Nghiên cứu được thực hiện để khảo sát một số tác dụng dược lý của viên xương khớp su tong trên thực nghiệm. Qua đó đánh giá hiệu quả và tính an toàn của thuốc, tiến tới mục đích thử nghiệm trên lâm sàng, nhằm bổ sung vào danh mục các thuốc thuộc nhóm cơ xương khớp - một chế phẩm nguồn gốc thảo dược.
Trang 1KHẢO SÁT MỘT SỐ TÁC DỤNG DƯỢC LÝ THỰC NGHIỆM
CỦA VIÊN XƯƠNG KHỚP SU TONG (CHẾ PHẨM PHỐI HỢP
THIÊN NIÊN KIỆN, CỐT TOÁI BỔ, BẠCH CHỈ)
Nguyễn Thị Thu Hương*, Trần Mỹ Tiên*, Nguyễn Lê Việt Hùng**
TÓM TẮT
Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện để khảo sát một số tác dụng dược lý của viên xương
khớp Su Tong trên thực nghiệm Qua đó đánh giá hiệu quả và tính an toàn của thuốc, tiến tới mục đích thử nghiệm trên lâm sàng, nhằm bổ sung vào danh mục các thuốc thuộc nhóm cơ xương khớp - một chế phẩm nguồn gốc thảo dược
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu thực nghiệm có so sánh, lựa chọn ngẫu nhiên, được thực hiện tại Trung
tâm Sâm và Dược liệu Tp HCM, từ tháng 8/2011 đến tháng 5/2012 gồm: Khảo sát độc tính cấp và độc tính bán trường diễn, khảo sát tác dụng kháng viêm cấp trên chuột bị gây viêm bằng carragenin, khảo sát tác dụng kháng viêm mạn trên chuột bị gây viêm khớp bằng Freund’s Complete Adjuvant (FCA), khảo sát tác dụng giảm đau cấp trên chuột bị gây đau xoắn bụng bằng acid acetic, khảo sát tác dụng hạ acid uric máu trên chuột bị gây tăng acid uric cấp và mạn bằng kali oxonat
Đối tượng nghiên cứu: 400 chuột nhắt trắng đực, chủng Swiss albino, 5-6 tuần tuổi, trọng lượng 25 ± 2 g,
được cung cấp bởi Viện Vắc xin và Sinh phẩm Y tế Nha Trang
Chỉ tiêu đánh giá: Nồng độ men ALT, AST, hàm lượng triglycerid, protein, creatinin, urea, số lượng hồng
cầu, Hb, Hct, bạch cầu, tiểu cầu, khảo sát đại thể tim, gan, thận chuột, mức độ sưng phù chân chuột, mức độ giảm viêm chân chuột, số lần xoắn bụng do đau, nồng độ acid uric máu
Kết quả: Viên Xương khớp Su Tong khi cho chuột uống ở liều gấp 11 lần liều sử dụng trên người không có
biểu hiện độc tính cấp Viên Xương khớp Su Tong ở liều uống 3 viên/kg thể trọng chuột thử nghiệm (gấp hai lần
liều sử dụng hàng ngày trên người, tính theo hệ số quy đổi) không có biểu hiện bất thường về độc tính bán trường diễn sau thời gian uống liên tục hàng ngày trong 2 tháng Viên Xương khớp Su Tong ở liều uống 1-2 viên/kg thể
trọng chuột thử nghiệm (tương đương liều sử dụng hàng ngày trên người, tính theo hệ số quy đổi) có tác dụng kháng viêm cấp và mạn, có tác dụng giảm đau và tác dụng hạ acid uric máu
Kết luận: Những kết quả thu được cho thấy rằng viên xương khớp Su Tong liều 1-2 viên/kg thể trọng có tác
dụng kháng viêm cấp, mạn, có tác dụng giảm đau và hạ acid uric máu, đồng thời khá an toàn khi uống liên tục 2 tháng
Từ khóa: Độc tính cấp và bán trường diễn, tác dụng kháng viêm-giảm đau, tác dụng hạ acid uric máu, viên
xương khớp Su Tong
* Trung Tâm Sâm và Dược liệu Tp Hồ Chí Minh-Viện Dược liệu
** Khoa Y học Cổ Truyền – Đại học Y Dược Tp HCM
Tác giả liên lạc: PGS.TS Nguyễn Thị Thu Hương ĐT: 38292646 Email: huongsam@hotmail.com
Trang 2ABSTRACT
SOME EXPERIMENTAL PHARMACOLOGICAL EFFECTS OF ANTI-OSTEOARTHRITIS CAPSULES
SU TONG COMBINED FROM HOMALOMENA, DRYNARIA FORTUNEI, ANGELICA DAHURICA
Nguyen Thi Thu Huong, Tran My Tien, Nguyen Le Viet Hung
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 18 - Supplement of No 1 - 2014: 136 - 144
Aims: An in vitro study was carried out on some pharmacological effects of Su Tong capsules, an
anti-osteoarthritis herbal drug product, including its safety and efficacy in order to obtain a pre-clinical profile for further clinical study and introduce a new herbal preparation to the medicinal list for musculoskeletal treatment
Study design and setting: A random comparative experimental study had been performed at The Research
Center of Ginseng and Medicinal Materials, Ho Chi Minh City, from Aug 2011 to May 2012 including acute and subchronic oral toxicity tests, Carrageenan-induced acute inflammation, Freund's Complete Adjuvant (FCA)-induced chronic arthritis on mice paws, acetic acid-induced acute abdominal writhing pain on mice, potassium oxonate-induced acute and chronic hyperuricemic model in mice
Subjects: Swiss albino male mice, 5 to 6-week old, 25 ± 2 g body weight, provided by Institute of Vaccine and
Medical Biologicals, Nha Trang city
Observed parameters: Complete blood count (RBC, WBC, platelets, hematocrit, hemoglobin), blood
biochemical tests (liver transaminase AST/ALT, triglyceride, protein, creatinine, blood urea nitrogen) and macro-pathological images of mice heart, liver, kidney, inflammatory levels of mice’s paw, number of abdominal writhing pain and uremia level
Results: Su Tong capsule did not show any signs of acute toxicity in mice at doses of 11-time higher than the
human doses At oral doses of 3 capsules/kg mouse body weight (double high than human daily dose, in conversion coefficient) none of any abnormal changes happened in subchronic oral toxicity tests At doses of 1-2 capsules/kg mouse body weight, the product had shown an anti-inflammatory and analgesic effect Su Tong capsules decreased the experimental acute hyper uremia levels significantly in comparison with control groups In potassium oxonate-induced chronic hyperuremic model, the hypouremic effects of Su Tong capsules after 7 to 14 days treatment were more effective than those of acute hyperuremic model.
Conclusion: A Su Tong capsule is safe after 2-month administration at daily oral dose of 1-2 capsules/kg
mice body weight Su Tong capsule might be useful in combination with treatment of hyperuremia and alleviating inflammation and pain in musculoskeletal diseases.
Keywords: Acute oral toxicity, subchronic oral toxicity, anti-inflammatory effects, analgesic effects,
hypouremic effects, Su Tong capsules
ĐẶT VẤN ĐỀ
Các bệnh lý xương khớp là một bệnh lý
thường gặp, chiếm tỷ lệ cao nhất cả ở các nước
phát triển và đang phát triển, tuy ít gây tử
vong song nó để lại di chứng nặng nề cho
người bệnh, gây đau đớn kéo dài và tàn phế
cho bệnh nhân, nhất là đối với người trung
niên và cao tuổi Nhóm bệnh lý này gắn liền
với nghỉ việc, giảm năng suất lao động và hạn
chế hoạt động hàng ngày Tại Việt Nam, có
đến 30% người trên tuổi 35 bị thoái hóa khớp
Tỷ lệ này là 60% người trên tuổi 65 và 85% người trên tuổi 80 Các bệnh khớp không chỉ gây ra gánh nặng về kinh tế - tinh thần cho bản thân người bệnh, mà cho cả gia đình, xã hội Điều trị bệnh lý xương khớp dài ngày thường gây ra một số biến chứng như viêm loét dạ dày tá tràng, suy gan, thận…Viên xương khớp Su Tong là một thực phẩm chức năng với thành phần hoàn toàn từ thảo dược
Trang 3gồm Thiên niên kiện (40%), Cốt toái bổ (30%),
Bạch chỉ (30%) được bào chế dạng viên nang,
được Bộ Y tế cho lưu hành một vài năm gần
đây Sản phẩm qua thời gian sử dụng cho thấy
có tác dụng tăng cường sức khỏe, mạnh gân
xương, giảm acid uric máu, kháng viêm, giảm
đau hỗ trợ trong điều trị các trường hợp
phong thấp, đau nhức xương khớp, người bị
bệnh gout, tê mỏi chân tay, trường hợp viêm
khớp, viêm khớp dạng thấp
Để có cơ sở nghiên cứu trên lâm sàng đánh
giá tác dụng của thuốc, trong khuôn khổ nghiên
cứu ban đầu này, chúng tôi khảo sát hiệu quả
kháng viêm, giảm đau, hạ acid uric của viên
xương khớp Su Tong trên chuột nhắt trắng bị
gây viêm, đau, tăng acid uric, đồng thời khảo
sát độc tính cấp và độc tính bán trường diễn
của thuốc
PHƯƠNG TIỆN -PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
Phương tiện nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Viên xương khớp Su Tong được cung cấp
bởi Công ty TNHH Giai Cảnh, đóng gói hộp 30
viên nang, cùng lô sản xuất: 67/2011, ngày sản
xuất 31/10/2011 và hạn dùng 31/10/2014 Thành
phần chính trong mỗi viên: 500 mg cao khô gồm
Thiên niên kiện (40%), Cốt toái bổ (30%) và Bạch
chỉ (30%) Viên nang được tháo bỏ vỏ nang, cân
trọng lượng bột viên của 10 viên và xác định
khối lượng trung bình của 01 viên là 500 mg
Động vật thử nghiệm
Chuột nhắt trắng đực (chủng Swiss albino, 5-6
tuần tuổi, trọng lượng trung bình 25 g ± 2 g)
được cung cấp bởi Viện Vắc xin và Sinh phẩm Y
tế Nha Trang, nuôi trong điều kiện ổn định về
chế độ dinh dưỡng
Hóa chất
Carragenin, Freund’s Complete Adjuvant và
kali oxonat (Sigma-Aldrich, USA), acid acetic
(Merck, Germany), các bộ kit định lượng sinh
hóa (Human Co., Germany)
Thuốc đối chiếu
Celebrex® (viên nang chứa celexcocib 200
mg, Pfizer), aspirin pH8 (viên bao phim, chứa
allopurinol (viên nén chứa allopurinol 300 mg, Domesco)
Thiết bị
(Plethysmometer của UgoBasile, Italy), máy phân tích sinh hóa bán tự động Screen Master
3000 và một số dụng cụ thí nghiệm
Phương pháp
Chọn liều thử nghiệm (7)
Dựa vào liều dự kiến sử dụng trên người uống 3 lần/ngày, 2 viên/lần, tổng cộng 6 viên cho 50 kg thể trọng/ngày Quy đổi trên chuột nhắt trắng là 705,6 mg/kg Chọn liều 500 mg/kg (tương đương với 1 viên/kg: liều thử 1);
1000 mg/kg (tương đương với 2 viên/kg: liều thử 2) và liều 1500 mg/kg (tương đương với 3
viên/kg: liều thử 3)
Thử nghiệm độc tính cấp (2,7)
Chuột nhắt chia thành các lô tương tự, những chuột ở cùng một lô sẽ nhận cùng một liều chất khảo sát Sự đánh giá dựa vào phản ứng toàn ứng hay bất ứng (sống hay chết) nhận thấy ở mỗi chuột trong nhóm sau 72 giờ Chuột được tiếp tục theo dõi sau 14 ngày uống
để ghi nhận những triệu chứng bất thường (nếu có) Xác định liều thấp nhất có tác dụng
mà không làm chết chuột và liều làm chết 100% chuột Tính LD50 theo công thức Karber - Behrens Trường hợp tất cả các liều thử đều không có con vật nào chết, thì liều lớn nhất đã thử được ký hiệu là Dmax
Thử nghiệm độc tính bán trường diễn (1,7)
Chia ngẫu nhiên chuột nhắt trắng thành 2 lô,
mỗi lô 12 con:
- Lô bình thường: Uống nước cất, thể tích 0,1 ml/10g thể trọng
- Lô thử: Uống viên xương khớp Su Tong, thể tích 0,1 ml/10g thể trọng ở liều 3 viên/kg
Trang 4Thời gian dùng thuốc: 60 ngàyliên tục
Các chỉ tiêu theo dõi: Thể trọng (g), số lượng
hồng cầu (triệu/mm3), số lượng bạch cầu
(ngàn/mm3), hemoglobin (g/L), hematocrit (%),
AST (U/L), ALT (U/L), ure, creatinin (mg/dL),
triglycerid, protein, giải phẫu đại thể tim, gan,
thận
Phương pháp thử nghiệm tác dụng kháng viêm
cấp bằng carragenin gây phù (6, 7, 8)
Chia ngẫu nhiên chuột nhắt thử nghiệm làm
3 lô, mỗi lô 15 con chuột
Chuột nhắt được cho uống nước cất (lô
chứng) hoặc thuốc thử nghiệm (lô thử, lô thuốc
đối chiếu) 30 phút trước khi tiêm carragenin 1%
(50 l) vào gang bàn chân phải của chuột Chân
trái không tiêm được sử dụng làm lô đối chứng Thuốc thử nghiệm (viên xương khớp Su Tong, liều uống: 1 - 2 viên/kg thể trọng chuột) được tiếp tục cho uống mỗi ngày liên tục trong 3 ngày sau khi tiêm carragenin và 1 giờ trước khi đo thể tích chân chuột Celebrex® (viên nang chứa celexcocib 200 mg, Pfizer) liều uống 25 mg/kg được sử dụng làm thuốc đối chiếu
Đánh giá mức độ viêm bằng cách đo thể tích chân chuột bằng thiết bị đo thể tích chân chuột vào các thời điểm sau tiêm carragenin 3 giờ, 24 giờ, 48 giờ và 72 giờ Tiến hành đo 2 lần và lấy trị
số trung bình Độ sưng phù chân chuột biểu thị mức độ viêm, được tính theo công thức:
Mức độ giảm viêm chân chuột ở các lô thử nghiệm so với lô chứng được tính theo công thức:
% ức chế = [(X – Y)/X] x 100 X: Mức độ viêm chân chuột lô chứng,
Y: Mức độ viêm chân chuột lô đối chiếu hay lô thử nghiệm
Phương pháp thử nghiệm tác dụng kháng viêm
mạn bằng Freund’s Complete Adjuvant (FCA)
gây viêm khớp (3)
Chia ngẫu nhiên chuột nhắt thử nghiệm làm
3 lô, mỗi lô 12 con chuột
Tiêm dưới da vào vị trí quanh khớp bàn
chân phải 50 l FCA Ngày 8, tiêm dưới da
gang bàn chân phải nhắc lại (lần II) 50 l FCA
Chân trái không tiêm được dùng làm lô đối
chứng
Tất cả các lô chuột thử (viên xương khớp
Su Tong, liều uống: 1-2 viên/kg thể trọng
chuột) hoặc thuốc đối chiếu (điều trị) và
chứng (không điều trị) được bắt đầu cho uống
vào ngày thứ 1 và điều trị liên tiếp hàng ngày
cho đến ngày thứ 24 Celebrex® (viên nang
chứa celexcocib 200 mg, Pfizer) liều uống 25
mg/kg làm thuốc đối chiếu Để đánh giá mức
độ viêm, đo thể tích chân chuột bằng thiết bị
đo thể tích chân chuột vào các thời điểm: ngày
2, 4, 9, 14 và 24 sau tiêm FCA (lần 1) Tính toán kết quả tương tự như trên
Phương pháp thử nghiệm tác dụng giảm đau cấp bằng acid acetic gây đau xoắn bụng (4,7)
Chia ngẫu nhiên chuột nhắt thử nghiệm làm
3 lô, mỗi lô 10 con chuột
Chuột nhắt được cho uống nước cất (lô chứng) hoặc viên xương khớp Su Tong (liều uống: 1-2 viên/kg thể trọng chuột) hàng ngày trong 7 ngày và 60 phút trước khi tiêm phúc mô acid acetic 0,6% vào ngày 7 Sau 10 phút, ghi nhận số lần xoắn bụng do đau của súc vật thử trong từng thời gian 5 phút và kéo dài trong 30 phút gồm 6 giai đoạn: 0-5 phút, 6-10 phút, 11-15 phút, 16-20 phút, 21-25 phút, 26-30 phút Thuốc đối chiếu Aspirin pH8 (viên bao phim, chứa acid acetylsalicylic 500 mg, Mekophar) được uống liều duy nhất 200 mg/kg, 60 phút trước khi tiêm phúc mô acid acetic
Phương pháp thử nghiệm tác dụng hạ acid
Số đo thể tích chân trái
Số đo thể tích chân phải – số đo thể tích chân trái
Trang 5uric máu bằng kali oxonat gây tăng acid
uric cấp (5)
Chia ngẫu nhiên chuột nhắt thử nghiệm làm
4 lô, mỗi lô 12 con chuột
- Lô bình thường (chứng sinh lý): Uống nước
cất 4 ngày Ngày 5 tiêm phúc mô NaCl 0, 9%,
uống nước cất
- Lô chứng bệnh lý: Uống nước cất 4 ngày
Ngày 5 tiêm phúc mô kali oxonat 300 mg/kg, 1
giờ sau uống nước cất
- Lô thử: Uống viên xương khớp Su Tong
(liều uống: 1-2 viên/kg thể trọng chuột) hàng
ngày liên tiếp trong 4 ngày Ngày 5 tiêm phúc
mô kali oxonat 300 mg/kg, 1 giờ sau uống viên
xương khớp Su Tong
- Lô đối chiếu: Uống nước cất 4 ngày Ngày 5
tiêm phúc mô kali oxonat 300 mg/kg, 1 giờ sau
uống Allopurinol (viên nén chứa allopurinol 300
mg, Domesco) liều 10 mg/kg
Vào ngày thứ 5, 2 giờ sau khi tiêm kali
oxonat tiến hành lấy máu đuôi chuột để định
lượng hàm lượng acid uric trong huyết tương
Acid uric được định lượng theo kit định lượng
acid uric (Acid Uric Liquidcolor kit, Human Co.)
thực hiện trên máy phân tích sinh hóa bán tự
động Screen Master 3000
Phương pháp thử nghiệm tác dụng hạ acid
uric máu bằng kali oxonat gây tăng acid
uric mạn (5)
Chia ngẫu nhiên chuột nhắt thử nghiệm làm
4 lô, mỗi lô 12 con chuột
- Lô bình thường (chứng sinh lý): Uống nước
cất trong 7 - 14 ngày
- Lô chứng bệnh lý: Tiêm phúc mô kali
oxonat cách ngày, bắt đầu từ liều 300 mg/kg
(ngày 1), giảm dần xuống 250 mg/kg (ngày 3),
200 mg/kg (ngày 5) và duy trì ở liều 150 mg/kg
(ngày 7, 9, 11, 13) Chuột được cho uống nước cất
hàng ngày trong 7-14 ngày
- Lô thử: Gây mô hình tương tự như lô
chứng bệnh lý Chuột được cho uống Viên
Xương khớp Su Tong (liều uống: 1-2 viên/kg thể
trọng chuột) hàng ngày trong 7-14 ngày
- Lô đối chiếu: Gây mô hình tương tự như lô chứng bệnh lý Chuột được cho uống allopurinol
10 mg/kg vào ngày 7 và ngày 14
Lấy máu đuôi chuột ở các thời điểm ngày 1,
7 và 14 để định lượng acid uric huyết tương
Phương pháp xử lý thống kê số liệu thực nghiệm
Số liệu thực nghiệm thể hiện bằng số trung bình (M) ± sai số chuẩn của giá trị trung bình (SEM) Xử lý số liệu bằng phần mềm MS Excel
2007, xử lý thống kê dựa vào phép kiểm One– Way ANOVA và Student-Newman-Keuls test (phần mềm Jandel Scientific SigmaStat-98) Kết quả thử nghiệm đạt ý nghĩa thống kê với độ tin
cậy 95% khi P < 0,05 so với lô chứng tương ứng
KẾT QUẢ-BÀN LUẬN Kết quả khảo sát độc tính cấp
Theo dõi sau 72 giờ thử nghiệm, liều tối đa
có thể cho uống viên xương khớp Su Tong trên chuột nhắt trắng là 33g bột viên/kg thể trọng chuột (tương đương với 66 viên/kg thể trọng chuột) có phân suất tử vong là 0% và không thể xác định được LD50 Sau 14 ngày tiếp tục theo dõi không ghi nhận các triệu chứng bất thường Cho thấy viên xương khớp Su Tong khi cho chuột uống ở liều gấp 11 lần liều sử dụng trên người không có biểu hiện độc tính cấp Từ liều Dmax =
66 viên/kg thể trọng chuột chúng tôi chọn liều 1 viên/kg; 2 viên/kg và 3 viên/kg thể trọng chuột
để tiến hành khảo sát độc tính bán trường diễn
và một số tác dụng dược lý
Kết quả khảo sát độc tính bán trường diễn
Sau 2 tháng thử nghiệm, thể trọng, số lượng hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu, hemoglobin, men gan AST, ALT, triglycerid, protein, ure, creatinin không có sự khác biệt đạt ý nghĩa thống kê giữa
lô uống viên Xương khớp Su Tong với lô chứng uống nước cất (p > 0,05) Riêng chỉ số hematocrit sau 2 tháng tăng đạt ý nghĩa thống kê so với lô chứng (Bảng 1) Giải phẫu đại thể tim, gan, thận
ở các lô đều bình thường Như vậy, viên xương khớp Su Tong ở liều uống 3 viên/kg thể trọng
Trang 6chuột (khoảng 12 viên/người 50 kg/ngày) sau 2
tháng không có biểu hiện bất thường, thể hiện
tính an toàn khi sử dụng dài ngày
Bảng 1: Kết quả khảo sát độc tính bán trường diễn của viên xương khớp Su Tong
Hồng cầu
(triệu tế bào/µl)
Hemoglobin
(g/dl)
Hematocrit
(%)
Tiểu cầu
(103 tế bào/µl)
Bạch cầu
(tế bào/µl)
GOT
(IU/l)
GPT
(IU/l)
Creatinin
(mg/dl)
Urea
(mg/dl)
Thể trọng
(g)
a : P < 0,05 so với trước thử nghiệm; b : P < 0,05 so với lô chứng
Kết quả khảo sát tác dụng kháng viêm cấp của viên xương khớp Su Tong
Bảng 2: Mức độ viêm chân chuột ở các lô thử nghiệm trong thực nghiệm carragenin
Lô TN
N = 15
Mức độ viêm chân chuột (%)
* P < 0,05 so với lô chứng
sulfopolygalactocid, chiết xuất từ Chondrus
crispus, có tác dụng gây viêm cấp Mức độ viêm
tối đa ở trong khoảng thời gian 3 - 4 giờ Kết quả
thực nghiệm cho thấy sau 3 giờ độ phù chân
chuột tăng đạt 96,3 % và giảm dần sau 24 giờ, 48
giờ và 72 giờ sau khi tiêm
Bảng 3: Mức độ giảm viêm chân chuột ở các lô thử
nghiệm so với lô chứng trong thực nghiệm carragenin
Lô TN
N = 15
Mức độ giảm viêm chân chuột (%) Sau 3
giờ
Sau 24 giờ
Sau 48 giờ
Sau 72 giờ
Viên Su Tong
Trang 7Celebrex 25 mg/kg 25,54 47,24 37,63 38,97
Sau 3 giờ gây viêm bằng carragenin, viên
Xương khớp Su Tong ở cả hai liều uống 1 viên
và 2 viên/kg thể trọng chuột đều thể hiện tác
dụng kháng viêm cấp đạt ý nghĩa thống kê so
với lô chứng uống nước cất Sau 24 giờ, 48 giờ và
72 giờ gây viêm bằng carragenin, viên xương
khớp Su Tong ở cả hai liều uống 1 viên và 2
viên/kg thể trọng chuột vẫn duy trì tác dụng
kháng viêm đạt ý nghĩa thống kê so với lô chứng
(Bảng 2)
Mức độ giảm viêm ở lô uống viên Xương
khớp Su Tong là 26,32 % (liều 1 viên) và 31,07 %
(liều 2 viên) Tác dụng của lô uống viên Xương
khớp Su Tong liều 1 viên/kg tương đương với
thuốc đối chiếu Celebrex (25 mg/kg) với mức độ
giảm viêm là 25,54 % Mức độ giảm viêm ở lô
uống viên xương khớp Su Tong ở liều uống 2
viên/kg thể trọng chuột ở thời điểm 24 giờ và 48
giờ tương đương với thuốc đối chiếu Celebrex
(25 mg/kg) Mức độ giảm viêm ở lô uống viên
xương khớp Su Tong ở cả hai liều uống 1 viên và
2 viên/kg thể trọng chuột ở thời điểm 72 giờ
mạnh hơn thuốc đối chiếu Celebrex (Bảng 3)
Kết quả khảo sát tác dụng kháng viêm mạn
của viên xương khớp Su Tong
Dung dịch bổ thể Freund (Freund's complete
adjuvant, FCA) thường được sử dụng để gây
viêm khớp thực nghiệm mạn trên chuột với
những biểu hiện lâm sàng và mô học tương tự
như bệnh viêm khớp ở người Kết quả thực
nghiệm cho thấy sau 2 ngày tiêm FCA mức độ
viêm chân chuột tăng đạt 98,2 % và giảm dần
sau 4 ngày (81,1 %) Vào ngày 9 (24 giờ sau khi
tiêm FCA nhắc lại lần 2), độ viêm chân chuột
tăng tối đa đạt 166,2 % và vẫn duy trì mức độ
viêm > 100 % ở thời điểm đo vào ngày 14 (127,94
%) và ngày 24 (120,75 %)
Kết quả thực nghiệm cho thấy sau 2 ngày
tiêm FCA và cho uống viên xương khớp Su Tong
ở liều uống 1-2 viên/kg thể trọng chuột đều làm
giảm độ viêm chân chuột, thể hiện tác dụng
kháng viêm cấp tương tự như trong thực
nghiệm carragenin Sau khi tiêm FCA nhắc lại lần 2 và ở thời điểm khảo sát vào ngày 9 (với độ viêm chân chuột tối đa) các lô uống viên xương khớp Su Tong liều 2 viên/kg thể trọng và lô uống thuốc đối chiếu Celebrex (liều 25 mg/kg thể trọng chuột) thể hiện tác dụng kháng viêm đạt ý nghĩa thống kê so với lô chứng uống nước cất Sau 14 ngày và 24 ngày gây viêm mạn bằng FCA, viên xương khớp Su Tong ở liều uống 2 viên/kg thể trọng chuột vẫn duy trì tác dụng kháng viêm đạt ý nghĩa thống kê so với lô chứng
ở các thời điểm đo Mức độ giảm viêm ở lô uống viên xương khớp Su Tong ở liều uống 2 viên/kg thể trọng chuột ở các thời điểm đo yếu hơn so với thuốc đối chiếu Celebrex (Bảng 4)
Viên Xương khớp Su Tong ở liều uống 1 viên/kg thể trọng chuột chưa thể hiện tác dụng kháng viêm đạt ý nghĩa thống kê so với lô chứng
ở các thời điểm đo vào các ngày 4, ngày 9 và ngày 14 sau khi tiêm FCA Tuy nhiên, viên xương khớp Su Tong ở liều uống 1 viên/kg thể trọng chuột thể hiện tác dụng kháng viêm mạn đạt ý nghĩa thống kê so với lô chứng ở thời điểm
đo vào ngày 24 sau khi tiêm FCA
Quan sát đại thể chân chuột bị tiêm FCA và uống nước cất cho thấy có những biểu hiện lâm sàng tương tự như bệnh viêm khớp ở người như: sự sưng phù, bị ửng đỏ quanh vùng khớp
cổ chân lan rộng xuống gang bàn chân Các lô uống viên xương khớp Su Tong và lô uống thuốc đối chiếu Celebrex đều có sự sưng phù và ửng
đỏ chỉ khu trú ở vùng gang bàn chân (vị trí tiêm FCA lần 2)
Bảng 4: Mức độ giảm viêm chân chuột ở các lô thử
nghiệm so với lô chứng trong thực nghiệm gây viêm khớp bằng FCA
Lô TN
N = 12
Mức độ giảm viêm chân chuột (%) Ngày 2 Ngày 4 Ngày 9 Ngày 14 Ngày 24
Viên
Su Tong
Trang 8mg/kg
Kết quả khảo sát tác dụng giảm đau của
viên xương khớp Su Tong
Tác dụng giảm đau của Viên SU TONG
0
10
20
30
40
50
60
Lô chứng Viên SU TONG Aspirin
Biểu đồ 1: Tổng số lần xoắn bụng được ghi nhận
trong 30 phút của các lô thử nghiệm trong thực
nghiệm gây đau xoắn bụng bằng acid acetic (* P <
0,05 so với lô chứng)
Khi tiêm acid acetic vào màng bụng chuột
sẽ gây độc tế bào, phản ứng viêm xảy ra và
trong dịch ngoại bào có sự hiện diện các chất
gây đau như kinin, prostaglandin và các chất
chuyển hóa acid, histamin (7) Viên xương khớp
Su Tong ở liều uống 2 viên/kg thể trọng chuột
uống trong 7 ngày làm giảm số lần xoắn bụng
gây bởi acid acetic trên chuột nhắt trắng đạt ý
nghĩa thống kê so với lô chứng, gợi ý chế
phẩm có thể có tác dụng ức chế các chất trung
gian hóa học gây đau
Kết quả khảo sát tác dụng hạ acid uric
máu cấp
Lô tiêm kali oxonat và uống thuốc đối chiếu
Allopurinol liều duy nhất 10 mg/kg thể trọng
chuột có hàm lượng acid uric máu giảm đạt ý
nghĩa thống kê so với lô chứng tiêm kali oxonat
uống nước cất và so với lô chứng bình thường
Lô tiêm kali oxonat và được cho uống hàng ngày trong 5 ngày (điều trị dự phòng) viên xương khớp Su Tong ở liều uống 1 viên/kg và 2 viên/kg thể trọng chuột đều làm giảm hàm lượng acid uric máu đạt ý nghĩa thống kê so với lô chứng bệnh lý tiêm kali oxonat và được cho uống nước cất (Bảng 5) Tác động của viên xương khớp Su Tong ở liều uống 1 viên/kg và 2 viên/kg thể trọng chuột trong thực nghiệm tăng acid uric máu cấp thấp hơn thuốc đối chiếu Allopurinol
Bảng 5: Hàm lượng acid uric máu ở các lô thử
nghiệm trong thực nghiệm gây tăng acid uric cấp bằng kali oxonat ở chuột nhắt trắng
Hàm lượng acid uric (g/dl)
% so với
lô chứng bình thường
2 viên/kg 1,65 ± 0,08* Tăng 11,48
# P< 0,001: So với lô bình thường, * P< 0,05: So với lô chứng bệnh lý
Kết quả khảo sát tác dụng hạ acid uric máu mạn
Lô tiêm kali oxonat và được cho uống hàng ngày trong 14 ngày viên xương khớp Su Tong ở liều uống 1 viên/kg và 2 viên/kg thể trọng chuột đều làm giảm hàm lượng acid uric máu đạt ý nghĩa thống kê so với lô chứng tiêm kali oxonat
và được cho uống nước cất ở các thời điểm khảo sát vào ngày 7 và 14 Tương tự, Allopurinol thể hiện tác động làm giảm hàm lượng acid uric máu điển hình, đạt ý nghĩa thống kê so với lô chứng tiêm kali oxonat và được uống nước cất ở các thời điểm khảo sát (Bảng 6)
Bảng 6: Hàm lượng acid uric máu ở các lô thử nghiệm trong thực nghiệm gây tăng acid uric mạn bằng kali
oxonat ở chuột nhắt trắng
Lô
Hàm lượng acid uric (g/dl)
Trang 9# P< 0,001: So với lô bình thường, * P< 0,05: So với lô chứng bệnh lý
Tuy tác động hạ acid uric máu của viên
xương khớp Su Tong ở liều uống 1 viên/kg và 2
viên/kg thể trọng chuột yếu hơn thuốc đối chiếu
Allopurinol, nhưng có ưu điểm là hạn chế được
các tác dụng phụ (gây nhiễm độc gan, giảm bạch
cầu hạt) và tương tác thuốc với một số kháng
sinh trong điều trị bằng Allopurinol Allopurinol
có thể làm bùng phát bệnh viêm khớp gout
trong khi mức acid uric đang bước đầu được
điều chỉnh và tránh không chỉ định Allopurinol
khi bệnh cảnh viêm đang phát triển vì thuốc có
thể làm nặng và kéo dài cơn viêm khớp gout cấp
Do đó, viên xương khớp Su Tong có thể được sử
dụng trong hỗ trợ điều trị bệnh gout
KẾT LUẬN
Viên xương khớp Su Tong khi cho chuột
uống ở liều gấp 11 lần liều sử dụng trên người
không có biểu hiện độc tính cấp Viên Xương
chuột thử nghiệm (gấp hai lần liều sử dụng
hàng ngày trên người, tính theo hệ số quy đổi)
không có biểu hiện bất thường về độc tính bán
trường diễn sau thời gian uống liên tục hàng
ngày trong 2 tháng Viên xương khớp Su Tong
ở liều uống 1-2 viên/kg thể trọng chuột thử
nghiệm (tương đương liều sử dụng hàng ngày
trên người) có tác dụng kháng viêm cấp và
mạn, có tác dụng giảm đau và tác dụng hạ
acid uric máu
Đề tài này được thực hiện với sự tài trợ kinh
phí của công ty TNHH Giai Cảnh
TÀI LIỆU THAM KHẢO
12/3/1996 về việc ban hành "Quy chế đánh giá tính an toàn và hiệu lực thuốc cổ truyền"
cấp của thuốc NXB Y học Hà Nội, tr 7 - 24
(2010).“Prednisolone-Loaded PLGA Microspheres In Vitro Characterization and In Vivo Application in
Pharm.Sci.Tech, 11(2), pp 859 – 869
analgesic screening. Fed Proc., 18, pp.412 - 417
(2012).“Nghiên cứu tác dụng hạ acid uric máu của cao chiết từ lá Đại bi (Blumea balsamifera L (DC),
Asteraceae)” Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh, tập 16, Phụ
bản của số 1, tr 169 - 174
Evaluation of antinociceptive and antiinflammatory activities of the essential oil (EO) of Ocimum micranthum
Willd from Northeastem Brazil Phytother Res., 19, pp
708 - 712
dược lý của thuốc từ thảo dược NXB Khoa học kỹ thuật Hà
Nội, tr 139 - 143, 313 - 320, 355 - 368, 385 - 386, 377 -387
Carrageenin-induced oedema in hind paw of the rat as a assay for
543 - 547
Ngày nhận bài báo: 28/09/2013 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 06/10/2013,
18/10/2013 Ngày bài báo được đăng: 02/01/2014