1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu xây dựng mô hình bệnh nấm hệ thống do candida để đánh giá hiệu quả thuốc chống nấm in vivo

7 51 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 558,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của bài viết nhằm đánh giá hiệu quả thuốc chống nấm là rất cấp thiết, cả in vitro và in vivo. Bài viết tiến hành nghiên cứu này nhằm xây dựng mô hình bệnh nấm hệ thống do Candida albicans để áp dụng trong thực tiễn.

Trang 1

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MÔ HÌNH BỆNH NẤM HỆ THỐNG DO

Lê Trần Anh*; Nguyễn Tuấn Quang*

TÓM TẮT

Mục tiêu: nhu cầu nghiên cứu và đánh giá hiệu quả thuốc chống nấm là rất cấp thiết, cả in vitro

và in vivo Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm xây dựng mô hình bệnh nấm hệ thống do

Candida albicans để áp dụng trong thực tiễn Phương pháp: gây nhiễm chuột nhắt trắng không

suy giảm miễn dịch qua đường tĩnh mạch Kết quả: liều chết tối thiểu của C albicans là 4 x 10 4

tế bào (TB)/chuột Liều LD 10 là 4 x 104; liều LD 90 là 7,5 x 105 TB/chuột Tại ngày thứ 3 (D3) và D8 sau gây nhiễm, mật độ nấm tại thận là 4,52 và 4,06 log10 CFU (đơn vị hình thành khuẩn lạc)/gam, cao hơn so với mật độ nấm tại gan (3,77 và 2,74 log10 CFU/gam) và lách (2,93 và

2,58 log10 CFU/gam) K ết luận: áp dụng mô hình trong đánh giá thấy amphotericin B có tác dụng

kéo dài thời gian sống của chuột nhiễm liều LD 90 và giảm mật độ nấm ở thận nhiễm liều LD 10

* Từ khóa: Candida albicans; Chuột; Amphotericin B; In vivo

Develop a Murine Model of Disseminated Candidiasis to Evaluate the Efficacy of Antifungals in Vivo

Summary

Objectives: To evaluate the efficacy of anti-fungal drugs are urgently needed, both in vitro and in vivo We conducted this study to develop a model of systemic mycosis caused by Candida albicans to apply in practice Methods: Immunocompetent mice were intravenously infected Results: The minimal lethal dose of C albicans was 10 4 cells/mouse LD 10 dose was

4 x 10 4 ; LD 90 dose was 7.5 x 10 5 cells/mouse At day 3 (D3) and D8 after infection, the fungal burden in kidney were 4.52 and 4.06 log10 CFU (colony forming units)/g respectively, higher than that in the liver (3.77 and 2.74 log10 CFU/g) and spleen (2.93 and 2.58 log10 CFU/g) Conclusion: Applying the model to evaluate the efficacy of amphotericin B showed that amphotericin B reduced mortality rate and the fungal burden in kidneys of mice receiving LD 90

and LD 10 , respectively

* Key words: Candida albicans; Mouse; Amphotericin B; In vivo

ĐẶT VẤN ĐỀ

Các bệnh do nấm đang có xu hướng

ngày càng gia tăng, do đó đòi hỏi phải có

thuốc điều trị bệnh an toàn, hiệu quả

Thuốc sản xuất ra trước khi đưa vào áp dụng điều trị cần được đánh giá hiệu quả một cách khách quan, khoa học Trong đánh giá hiệu quả thuốc có kỹ thuật đánh

giá in vitro và in vivo Đánh giá in vitro có thể

* Học viện Quân y

Người phản hồi (Corresponding): Lê Trần Anh (anh lt@vmmu.edu.vn)

Ngày nhận bài: 27/08/2015; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 25/11/2015

Trang 2

cung cấp thông tin ban đầu về hiệu quả

thuốc, tuy nhiên thuốc có tác dụng tốt

in vitro không đảm bảo có hiệu lực cao

càng đặc biệt quan trọng trong giai đoạn

tiền lâm sàng nghiên cứu hiệu quả phối

hợp thuốc, các thuốc mới, đánh giá hiệu

quả in vivo cũng như độc tính cấp, mạn

của chúng [4, 6] Candida sp là một trong

những tác nhân gây bệnh nấm hệ thống

hay gặp nhất, trong đó C albicans là căn

nguyên phổ biến, do đó được nhiều tác

giả quan tâm nghiên cứu Việt Nam là

nước có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, thuận

lợi cho nấm và các bệnh nấm phát triển

Hiện nay ở Việt Nam chưa có cơ sở nào

thực hiện gây bệnh nấm hệ thống trên

động vật thực nghiệm để đánh giá hiệu

quả thuốc điều trị Chúng tôi tiến hành đề

tài này với mục tiêu: Xây dựng quy trình

gây bệnh nấm hệ thống do Candida

albicans trên động vật thực nghiệm và áp

dụng đánh giá hiệu quả điều trị bệnh nấm

hệ thống in vivo của amphotericin B để

thử nghiệm mô hình

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

- Động vật: chuột nhắt trắng, không phân

biệt đực cái, trọng lượng 20 ± 2 gam

- Nấm: C albicans, chủng ATCC- 90028

2 Vật liệu nghiên cứu

* Dụng cụ:

- Dụng cụ nuôi chuột, giữ chuột để tiêm

tĩnh mạch, bơm tiêm 1 ml, kim 27G

- Dụng cụ nuôi cấy, định lượng nấm: buồng cấy vô trùng, hộp lồng petri, ống nghiệm, que cấy nấm, đèn cồn, kính hiển vi, buồng đếm tế bào Neubauer, máy

ly tâm

- Dụng cụ xác định lượng nấm trong tạng: cân điện tử Mettler Toledo (Thụy Sĩ), chày, cối thủy tinh

* Hóa chất:

- Dung dịch NaCl 0,9%; glucose 5%; gentamicin, formol

- Môi trường Sabouraud (Bio Rad, Pháp)

- Thuốc amphotericin B (amphotret, Bharat Serums and Vaccines Ltd, Ấn Độ)

3 Các kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu

- Nấm C albicans nuôi cấy trong môi trường Sabouraud, ở nhiệt độ phòng theo

kỹ thuật thường quy Vào ngày gây nhiễm, thu hồi nấm bằng nước muối sinh lý, ly tâm hút bỏ dịch 3 lần để rửa Đếm trong buồng đếm tế bào tính toán mật độ nấm

- Tiêm tĩnh mạch đuôi chuột: chuột được giữ trong dụng cụ, bộc lộ đuôi chuột, mỗi lần tiêm 0,2 ml dung dịch nấm/thuốc vào tĩnh mạch đuôi chuột

- Kỹ thuật xác định mật độ nấm trong tạng: lấy tạng bằng phương pháp vô trùng, nghiền trong 2 ml dung dịch NaCl 0,9%

có kháng sinh (gentamycin 160 mg/l) bằng chày/cối vô trùng; hòa loãng 1/10; 1/100 và 1/1.000 lần; cấy trải 0,2 ml trên hộp lồng petri có môi trường Sabouraud, nuôi cấy ở nhiệt độ phòng, đếm khuẩn lạc sau 48 giờ

Trang 3

- Kỹ thuật làm tiêu bản mô bệnh học:

lấy ra tạng cố định ngay vào dung dịch

formol, gửi Bộ môn Giải phẫu Bệnh, Học

viện Quân y làm và đọc tiêu bản

4 Chỉ tiêu nghiên cứu và cách theo

dõi

- Liều chết 10% (LD10), LD90 (tế bào/chuột):

sau khi gây nhiễm chuột được theo dõi

sau 14 ngày để đánh giá, tính toán liều

dựa trên phần mềm

- Mật độ nấm ở các tạng: log10 CFU/

gam tạng

- Hiệu quả điều trị: tỷ lệ sống của chuột

nhiễm liều LD90, mật độ nấm ở thận nhiễm

liều LD10 Chuột được gây nhiễm (ngày D0),

tiêm tĩnh mạch amphotericin B liều 1 mg/kg

thể trọng từ D1 đến D7, theo dõi chuột

đến D14

* Xử lý số liệu: số liệu được xử lý bằng

phần mềm SPSS 16.0

* Thời gian, địa điểm nghiên cứu:

- Thời gian nghiên cứu: 10 - 2014 đến

7 - 2015

- Địa điểm nghiên cứu: Labo Nấm, Bộ

môn Ký sinh trùng, Học viện Quân y

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ

BÀN LUẬN

1 Xây dựng quy trình bệnh nấm hệ

thống do C albicans

Bảng 1: Xác định liều nấm C albicans

thấp nhất gây chết chuột

(TB/chuột)

Tình trạng sống/chết

Liều tối thiểu gây chết chuột là 104 TB

Gây nhiễm bệnh nấm hệ thống trên động vật thực nghiệm có thể có nhiều mục đích khác nhau và có thể áp dụng

mô hình khác nhau Chúng tôi lựa chọn

mô hình gây nhiễm C albicans qua đường tĩnh mạch để tạo bệnh nấm hệ thống trên chuột không suy giảm miễn dịch,

vì C albicans là nguyên nhân phổ biến

nhất của bệnh nấm Candida hệ thống và được nghiên cứu nhiều nhất trên động vật; chuột nhắt trắng có nhiều ưu điểm như chi phí thấp, dễ nuôi, điều kiện kỹ thuật tương đối dễ dàng, dễ mua từ các nhà cung cấp

Kết quả tìm được liều chết tối thiểu của chủng C albicans là 104 TB/chuột

Bảng 2: Liều gây chết của C albicans

(TB/chuột)

Liều LD10 là 4 x 104; liều LD90 là 7,5 x 105 TB/chuột

Sau khi lựa chọn được điều kiện thí nghiệm, cần xác định liều gây nhiễm Kết quả tìm LD10 và LD90 của chúng tôi phù hợp với một số tác giả khác C albicans ATCC 90028 có độc lực khá cao, khi gây

Trang 4

nhiễm liều 5 - 6,8 x 105 cfu/chuột trung vị,

thời gian sống của chuột 7 ngày [10]

Graybill và CS (1996) thấy liều LD10 là 2,7 x

104 CFU/chuột [5] Liều 1 x 106 CFU/chuột

là liều chuẩn (LD90) trong các nghiên cứu

so sánh hiệu lực kéo dài thời gian sống

[4, 10]

Bảng 3: Mật độ C albicans tại các

tạng sau gây nhiễm liều LD10 (mean ± SE,

log10 CFU/g, n = 5)

Thời

gian

Thận

(1)

Gan (2)

Lách (3)

D3 4,52 ± 0,16 3,77 ± 0,10 2,93 ± 0,25 < 0,05

D8 4,06 ± 0,26 2,74 ± 0,19 2,58 ± 0,32 < 0,05

Tại các thời điểm mật độ nấm ở thận

đều cao hơn ở gan, lách

Kết quả nghiên cứu mật độ nấm tại

một số tạng chuột của chúng tôi phù hợp

với đa số các tác giả: thận là nơi có mật

độ nấm cao nhất Nghiên cứu của Chin

và CS (2014) cho thấy mật độ nấm ở

phổi, gan giảm rất nhanh (2 logs và 1 log

sau 24 - 168 giờ gây nhiễm), mật độ nấm

ở thận tăng 2 logs từ 24 - 72 giờ và giảm

nhẹ sau 168 giờ [3] Theo Leunk và CS

(1979), sau khi gây nhiễm nấm C albicans

vào tĩnh mạch đuôi của chuột, sau 30 phút

thấy nấm tập trung chủ yếu ở phổi (23%),

gan (7,5%), nhưng khi chuột chết, lượng

nấm phân lập được tại thận chiếm tới

98,2% [7] Nghiên cứu của Odds và CS

(2000) thấy thận là cơ quan có mật độ

nấm C albicans cao nhất, khoảng 105cfu/g

trong 4 ngày đầu, 106 - 107 (cfu/g) ngày 14

Tại phổi, gan, lách: 103 ± 105cfu/g ngày 1;

giảm xuống dưới < 100 cfu/g ngày thứ 7

sau gây nhiễm; mật độ C albicans ở não

chuột thấp [9] Chính vì lý do mật độ nấm

ở thận cao nhất nên đa số các nghiên

cứu đều đánh giá hiệu quả thuốc điều trị đến mật độ nấm ở thận

x 100 lần

x 400 lần

(PAS, x 630 lần)

Các tế bào nấm men nảy chồi, màu tím đỏ

Trang 5

Làm tiêu bản mô bệnh học để đánh giá

tổn thương các tạng cho thấy tại thận,

gan xuất hiện ổ viêm với những tế bào

nấm men, chứng tỏ nấm lan tràn đến

thận, gan Theo Ashman (1996), tại thận

thấy viêm thận cấp (acute pyelonephritis), các tế bào nấm men, sợi nhìn rõ ở thận chuột có biểu hiện viêm nặng, ở chuột viêm nhẹ không thấy thâm nhiễm tế bào bạch cầu đa nhân [2]

2 Đánh giá hiệu quả của amphotericin B trong điều trị bệnh nấm hệ thống do

C albicans

Thuốc

(p < 0,001)

Biểu đồ 1: Tỷ lệ sống theo thời gian của chuột gây

nhiễm C albicans liều LD90 và điều trị

Kết quả nghiên cứu cho thấy amphotericin B có hiệu quả điều trị, thể hiện bằng kéo

dài thời gian sống ở chuột gây nhiễm C albicans liều LD90 (p < 0,001)

Trong đánh giá hiệu quả của thuốc, 2 chỉ tiêu chính hay sử dụng là tác dụng kéo dài

thời gian sống của động vật khi gây nhiễm liều LD90 và giảm mật độ nấm ở tạng khi

gây nhiễm liều LD10 [4, 6] Nghiên cứu của chúng tôi tiến hành theo khuyến cáo của một

Trang 6

số nhà nghiên cứu để đánh giá thời gian sống chuột được gây nhiễm liều LD90%, điều trị thuốc sau 24 giờ và kéo dài 7 ngày, theo dõi chuột chết trong vòng 2 tuần [6] Khi sử dụng đường cong Kaplan-Meier cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,001)

CFU/g, n = 5)

< 0,01

< 0,01

(Non parametric test, Mann-Whitney U test)

Mật độ nấm ở thận chuột sau gây nhiễm C albicans liều LD10 ở D3 và D8 tiêm amphotericin B giảm rõ ràng so với nhóm chứng

Trong nghiên cứu này chúng tôi đánh

giá mật độ nấm ở hai thời điểm giữa đợt

điều trị (D3) và sau khi kết thúc điều trị 24

giờ theo hướng dẫn của Viện Nghiên cứu

Bệnh Dị ứng và Truyền nhiễm Quốc gia

Mỹ (NIAID) [8] và được áp dụng trong

một số nghiên cứu [4, 6]

Kết quả nghiên cứu cho thấy ở cả hai

thời điểm, amphotericin B đều làm giảm

rõ rệt mật độ nấm tại thận, ở D8 một số

chuột không thấy nấm Nghiên cứu cũng

cho thấy mật độ nấm giảm rõ ràng, có

những chuột không thấy nấm mọc nữa,

nhưng không phải tất cả chuột đều sạch

nấm Theo một số tác giả, mặc dù thuốc

chống nấm có tác dụng rất nhanh trên in

vitro nhưng không một loại thuốc nào (kể

cả polyene như amphotericin B) làm sạch

nấm hoàn toàn in vivo; có thể do môi

trường in vivo có tác dụng bảo vệ nấm

khỏi thuốc hay thuốc khó tiếp cận nấm gây bệnh [1]

KẾT LUẬN

- Chúng tôi đã xây dựng được mô hình chuột thực nghiệm mắc bệnh hệ thống

do C albicans qua gây nhiễm tĩnh mạch

đuôi chuột không suy giảm miễn dịch

- Liều tối thiểu C albicans gây chết là

104 TB/chuột Liều LD10 là 4 x 104; LD90 là 7,5 x 105 TB/chuột Tại ngày thứ 3 (D3)

và D8 sau gây nhiễm, mật độ nấm tại thận là 4,52 và 4,06 log10 CFU/gam, cao hơn so với mật độ nấm tại gan (3,77 và 2,74 log10 CFU/gam) và lách (2,93 và 2,58 log10 CFU/gam)

- Áp dụng mô hình trong đánh giá thấy amphotericin B có tác dụng kéo dài thời gian sống của chuột nhiễm liều LD90 và giảm mật độ nấm ở thận nhiễm liều LD10

Trang 7

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Anaissie EJ, McGinnis MR, Pfaller MA,

Anstead GM, Arora A Clinical Mycology

(second edi.) Elsevier Inc 2009

2 Ashman RB, Fulurija A, Papadimitriou JM

Strain-dependent differences in host response

to Candida albicans infection in mice are related

to organ susceptibility infectious load Infection

and Immunity 1996, 64 (5), pp.1866-1869

3 Chin VK, Foong KJ, Maha A, Rusliza B,

Norhafizah M, Chong PP Multi-step pathogenesis

and induction of local immune response by

systemic Candida albicans infection in an

intravenous challenge mouse model International

Journal of Molecular Sciences 2014, 15 (8),

pp.14848-14867 doi:10.3390/ijms150814848

4 Graybill J The role of murine models in

the development of antifungal therapy for systemic

mycoses Drug Resistance Updates 2000, 3,

pp.364-383 doi:10.1054/drup.2000.0171

5 Graybill JR, Bocanegra R, Fothergill A,

Rinaldi MG Bleomycin therapy of experimental

disseminated candidiasis in mice Antimicrobial

Agents and Chemotherapy 1996, 40 (3), pp.816-818

6 Kavanagh K Medical Mycology: Cellular

and Molecular Techniques West Sussex, England: John Wiley & Sons 2007

7 Leunk RD, Moon RJ Physiological and

metabolic alterations accompanying systemic candidiasis in mice Infect Immun 1979, 26 (3), pp.1035-1041

8 NIH/NIAID (n.d.) Standard Operating

Procedure (SOP) Candida albicans Murine

Invasive Candidiasis Model NIH/NIAID Task Order A13

9 Odds FC, Nuffel L Van, Gow NA R

Survival in experimental Candida albicans

infections depends on inoculum growth conditions

as well as animal host Microbiology 2000,

146 (8), pp.1881-1889

10 Wiederhold NP, Najvar LK, Bocanegra Ra, Kirkpatrick WR, Patterson TF Caspofungin

dose escalation for invasive candidiasis due

to resistant Candida albicans Antimicrobial

Agents and Chemotherapy 2011, 55 (7), pp.3254-3260 doi:10.1128/AAC.01750-10

Ngày đăng: 23/01/2020, 01:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w