nếu không tính mạng

người bệnh sẻ nguy kịch Theo phác đồ hướng

dẫn xử trí đường thở khó của hội gây mê Hoa

Kỳ (ASA), các kỹ thuật “tỉnh” (AI) là lựa chọn

trong các tình huống NKQ khó đã nhận biết

trước Gây tê màng giáp nhẫn là một trong các

kỹ thuật này, bác sĩ Michael Bailin đã gây tê

màng giáp nhẫn và tự đặt NKQ cho chính mình

thành công năm 2009(1), ông đã chứng minh hiệu

quả và độ an toàn của kỹ thuật này Chúng tôi

tiến hành nghiên cứu này với mong muốn tìm

hiểu về những thuận lợi và khó khăn của kỹ

thuật này, hy vọng có thêm một “vủ khí” nhằm

đối phó với các tình huống khó khăn gặp phải

hàng ngày

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp nghiên cứu

Tiền cứu mô tả cắt ngang

Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật chương

trình với phương pháp gây mê NKQ, có một

hay nhiều các yếu tố tiên lượng đường thở

khó (malampati 2,3,4; bướu cổ to, cứng cổ,

béo phì, cổ ngắn…) Xác định được màng giáp

nhẫn Người bệnh được giải thích và đồng ý thực hiện kỹ thuật

Phương pháp tiến hành

Bệnh nhân được khám tiền mê, làm các xét nghiệm thường quy, chuẩn bị như các cuộc gây

mê thông thường

Gây tê đặt NKQ: người bệnh nằm ngửa, xác định vị trí màng giáp nhẫn, dùng kim luồn 20G chọc qua màng giáp nhẫn, khi có cảm giác vừa qua màng thì rút nòng kim loại của kim luồn ra, lắp ống tiêm vào hút nhẹ thấy có khí ra xác định đúng vị trí, khi người bệnh hít vào thì bơm 2-4ml lidocain 2%, người bệnh ho nhẹ, khi bơm xong thuốc tê thì rút kim luồn ra, băng kín vết thương Dùng lidocain 10% Spray tê vùng hầu họng, tiền mê 50 microgam Fentanyl, 1mg midazolam Đặt NKQ với đèn soi thanh quản, sau khi chắc chắn đặt ống NKQ đúng vị trí thì tiến hành gây mê bình thường Thu thập các số liệu: loại phẫu thuật, loại NKQ khó, các biến cố trong và sau khi thực hiện thủ thuật Nhập số liệu vào phần mềm SPSS và xử lý thống kê

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Bảng 1: Đặc điểm mẫu nghiên cứu (n=20)

Tuổi (năm) 51.72±14.37(29-75)

Cân nặng (kg) 53.53±11.52(31-76)

Bệnh kèm theo Suy tim độ III 1

Loại phẫu thuật

K giáp:1; Basedow: 4

Tuyến mang tai

2(10%)

Bảng 2: Các yếu tố tiên lượng NKQ khó

Trang 3

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012

Bảng 3: Kỹ thuật và số lần đặt NKQ

Kỹ thuật đặt NKQ N(%) Số lần đặt N(%)

Bảng 4: Biến cố

BÀN LUẬN

Đặc điểm mẫu nghiên cứu

Do đặc thù là bệnh viện chuyên khoa ung

bướu, chúng tôi thường gặp các loại u bướu ở vị

trí đầu mặt cổ, bướu to, chèn ép, làm thay đổi

cấu trúc bình thường của đường hô hấp, gây

khó khăn cho việc đặt NKQ trong gây mê hồi

sức Theo Finucane tỷ lệ gặp NKQ khó từ 1,5%

đến 8,5%(2) Tuy nhiên theo chúng tôi tỉ lệ này

còn cao hơn trong gây mê ung bướu Trong 3

tháng chúng tôi có 15 trường hợp bướu cổ trong

mẫu nghiên cứu, có 1 trường hợp K giáp, 4

trường hợp Basedow, trong đó có 2 trường hợp

khí quản di lệch do khối bướu quá to (phát hiện

được qua thăm khám và trên phim X quang

cổ),vì vậy việc thành thạo các kỹ năng tiếp cận

và xử trí đường thở khó là vô cùng cần thiết,

gây tê màng nhẫn giáp là một trong các kỹ thuật

này Nhằm giúp chúng tôi tiên lượng chính xác

hơn, chủ động hơn trong xử trí đường thở khó

Các yếu tố tiên lượng NKQ khó

Có nhiều yếu tố giúp tiên lượng trước

đường thở khó, tuy nhiên không có yếu tố nào

có độ dặc hiệu và độ nhạy cao giúp tiên lượng

chắc chắn đường thở khó(2) Thông thường chỉ

sau khi gây mê, cho đèn soi thanh quản vào

miệng và quan sát được hình dạng thanh môn mới có thể phát hiện được NKQ khó Hình dạng thanh môn được phân độ theo Cormack và Lehane từ năm 1984, có 4 độ, từ Grade I đến Grade IV, trong đó Grade III và IV là khó đặt NKQ(2) Trong nghiên cứu của chúng tôi cũng quan sát được 10 trường hợp grade III và 1 trường hợp grade IV qua đèn soi thanh quản bằng kỹ thuật gây tê màng giáp nhẫn Điều này cho thấy có thể dùng các kỹ thuật gây tê để quan sát thanh môn giúp tiên lượng chính xác đường thở khó thay vì phải gây mê như thường

lệ Năm 2010, William Rosenblatt cho soi thanh môn 138 trường hợp trước phẫu thuật, cho thấy

kỹ thuật này có thể giúp tiên lượng chính xác đường thở khó, và nên thực hiện thường qui, đặc biệt trong trường hợp có bệnh lý gây bất thường cấu trúc đường thở kèm theo(4)

Kỹ thuật đặt NKQ và các biến cố

Với 20 trường hợp, chúng tôi có 19 trường hợp đặt thành công ống NKQ trước khi gây mê, người bệnh tỉnh hoàn toàn, hợp tác theo y lệnh, các biến cố như tăng mạch và HA ổn định ngay sau được gây mê, và ổn định trong suốt cuộc

mổ Trong một số trường hợp cuộc mổ ngắn, chúng tôi nhận thấy người bệnh tỉnh mê nhẹ nhàng hơn, không gây rối loạn huyết động như các trường hợp tỉnh mê thông thường khác Biến

cố tổn thương mạch máu xảy ra ở mức độ nhẹ

và tự khỏi Một trường hợp thất bại trong nghiên cứu, do mức tê không đạt, tuy nhiên chúng tôi cũng quan sát được thanh môn và đặt NKQ qua mặt nạ thanh quản fast-track sau khi khởi mê Theo Michael Bailin, các trường hợp thất bại do có nhiều chất tiết trong đường thở(1),

có thể khắc phục bằng cách tiêm atropin tĩnh mạch, điều này cũng giải thích 1 trường hợp thất bại trong nghiên cứu của chúng tôi

Khi gặp đường thở khó thường phải đặt NKQ nhiều lần Chúng tôi cũng gặp 2 trường hợp đặt NKQ 3 lần, 1 trường hợp phải đặt đến lần thứ 6, trường hợp này phải mất 60 phút để đặt xong ống NKQ Tuy nhiên không có giảm ôxy máu trong suốt quá trình đặt, người bệnh

Trang 4

Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 16 * Phụ bản của Số 1 * 2012 Nghiên cứu Y học

tỉnh và tự thở hoàn toàn Điều này cũng chứng

minh ưu điểm của kỹ thuật gây tê so với gây mê

trong xử trí đường thở khó

KẾT LUẬN

Qua 20 trường hợp cho thấy kỹ thuật gây tê

màng giáp nhẫn đạt hiệu quả cao, an toàn, giúp

người gây mê chủ động hơn, có đủ thời gian để

chuẩn bị trong xử trí đường thở khó, hay có thể

“rút lui” an toàn khi không thể đặt được ống

NKQ Ngoài ra còn có thể dùng kỹ thuật này để

“trinh sát” đường thở trước khi quyết định gây

mê cho người bệnh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bailin.M (2009) Awake needle cricothyrotomy, awake oral endotracheal intubation Nice Bass Production

http://www.youtube.com/watch?v=bDRTzmuwMnQ

2 Cook.TM (2011) The introduction In: Woodall N, Cook TM, Frerk C Major complications of airway management in the United Kingdom, p13

3 Jain.D (2005) Airway assessment: predictors of difficult airway Indian journal of anaesthesia, 49(4), 257-262

4 Rosenblatt.W, et al (2010) Preoperative Endoscopic Airway Examination (PEAE) Provides Superior Airway Information and May Reduce the Use of Unnecessary Awake Intubation Anesthesia and Analgesia, 112, 602-607

Ngày đăng: 23/01/2020, 02:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm