Tổng hợp Quan hệ kinh tế quốc tế
Trang 1MUÏC LUÏC
Trang
Trang 1
Trang 2CÁC NGUYÊN TẮC ÁP DỤNG TRONG QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ
PHÂN TÍCH CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC KHI VIỆT NAM THỰC THI ĐẦY ĐỦ CÁC NGUYÊN TẮC NÀY
TRONG QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ
I CÁC NGUYÊN TẮC ÁP DỤNG TRONG QUAN HỆ KINH TẾ
QUỐC TẾ:
1/ Nguyên tắc “Tối huệ quốc” MFN –Most Favoured Nation:
a- Khái Niệm :
Đây là một phần của nguyên tắc “không phân biệt đối
xử” (Non- discrimination) Nghĩa là các bên tham gia trong quan hệ
kinh tế thương mại sẽ dành cho nhau những điều kiện ưu đãi không
kém hơn những ưu đãi mà mình đã hoặc dành cho nước khác
Nguyên tắc này được hiểu theo hai cách:
Cách một: Tất cả các những ưu đãi và miễn giảm mà một
bên tham gia trong các quan hệ kinh tế - thương mại quốc tế đã hoặc
sẽ dành cho bất kỳ một nước thứ ba nào, thì cũng được dành cho bên
tham gia kia được hưởng một cách không điều kiện
Cách hai: Hàng hóa di chuyển từ một bên tham gia trong
quan hệ kinh tế thương mại này đưa vào lãnh thổ của bên tham gia kia
sẽ không phải chịu mức thuế và các tổn phí cao hơn, không bị chịu
những thủ tục phiền hà hơn so với hàng hóa nhập khẩu từ nước thứ ba
khác
b- Bản chất :
Bản chất của nguyên tắc “Tối huệ quốc” là : Quy chế Tối
huệ quốc là không phải cho nhau hưởng các đặc quyền, mà là đảm
bảo sự bình đẳng giữa các quốc gia có chủ quyền về các cơ hội giao
dịch thương mại và kinh tế
Mục đích của việc sử dụng nguyên tắc “Tối huệ quốc”
trong thương mại quốc tế là nhằm chống phân biệt đối xử trong buôn
bán quốc tế, làm cho điều kiện cạnh trang giữa các bạn hàng ngang
bằng nhau nhằm thúc đẩy quan hệ buôn bán giữa các nước phát triển
Mức độ và phạm vi áp dụng nguyên tắc MFN phụ thuộc vào mức độ
quan hệ thân thiện giữa các nước với nhau
c- Cơ chế hoạt động:
Nguyên tắc MFN được các nước tùy vào lợi ích kinh tế
của mình mà áp dụng rất khác nhau, nhưng nhìn chung có 2 cách áp
dụng :
+ Áp dụng chế độ tối huệ quốc có điều kiện : Quốc gia được hưởng
tối huệ quốc phải chấp nhận thực hiện những điều kiện kinh tế do
chính phủ của quốc gia cho hưởng đòi hỏi
+ Áp dụng chế độ tối huệ quốc không điều kiện : là nguyên tắc nước
này cho nước khác hưởng chế độ MFN mà không kèm theo điều kiện
ràng buộc nào cả
Theo tập quán quốc tế thì nguyên tắc Tối huệ quốc là
nguyên tắc điều chỉnh các mối quan hệ thương mại và kinh tế giữa
các nước trên cơ sở các hiệp định, hiệp ước ký kết giữa các nước một
cách bình đẳng và có đi có lại cùng có lợi
Vì vậy để đạt được chế độ “Tối huệ quốc” của một quốc
gia khác thì có 2 phương pháp thực hiện:
+ Thông qua đàm phán song phương để ký kết các hiệp định thương
mại
+ Gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO
d- Nguyên tắc chế độ thuế quan ưu đãi phổ cập GSP (The
Generalized Systems Preferential)
* Khái niệm:
Là chế độ tối huệ quốc đặc biệt của các nước công nghiệp
phát triển dành cho các nước đang phát triển khi đưa hàng công
nghiệp chế biến vào các nước này
Nội dung chính của chế độ thuế quan ưu đãi phổ cập là:
+ Giảm thuế hoặc miễn thuế quan đối với hàng nhập khẩu từ các nước
đang hoặc kém phát triển
+ GSP áp dụng cho các loại mặt hàng công nghiệp thành phẩm hoặc
bán thành phẩm và hàng loạt các mặt hàng công nghiệp chế biến
* Bản chất :
Chế độ ưu đãi được xây dựng trên cơ sở không có sự phân
biệt và không đòi hỏi bất kỳ nghĩa vụ nào từ phía các nước đang phát
triển
Chế độ GSP không mang tính “có đi có lại”: không buộccác nước được nhận ưu đãi theo chế độ GSP, phải cho các nước chohưởng những ưu đãi tương tự
Chế độ GSP chỉ dành cho các nước đang phát triển : Đây
là chế độ thuế ưu đãi mà các nước công nghiệp phát triển dành chocác nước đang phát triển Cho nên trong quá trình thực hiện GSP, cácnước công nghiệp phát triển kiểm soát và khống chế các nước nhận
ưu đãi rất chặt, thể hiện ở cách quy định về nước được hưởng GSP
Trên cơ sở của Hệ thống GSP, mỗi quốc gia xây dựng mộtchế độ GSP cho riêng mình với những nội dung, quy định, mức ưuđãi khác nhau tuy nhiên mục tiêu của hệ thống GSP vẫn được đảmbảo
* Các mục tiêu chính của GSP là:
+ Tạo điều kiện để các nước đang phát triển thấy được khả năng tiềmtàng về mở rộng buôn bán phát sinh từ chế độ GSP và tăng cường khảnăng sử dụng chế độ này
+ Tăng kim ngạch xuất khẩu của các nước được hưởng
+ Thúc đẩy công nghiệp hoá của các nước này
+ Đẩy mạnh mức tăng trưởng kinh tế của những nước này
+ Phổ biến thông tin về các quy định và thủ tục điều chỉnh buôn bántheo chế độ này
+ Giúp đỡ các nước được hưởng thiết lập những điểm trọng tâm trongnước để tăng cường sử dụng GSP
+ Cung cấp thông tin về các quy định liên quan đến thương mại nhưthuế chống phá giá và chống bù giá, các quy định hải quan, thủ tụcgiấy phép nhập khẩu, và pháp luật thương mại khác quy định các điềukiện thâm nhập thị trường các nước cho hưởng
Chế độ ưu đãi phổ cập mới không có giới hạn ưu đãi Cáchạn ngạch trước kia, khối lượng xác định được miễn thuế hoặc cácmức trần hạn chế khối lượng hàng xuất khẩu được hưởng ưu đãi đãđược loại bỏ Miễn giảm thuế được điều chỉnh theo mức độ nhạy cảmcủa sản phẩm mà đã được chia làm bốn loại sau:
+ Các sản phẩm rất nhạy cảm ví dụ như : dệt may, quần áo + Các sản phẩm nhạy cảm ví dụ như sản phẩm da, giày dép + Các sản phẩm bán nhạy cảm ví dụ như đồ trang sức , hàng điện tử
và một số hàng da+ Các sản phẩm không nhạy cảm vd: nội thất bằng gỗ, đồ chơi, tròchơi, hàng thể thao
* Cơ chế hoạt động:
- Những nước đang có chế độ ưu đãi phổ cập:
+Hiện nay, có khoảng 16 chế độ ưu đãi khác nhau đanghoạt động tại 36 nước phát triển, bao gồm 27 nước thành viên của EU
+ EU: Pháp, Đức, Italia, Bỉ, Hà Lan, Lúc- xăm-bua, Anh,Ailen, Đan mạch, Hylạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Áo, Thuỵ Điển,Phần lan, Séc, Hungaria, Ba Lan, Slovakia, Slovenia, Litva, Latvia,Estonia, Malta, Síp, Bungari và Rumani
+ Nhật, Niu - Di - Lân, Thuỵ Sĩ, Nga, Mỹ, các quốc giatrung lập (CIS), Canada, Na - Uy, Ôx-Trây-Lia, Ru-Ma-Ni
- Nước được hưởng GSP:
+ Bao gồm những nước đang phát triển và những nước kém pháttriển Các nước kém phát triển thường được hưởng một chế độ đặcbiệt riêng, có nhiều ưu đãi hơn các nước đang phát triển Đối với mỗiquốc gia dành ưu đãi, các nước được hưởng được liệt kê trong danhsách ban hành kèm theo chế độ GSP
- Hàng hoá được hưởng ưu đãi:
+ Hàng hoá được hưởng ưu đãi được phân loại thành hainhóm: các sản phẩm công nghiệp và các sản phẩm nông nghiệp
+ Danh mục hàng hoá được hưởng được các nước chohưởng ưu đãi ban hành có sửa đổi định kỳ và được xây dựng trên có
sở biểu thuế xuất nhập khẩu của nước đó
+ Việc bổ sung hay loại bỏ một mặt hàng nào đó trongDanh mục được các nước cho hưởng ưu đãi thực hiện dựa trên tìnhhình sản xuất trong nước mặt hàng đó
- Mức độ ưu đãi:
Trang 2
Trang 3+ Các nước cho hưởng ưu đãi quy định thuế suất ưu đãi
cho chế độ GSP dựa trên mức thuế suất của chế độ đối xử tối huệ
quốc (MFN)
+ Nhìn chung, thuế suất ưu đãi theo chế độ GSP ở mức
thấp khoảng vài phần trăm hoặc được miễn hoàn toàn
- Quy định đối với hàng hóa được hưởng chế độ GSP:
+ Không phải bất kỳ sản phẩm nào nhập khẩu vào các
nước cho hưởng từ những nước được hưởng đều được miễn hay giảm
thuế theo GSP Để được hưởng chế độ thuế quan ưu đãi GSP, hàng
nhập khẩu vào thị trường những nước cho hưởng phải thỏa mãn 3
điều kiện cơ bản sau:
Điều kiện xuất xứ từ nước được hưởng
+ Điều kiện về vận tải (ví dụ như hàng vận chuyển không
qua lãnh thổ của nước thứ ba hoặc không bị mua bán, tái chế tại
nước thứ ba)
+ Điều kiện về giấy chứng nhận xuất xứ ( chứng từ xác
nhận xuất xứ From A)
c.1) Điều kiện xuất xứ :
Mục đích chính của Điều kiện xuất xứ là đảm bảo là
những lợi ích của chế độ ưu đãi thuế quan theo Hệ thống ưu đãi phổ
cập (GSP) chỉ được dành cho những sản phẩm mà thực sự có được do
thu hoạch, sản xuất, gia công hoặc chế biến ở những nước xuất khẩu
được hưởng
Một mục đích nữa là những sản phẩm xuất xứ ở một nước
thứ ba, ví dụ là một nước không được hưởng, chỉ quá cảnh qua, hoặc
đã chỉ trải qua một giai đoạn chế biến không đáng kể hoặc không ảnh
hưởng tới thành phần, bản chất của sản phẩm tại một nước được
hưởng ưu đãi, sẽ không được hưởng ưu đãi từ chế độ thuế quan GSP
Có hai tiêu chuẩn được sử dụng để xác định hàng hóa có
thành phần nhập khẩu đã trãi qua “ quá trình gia công tái chế cần
thiết” hay chưa :
+Tiêu chuẩn gia công: những nguyên vật liệu, chi tiết hay
bộ phận nhập khẩu được coi là đã trãi qua “quá trình gia công tái chế
cần thiết” nếu như sản phẩm cuối cùng thu được nằm trong hạng mục
khác với những hạng mục của những nguyên vật liệu, chi tiết hay bộ
phận nhập khẩu sử dụng trong Biểu Thuế Quan Chung
+ Tiêu chuẩn tỷ trọng: Quy định tỷ lệ phần trăm tối thiểu
đối với lao động và nguyên vật liệu phải được sản xuất tại các nước
xuất khẩu hoặc quy định tỷ lệ phần trăm tối đa đối với nguyên vật liệu
nhập khẩu để làm hàng xuất khẩu sang nước cho hưởng GSP Và
hàng hóa đạt được tiêu chuẩn tỷ trọng thì mới được coi là sản phẩm
thực sự sản xuất tại các nước được hưởng thuế nhập khẩu ưu đãi Ở
các nước công nghiệp phát triển khác nhau, cách quy định tiêu chuẩn
về tỷ trọng có khác nhau
Ngoài ra còn có hai quy tắc khác, đó là : Quy tắc cộng gộp và quy
tắc bảo trợ :
* Quy tắc cộng gộp theo khu vực:
- Theo hệ thống này thì những nước cho hưởng sẽ ký kết một thỏa
ước với một khối nước trong khu vực cho phép rằng một hàng hóa có
xuất xứ tại bất kỳ một nước nào đó trong khu vực, cũng được coi là có
xuất xứ một nước khác trong cùng khu vực đó
* Quy tắc bảo trợ:
- Một số nước như Úc, Canada, Nhật Bản, NewZealand, EU áp
dụng quy tắc bảo trợ Quy tắc này cho phép nguyên phụ liệu nhập từ
nước cho hưởng để sản xuất ra thành phẩm tại nước được hưởng sẽ có
xuất xứ của nước được hưởng với điều kiện sản phẩm này được xuất
ngược trở lại nước cho hưởng
c.2) Điều kiện vận tải:
Quy định bắt buộc sản phẩm có xuất xứ phải được vận
chuyển thẳng từ nước được hưởng đến nước cho hưởng là một vấn đề
quan trọng phổ biến của tất cả các quy tắc xuất xứ GSP trừ của Úc
Mục đích của quy định này là cho phép cơ quan hải quan nước cho
hưởng nhập khẩu bảo đảm rằng sản phẩm nhập khẩu chính là những
sản phẩm từ nước được hưởng, có nghĩa là chúng không bị tác động,
thay thế, gia công chế biến thêm hoặc được đưa vào buôn bán tại bất
kỳ nước thứ ba trung gian nào Mỗi nước quy định điều kiện về vận
tải khác nhau Dưới đây là quy định của một số nước:
+ Ca-na-đa, Cộng đồng Châu Âu, Nhật, Niu-di-lân, Na Uy và Thuỵ Sĩ
đều quy định:
(a) Sản phẩm phải được vận chuyển không qua lãnh thổ
của một nước thứ ba nào khác
(b) Sản phẩm vận chuyển đi qua lãnh thổ của một nướckhác, có hoặc không có chuyển tải hoặc lưu kho ở nước đó, với điềukiện sản phẩm đó vẫn nằm trong sự kiểm soát của hải quan của nướcquá cảnh hoặc lưu kho và không được mua bán hoặc được sử dụng tại
đó, và không trải qua các hoạt động nào khác ngoài hoạt động dỡhàng, xếp hàng và các hoạt động bắt buộc để bảo quản sản phẩmtrong trạng thái tốt
Ngoài hai nội dung trên, mỗi nước trên lại có thêm quy định riêngkhác:
- Na-Uy và Thuỵ Sĩ quy định lô hàng có thể được chia nhỏ
và đóng gói lại, nhưng không được đóng gói để phục vụ bán lẻ
- EU quy định vận chuyển qua nước thứ ba phải đượcchứng minh là do điều kiện địa lý hoặc vì lý do yêu cầu vận tải.Những sản phẩm được vận chuyển bằng đường ống liên tục qua lãnhthổ không phải là lãnh thổ của nước được hưởng xuất khẩu hoặc lãnhthổ của EU, được coi là được vận chuyển thẳng từ nước được hưởngđến EU, và ngược lại
- Nhật quy định vận chuyển qua nước thứ ba phải vì lý dođịa lý hoặc vì yêu cầu của vận tải Nhật chấp nhận, trên nguyên tắc,việc chuyển tàu hoặc lưu kho tạm thời dưới sự giám sát của cơ quanhải quan nước quá cảnh Việc chuyển tàu hoặc lưu kho tạm thời phảiđược thực hiện tại khu vực ngoại quan hoặc những nơi tương tự
- Niu-Di-Lân quy định những sản phẩm của một nướcđược hưởng được phép đưa vào thương mại tại một nước được hưởngkhác mà không mất tiêu chuẩn xuất xứ
- Na-Uy không có quy định về vận tải
- Mỹ quy định:
Những sản phẩm phải đến Mỹ sau khi rời khỏi nước sảnxuất Quy tắc riêng áp dụng cho những chuyến đi qua khu vực mậudịch tự do tại nước được hưởng như sau:
(a) Hàng hoá không được đưa vào buôn bán tại nước có khu vực mậudịch tự do đó
(b) Hàng hoá không được trải qua bất kỳ hoạt động nào khác ngoài:
+ Lựa chọn, phân loaị, hoặc kiểm tra;
+ Đóng gói, tháo mở bao bì, thay đổi bao bì, gạn chắt hoặcđóng gói lại vào công ten nơ khác;
+ Dán hay ghi ký hiệu, nhãn hiệu, hoặc những dấu hiệuhay những điểm hoặc bao bì phân biệt tương tự khác, nếu mang tínhtrợ giúp cho những hoạt động được phép theo những quy định đặcbiệt; hoặc
+ Những hoạt động cần thiết để bảo đảm việc bảo quảnhàng hoá trong tình trạng bình thường khi được đưa vào khu mậu dịch
tự do;
(c) Hàng hoá có thể được mua và bán lại, không phải là bán lẻ, đểxuất khẩu trong khu mậu dịch tự do Vì mục đích của những quy địnhđặc biệt này, khu mậu dịch tự do là khu vực hoặc một vùng được xácđịnh trước đã được thông báo hoặc bảo hộ của chính phủ, ở nơi nàynhững hoạt động nhất định có thể được tiến hành đối với hàng hoá,trừ những hàng hoá như vậy nhưng đã đi vào lưu thông thương mạicủa nước có khu mậu dịch tự do
+ Bungary, Cộng hoà Séc, Hungary, Ba Lan, Liên bangNga và Slôvakia
+ Những nước này áp dụng quy tắc mua thẳng và vậnchuyển thẳng Hàng hoá được coi là được "mua thẳng" nếu ngườinhập khẩu đã mua chúng từ một công ty đăng ký tại nước đượchưởng Hàng hoá xuất xứ từ nước được hưởng phải được vận chuyểntới nước cho hưởng Hàng hoá vận chuyển qua lãnh thổ một hoặcnhiều nước vì lý do địa lý, vận tải, kỹ thuật hay lý do kinh tế cũngphải tuân theo quy tắc vận tải thẳng thậm chí nếu chúng được lưu khotạm thời tại lãnh thổ những nước này, với điều kiện hàng hoá đó vẫnluôn nằm dưới sự kiểm soát của hải quan nước quá cảnh
c.3) Điều kiện về giấy chứng nhận xuất xứ:
Việc đòi ưu đãi từ chế độ GSP phải được chứng minh bằngchứng từ phù hợp về xuất xứ và vận tải
* Chứng từ về xuất xứ
- Tất cả các nước cho hưởng đều quy định:
- Sản phẩm có xuất xứ khi nhập khẩu phải có Tờ Khai Tổng Hợp vàGiấy chứng nhận Xuất Xứ Mẫu A, đã được điền đầy đủ và ký bởingười xuất khẩu và được chứng nhận bởi một cơ quan có thẩm quyềntại nước xuất khẩu được hưởng
- Các nước cho hưởng còn có các quy định thêm khác:
+ Úc, yêu cầu chính là lời khai của người xuất khẩu trênhoá đơn thương mại Mẫu A có thể được dùng để thay thế, nhưngkhông yêu cầu phải có chứng nhận
Trang 3
Trang 4+ Canada, yêu cầu chính là lời trình bày của người xuất
khẩu trên hoá đơn hoặc làm thành bản riêng
+ Niu-Di-Lân không đòi hỏi người xuất khẩu xuất trình
giấy chứng nhận xuất xứ hay tờ khai quy định chính thức, dù người
xuất khẩu có thể bị yêu cầu thẩm tra
+ Nhật: Nhật chấp nhận giấy chứng nhận xuất xứ được cấp
bới cơ quan chính phủ (ví dụ: phòng thương mại)
* Chứng từ về vận chuyển thẳng:
- Đối với trường hợp xuất khẩu đến EU, Nhật, Na-Uy và Thuỵ Sĩ,
hàng hoá xuất khẩu đi qua lãnh thổ một nước thứ ba, chứng từ chứng
minh điều kiện vận chuyển thẳng đã được đáp ứng phải được trình
cho cơ quan hải quan nước nhập khẩu bao gồm:
+ Vận đơn suốt cấp tại nước xuất khẩu được hưởng, thể hiện
việc đi quan một hay nhiều nước quá cảnh; hoặc
+ Giấy chứng nhận của cơ quan hải quan của một hay nhiều
nước quá cảnh:
- Thể hiện mô tả chính xác hàng hoá;
- Ghi ngày dỡ hàng và xếp hàng hoặc ngày lên tàu hoặc
xuống tàu, ghi rõ tàu sử dụng;
- Xác nhận những tình trạng của sản phẩm trong khi đi qua
các nước quá cảnh
+ Không có các giấy tờ trên, bất kỳ giấy tờ thay thế nào được
cho là cần thiết (ví dụ, bản sao lệnh mua hàng, hóa đơn của người
cung cấp hàng, vận đơn thể hiện tuyến đường hàng đi)
- Đối với hàng xuất sang Mỹ, người nhập khẩu có thể phải xuất trình
các giấy tờ hàng hải, hoá đơn hoặc các giấy tờ khác làm bằng chứng
chứng minh hàng hoá được nhập khẩu thẳng Cơ quan hải quan Mỹ có
thể không đòi hỏi xuất trình chứng từ về vận chuyển thẳng khi cơ
quan này biết rõ rằng hàng hoá đáp ứng tiêu chuẩn xuất xứ GSP
Trong trường hợp vận chuyển quá cảnh, hoá đơn, vận đơn và giấy tờ
khác liên quan đến vận tải phải được trình cho hải quan Mỹ nơi đến
cuối cùng
e- Nguyên tắc đối xử quốc gia –NT ( National Treatment):
* Khái niệm:
- Nguyên tắc đối xử quốc gia là nguyên tắc tạo ra môi trường kinh
doanh bình đẳng giữa nhà kinh doanh trong nước và kinh doanh nước
ngoài trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ và đầu tư Cụ thể, hàng nhập
khẩu không phải chịu mức thuế, lệ phí, thủ tục kinh doanh, và bị áp
đặt những tiêu chuẩn kỹ thuật, vệ sinh an toàn thực phẩm cao hơn so
với hàng hóa sản xuất nội địa
* Bản chất:
- Nguyên tắc đối xử quốc gia là không phải cho nhau hưởng các đặc
quyền, mà là đảm bảo sự bình đẳng giữa các quốc gia có chủ quyền
về các cơ hội giao dịch thương mại và kinh tế
- uyên tắc đối xử quốc gia áp dụng trong thương mại hàng hóa,
thương mại dịch vụ và sở hữu trí tuệ
* Cơ chế hoạt động:
- Nguyên tắc đối xử quốc gia chỉ được áp dụng một khi một sản
phẩm, dịch vụ hay quyền sở hữu trí tuệ nào đó đã vào thị trường nội
địa Chính vì thế, việc đánh thuế quan đối với một loại hàng nhập
khẩu không được coi là vi phạm nguyên tắc này cho dù các sản phẩm
sản xuất trong nước không phải chịu loại thuế tương đương
II CÁC CAM KẾT CỦA VIỆT NAM :
- Hiệp định Thương Mại Việt Mỹ được ký kết tháng 7 năm 2000 và
có hiệu lực thực thi tháng 12 năm 2001
- Hiệp định Thương Mại Việt Mỹ được thiết lập dựa trên 2 Nguyên
tắc: Đối xử quốc gia và Đối xử Tối huệ quốc
- Nội dung của Hiệp Định có thể khái quát trong 4 vấn đề cơ bản về
quan hệ kinh tế thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ là:
Thương mại hàng hóa
Quyền sở hữu trí tuệ
Thương mại dịch vụ
Đầu Tư
* Tóm tắ́t cam kết thương mại hàng hóa của 2 phía Việt Nam và Hoa Kỳ:
Hàng hóa Hoa Kỳ đưa vàoViệt Nam được hưởng Quychế Tối huệ quốc
Hàng hóa Việt Nam đưa vào Mỹđược hưởng Quy chế Tối huệquốc
Hàng hóa Việt Nam đưa vàoMỹ được hưởng Quy chế Tốihuệ quốc
Ngay lập tức và vô điều kiện,Việt Nam có thể tổ chức phânphối hàng hóa trên thị trườngMỹ
Việt Nam cam kết giải quyếttranh chấp thương mại vớiHoa Kỳ theo các thông lệ quốctế
Hoa Kỳ cam kết giải quyết tranhchấp thương mại với Việt Namtheo các thông lệ quốc tế
- Việc thực thi Quyền Sở hữu Trí Tuệ được đặt trên Nguyên tắc Đối
+ Quan hệ đầu tư giữa hai bên Hoa Kỳ và Việt Nam về cơ
bản được thiết lập dựa trên 2 nguyên tắc: Đối xử quốc gia và Đối xử Tối huệ quốc.
+ Thượng viện Mỹ ngày 9/12 đã thông qua dự luật Quan hệthương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) với Việt Nam
+ Quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn (PNTR) theoluật Hoa Kỳ, cùng nghĩa với Tối huệ quốc (MFN) vô điều kiện quyđịnh trong WTO Các thành viên WTO dành cho nhau quy chế Tốihuệ quốc, ngay lập tức, vô điều kiện
+ Theo Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA)
ký tháng 7/2000 thì Hoa Kỳ mới dành cho Việt Nam quy chế Tối huệquốc - quan hệ thương mại bình thường có điều kiện, nghĩa là quy chếnày được xem xét gia hạn hàng năm
+ Nay, Việt Nam trở thành thành viên WTO, Quốc hộiHoa Kỳ phải thông qua luật dành cho Việt Nam PNTR - Quan hệthương mại bình thường vĩnh viễn
+ Việt Nam chính thức gia nhập WTO vào ngày 7 tháng11năm 2006
+ Khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức thương MạiThế Giới WTO thì Việt Nam bắc buộc phải cam kết và thực hiện cácnguyên tắc của WTO
Nguyên tắc đối xử quốc gia NT cùng với Nguyên tắc tối huệ quốc MFN là hai nguyên tắc nền tảng quan trọng nhất của hệ
thương mại đa phương mà ý nghĩa thực sự là bảo đảm việc tuân thủmột cách nghiêm túc những cam kết về mở cửa thị trường mà tất cảcác nước thành viên đã chấp nhận khi chính thức trở thành thành viêncủa WTO
Hiện tại Tổ chức Thương Mại Thế Giới WTO hiện cókhoảng 150 nước thành viên:
Tháng 7 năm 1995 Việt Nam chính thức trở thành hội viên của ASEAN
Hoạt động của khối ASEAN dựa trên Nguyên tắc bìnhđẳng.Thông qua các chương trình hợp tác kinh tế giữa các nướcASEAN để xây dựng ASEAN thành khu vực mậu dịch tự do AFTA(Asean Free Trade Area)
- Bằng thực hiện kế hoạch thu thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung –CEPT (Common Effective Preferentical on Tariff)
- Thông qua các chương trình hợp tác kinh tế giữa các nước ASEAN,
các nước trong khối ASEAN cam kết thực hiện Nguyên tắc Tối huệ quốc dành cho nhau
- Một sản phẩm khi xuất khẩu sang các nước trong nội bộ ASEAN,muốn được hưởng chế độ thuế quan ưu đãi theo chương trình CEPT,thì phải đồng thời thõa mãn các điều kiện sau :
+ Sản phẩm đó phải nằm trong danh mục cắt giảm thuếcủa nước xuất khẩu và nhập khẩu
+ Sản phẩm đó phải có chương trình giảm thuế đươc Hộiđồng AFTA thông qua
+ Sản phẩm đó phải là một sản phẩm của khối ASEAN,tức là phải thỏa mãn yêu cầu hàm lượng xuất xứ từ các nước thànhviên ASEAN( hàm lượng nội địa) ít nhất là 40%
Trang 4
Trang 5Việt Nam cam kết thực hiện lộ trình giảm thuế theo
CEPT/AFTA
+Trên 10 ngàn mặt hàng thực hiện theo CEPT/AFTA
+ Theo Danh mục hàng hoá và mức thuế suất thuế nhập
khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định
CEPT/AFTA giai đoạn 2006-2013 (gọi tắt là Danh mục
CEPT/AFTA), có tổng số 10.342 mặt hàng đã được đưa vào danh
mục cắt giảm thuế, trong đó có 5.478 mặt hàng có thuế suất 0%;
10.283 mặt hàng có thuế suất 0-5% Thuế suất CEPT bình quân hiện
nay là 2,48%
+ Lộ trình xoá bỏ hoàn toàn thuế suất đối với toàn bộ các
sản phẩm nhập khẩu từ ASEAN theo CEPT kể từ năm 2015 Lộ trình
xoá bỏ thuế suất theo CEPT đã được các nhà hoạch định chính sách
chuẩn bị sẵn Theo đó, mức thuế suất bắt đầu giảm để từ đó giảm
xuống 0% (xoá bỏ thuế quan) là mức thuế suất CEPT vốn dĩ đã ở mức
0-5% ngay từ năm 2006 Theo lộ trình hiện tại thì 97% số mặt hàng
đã có thuế suất 0-5%, trong đó trên 50% số mặt hàng đã có thuế suất
0% Đối với một số mặt hàng của các ngành nông nghiệp, thuỷ sản,
ôtô, công nghệ thông tin, điện tử, y tế, sản phẩm cao su, may mặc và
sản phẩm gỗ sẽ được xoá bỏ thuế quan vào năm 2012 Tuy nhiên do
Việt Nam là một trong số những nước thành viên mới của ASEAN
nên được linh hoạt xoá bỏ thuế quan một số mặt hàng, nhóm mặt
hàng đến 2018, thay vì 2015
Từ tháng 3/1997, Việt Nam chính thức tham gia Hiệp định hợp tác
ASEAN – EU:
- Hiện tại EU có 27 nước thành viên gồm: Pháp, Đức, Italia, Bỉ, Hà
lan, Lúc- xăm-bua, Anh, Ailen, Đan mạch, Hylạp, Tây Ban Nha, Bồ
Đào Nha, Áo, Thuỵ điển và Phần lan, Séc, Hungaria, Ba lan,
Slovakia, Slovenia, Litva, Latvia, Estonia, Malta, Síp, Bungari và
Rumani
Chính sách ưu đãi thuế quan mới của EU: Ngày
27/6/2005, Hội đồng Châu Âu đã thông qua các quy định mới về hệ
thống ưu đãi thuế quan (GSP) GSP mới sẽ có hiệu lực trong 3 năm từ
1/1/2006 đến 31/12/2008 Theo đó, hàng hóa của Việt Nam tiếp tục
được hưởng GSP như trước và không có mặt hàng nào, kể cả giày
dép, bị đưa ra khỏi danh sách được hưởng GSP mới
Ngoài chính sách ưu đãi thuế quan mới của EU, chính sách
GSP của các nước phát triển dành cho Việt Nam :
* NHẬT BẢN
+ Hệ thống ưu đãi GSP của Nhật, dựa trên thoả thuận đạt
được tại UNCTAD, nhằm góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế của
các nước đang phát triển GSP của Nhật bắt đầu vào ngày 1/8/1971
- Các sản phẩm được hưởng :
+ Sản phẩm nông nghiệp
- Nhật Bản dành ưu đãi cho một số sản phẩm hải sản và nông sản
thuộc 74 hạng mục thuế quan
+ Sản phẩm công nghiệp:
- Ưu đãi được dành cho tất cả các sản phẩm công nghiệp bao gồm
khoáng sản và lâm sản trừ một số sản phẩm thuộc 27 hạng mục thuế
quan
- Ưu đãi thuế quan:
- Các sản phẩm nông sản:
+ Việc cắt giảm thuế, bao gồm cả miễn thuế, được áp dụng
cho nhiều sản phẩm thuộc chế độ
+ Các sản phẩm công nghiệp:
- Các sản phẩm công nghiệp thuộc chế độ về nguyên tắc được miễn
thuế trừ một số sản phẩm thuộc 66 hạng mục thuế quan là những sản
phẩm được cắt giảm 50% thuế so với thuế suất Tối huệ quốc
* NAUY
+ Các nước đang phát triển (Các nước GSP), theo Na-Uy,
là những nước mà vào bất kỳ lúc nào đều được cơ quan Na-Uy công
nhận là nước đang phát triển và được liệt kê trong "Danh sách các
nước GSP"
+ Các nước đang phát triển được chia thành hai nhóm.Nhóm I bao gồm các nước GSP "chậm phát triển" (LDCs) và Nhóm IIbao gồm các nước GSP "bình thường" LDCs nói chung, theo tìnhhình đặc biệt của họ, được hưởng chế độ thuế quan ưu đãi tốt hơn sovới các nước đang phát triển "bình thường"
+ Việt Nam nằm trong danh sách các nước GSP bìnhthường
+ Để được hưởng ưu đãi thuế quan khi nhập khẩu sản phẩmhưởng GSP vào Na-Uy, các điều kiện sau phải được đáp ứng:
- Sản phẩm phải được làm tại nước đang phát triển được hưởng GSPcủa Na-Uy
- Sản phẩm phải được sản xuất tại nước đang phát triển được hưởngliên quan tuân theo quy tắc xuất xứ của chế độ GSP Na-Uy
- Sản phẩm phải được vận chuyển thẳng đến Na-Uy từ nước xuấtkhẩu liên quan
- Sản phẩm khi nhập khẩu vào Na-Uy (thông quan) phải được đi kèmbằng chứng từ xuất xứ
- Đề nghị hưởng ưu đãi GSP phải được đưa ra bởi người nhập khẩukhi thông quan sản phẩm
- Sản phẩm phải là những sản phẩm nói trong chế độ GSP Na-Uydành cho nước đang phát triển liên quan
+ Sản phẩm công nghiệp
- Thuỵ sỹ dành ưu đãi cho tất cả các sản phẩm công nghiệp chịu thuế.Những sản phần thuộc chế độ đều được miễn thuế trừ hàng dệt vàtrang phục và tuy nhiên, đối với chúng ưu đãi là giảm 50% thuế bìnhthường Các nước kém phát triển đều được miễn thuế cho tất cả cácsản phẩm công nghiệp Một số sản phẩm xuất xứ từ Trung Quốc, HànQuốc và Macao chỉ được giảm thuế
* NGA
- Việt Nam nằm trong danh sách được hưởng GSP của Nga
III CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC KHI VIỆT NAM THỰC THI
VÀ HƯỞNG CÁC NGUYÊN TẮC TRONG QUAN HỆ KINH
+ Cơ chế điều hành xuất nhập khẩu, thủ tục hải quan của nước
ta tất yếu sẽ được hoàn thiện theo hướng đơn giản hóa, công khai hóa
và thuận lợi, giúp cho hoạt động xuất nhập khẩu phát triển mạnh, vớichi phí thủ tục thấp
+ Hệ thống thuế quan của Việt Nam phải sửa đổi theo hướngminh bạch, rõ ràng hơn (nguyên tắc dễ dự đoán) và có xu hướng giảmgiúp các doanh nghiệp có thể lập kế hoạch đầu tư và hoạt độngthương mại dài hạn
+ Môi trường kinh doanh của Việt Nam sẽ được cải thiện theohướng thông thoáng, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thuộc mọithành phần kinh tế có thể cạnh tranh bình đẳng, không còn sự độcquyền trong kinh doanh
+ Môi trường đầu tư của Việt Nam được cải thiện theo hướnghấp dẫn hơn, nhờ đó mà tăng cường khả năng thu hút vốn đầu tưnước ngoài phục vụ cho sự phát triển kinh tế
Hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam được hưởng Quy chế Tối huệ quốc khi đưa vào thị trường Mỹ, tính cạnh tranh về giá của sản phẩm giatăng đáng kể vì thuế nhập khẩu giảm, giảm bình quân từ̀ 40-70% xuống còn 3-7%
Thị trường xuất khẩu sẽ ngày càng được ổn định do có nhiều thuận lợi cho việc tiếp cận thị trường Chúng ta có thể dự báo được thị trườngcho hàng xuất khẩu dài hạn trong tương lai và tạo ra mối quan hệ thương mại chắc chắn hơn, góp phần tạo thuận lợi cho việc hoạch định cácchính sách về đầu tư và phát triển sản xuất công-nông nghiệp, giảm thiểu những rủi ro trong thương mại quốc tế
Là động lực kích thích các doanh nghiệp Việt Nam phải mau chóng nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm mình trên thị trường trong vàngoài nước
Hoạt động thương mại dịch vụ có điều kiện phát triển thuận lợi nên các doanh nghiệp và người tiêu dùng Việt Nam sẽ được hưởng các dịchvụ chất lượng hơn, phong phú hơn, rẽ hơn nhờ đó chi phí kinh doanh hạ hơn, mức sống người lao động gia tăng
Trang 5
Trang 6 Việt Nam được hưởng các chính sách Chế độ thuế quan ưu đãi GSP của các nước phát triển là một cơ hội để Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu,
mở rộng thị trường tăng khả năng cạnh tranh so với nước không được hưởng chế độ ưu đãi này Nhưng đây cũng là một thách thức lớn đốivới Việt Nam nếu như không được hoặc không còn hưởng chế độ này nữa
Thách thức của Việt Nam khi thực thi và được hưởng các nguyên tắc này:
Thách thức lớn nhất là trình độ phát triển kinh tế của nước ta còn thấp, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nói chung, của từngnghành và từng doanh nghiệp nói riêng còn yếu Khi thực hiện các Nguyên tắc tối huệ quốc và Nguyên tắc đối xử quốc gia thì khi cácnước đưa hàng hóa và dịch vụ vào Việt Nam kinh doanh Như vậy hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam phải trực diện đối đầu và cạnhtranh với hàng xuất khẩu và các loại dịch vụ do các nước cung cấp vào Việt Nam
Một số doanh nghiệp nhà nước sẽ mất đi những đặc quyền đặc lợi trong hoạt động thương mại và dịch vụ đặc biệt trong lĩnh vực xuấtnhập khẩu và phân phối
Doanh nghiệp Việt Nam phải tự cạnh tranh bình đẳng trong điều kiện mất đi sự bảo hộ, ưu đãi từ phía Nhà nước
Chế độ thuế quan ưu đãi GSP của các nước phát triển cũng là một thách thức lớn đối với Việt Nam nếu như không được hưởng nữa
Phải tái cơ cấu, cải tổ nền kinh tế, phải minh bạch và công khai chính sách ngoại thương, chính sách thuế làm giảm tính độc lập và
tự chủ của Chính phủ trong quản lý nền kinh tế
Nguyên tắc đối xử quốc gia và Nguyên tắc tối huệ quốc làm cho các hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam sẽ gặp khó khănhơn khi phải cạnh tranh với các nhà đầu tư khác ví dụ như Hoa Kỳ được hưởng quyền tương tự như mình: Cơ chế một giá được xáclập, quyền tự do đầu tư nhiều hơn, thuế tương tự
Trang 6
Trang 7BÁN PHÁ GIÁ & CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI
QUỐC TẾ - LIÊN HỆ THỰC TIỄN
I BÁN PHÁ GIÁ:
1.Khái niệm bán phá giá:
- Pháp lệnh Giá của Việt Nam đưa ra định nghĩa : "Bán phá giá là
hành vi bán hàng hoá, dịch vụ với giá quá thấp so với giá thông
thường trên thị trường Việt Nam để chiếm lĩnh thị trường, hạn chế
cạnh tranh đúng pháp luật gây thiệt hại đến lợi ích hợp pháp của tổ
chức, cá nhân sản xuất kinh doanh khác và lợi ích Nhà nước"
- Trong thương mại quốc tế, theo quy định tại Điều 2.1, Hiệp định
Chống bán phá giá của WTO thì :
- Một sản phẩm được coi là bị bán phá giá khi giá xuất khẩu sản phẩm
đó thấp hơn:
+ Giá có thể so sánh được trong điều kiện thương
mại thông thường ("giá trị thông thường")
+ Giá của sản phẩm tương tự khi tiêu thụ ở thị trường
nước xuất khẩu
- WTO không đề cập đến trường hợp bán phá giá sản phẩm tương tự
trong thị trường nội địa của một nước
+ Sản phẩm tương tự (SPTT): là sản phẩm giống hệt hoặc
có các đặc tính gần giống với sản phẩm là đối tượng điều tra
+ Điều kiện thương mại thông thường: tuy không có định
nghĩa về điều kiện thương mại thông thường nhưng có một số trường
hợp, khi giá bán tại thị trường nội địa nước xuất khẩu thấp hơn giá
thành sản xuất thì có thể coi như là không nằm trong điều kiện thương
mại thông thường
2 Nguyên tắc xác định phá giá:
+ Biên độ phá giá (BĐPG) = giá trị thôngthường (GTTT) - giá xuất khẩu (GXK)
+ Nếu BĐPG > 0 là có phá giá+ BĐPG có thể tính bằng trị giá tuyệt đối hoặctheo phần trăm theo công thức:
+ BĐPG = (GTTT-GXK)/GXK
a.)Tính biên độ phá giá ( BĐPG):
Cách tính GTTT
Trường hợp không có giá nội địa của SPTT ở nước xuất khẩu do:
- SPTT không được bán nước xuất khẩu trong điều kiện thương
mại thông thường; hoặc
- Có bán ở nước xuất khẩu nhưng trong điều kiện đặc biệt; hoặc
- Số lượng bán ra không đáng kể (< 5% số lượng SPTT bán ở
nước nhập khẩu thì:
GTTT = giá xuất khẩu SPTT sang nước thứ ba ; hoặc
GTTT = giá thành sản xuất + chi phí (hành chính, bán hàng, quản lý
chung…) + lợi nhuận
Trường hợp SPTT được xuất khẩu từ một nước có nền kinh
tế phi thị trường (giá bán hàng và giá nguyên liệu đầu vào do chính
phủ ấn định) thì các qui tắc trên không được áp dụng để xác định
GTTT
b.)Cách tính GXK:
GXK = giá mà nhà sản xuất nước ngoài bán SPTT cho nhà nhập khẩu
đầu tiên
Trường hợp giá bán SPTT không tin cậy được do:
Giao dịch xuất khẩu được thực hiện trong nội bộ công ty;
hoặc
Theo một thỏa thuận đền bù nào đó thì:
GXK = giá mà sản phẩm nhập khẩu được bán lần đầu tiên cho một
người mua độc lập ở nước nhập khẩu
So sánh GTTT và GXK:
Để so sánh một cách công bằng GTTT và GXK, Hiệp định
qui định nguyên tắc so sánh như sau:
- So sánh hai giá này trong cùng điều kiện thương mại (cùng xuất
xưởng/bán buôn/bán lẻ), thường lấy giá ở khâu xuất xưởng;
- Tại cùng một thời điểm hoặc thời điểm càng gần nhau càng tốt
Việc so sánh GTTT và GXK là cả một quá trình tính toán rất phức
tạp, vì không phải bao giờ cũng có sẵn mức giá xuất xưởng của GTTT
và GXK mà chỉ có mức giá bán buôn hoặc bán lẻ của SPTT ở thị
trường nước xuất khẩu (GTTT+) và giá tính thuế hải quan, giá hợp
đồng hoặc giá bán buôn/bán lẻ SPTT của nhà nhập khẩu (GXK+) nên
thường phải có một số điều chỉnh để có thể so sánh GTTT và GXK
- Và những yếu tố khác ảnh hưởng đến việc so sánh hai giá
3 Phân loại bán phá giá:
Có 3 loại bán phá giá:
Bán phá giá dai dẳng
Bán phá giá thường xuyên
Bán phá giá không thường xuyên Trong việc bán phá giá dai dẳng, thì hàng hóa liên tục được
bán với một giá thấp hơn so với giá cả trong nước nhập khẩu Tìnhtrạng này là tình trạng mà trong đó hàng hóa đơn giản là hàng nhậpkhẩu khác được bán dưới những điều kiện tối đa hóa lợi nhuận Bất
kỳ hàng rào thương mại nào cũng sẽ dẫn đến một giá cả cao hơn đốivới người tiêu dùng trong nước nhập khẩu và ảnh hưởng của phúc lợicủa chúng
Trong bán phá giá thường xuyên, một xí nghiệp nước ngoài sẽ
bán tại giá cả thấp cho đến khi những nhà sản xuất trong nước bị loại
ra khỏi thị trường; lúc đó giá cả sẽ gia tăng bởi sự độc quyền xuấthiện Những nhà sản xuất trong nước lúc đó có thể được lôi kéo trở lạithị trường cho đến khi giá cả giảm xuống trở lại Có một tranh luận cógiá trị cho việc bảo hộ với việc bán phá giá thường xuyên do việc dichuyển nguồn lực lãng phí Khi những nhân tố sản xuất di chuyển vào
và ra một ngành bởi ảnh hưởng của giá cả nhập khẩu thì chi phí và và
sự lãng phí đổ dồn cho xã hội
Việc bán phá giá không thường xuyên sẽ xuất hiện khi nhà
sản xuất nước ngoài (hoặc chính phủ) với một thặng dư sản phẩm tạmthời xuất khẩu số này tại bất cứ giá nào mà nó cần Việc bán phá giátheo kiểu này có thể có những ảnh hưởng xấu tạm thời đến việc cạnhtranh với những nhà cung cấp trong nước chủ nhà bởi việc làm giatăng rủi ro trong hoạt động của ngành Những rủi ro này cũng như sựmất mát phúc lợi từ việc di chuyển nguồn lực tạm thời có thể đượctránh khỏi bởi việc đưa ra chính sách bảo hộ, mặc dù những ảnhhưởng phúc lợi khác có thể được đưa vào trong phân tích khi xem xétnhững hạn chế thương mại Tuy nhiên, việc bán phá giá thường xuyêndường như không biện hộ được việc bảo hộ trong ngắn hạn
4.Điều kiện xem xét bán phá giá:
- Theo Hiệp định, để áp dụng biện pháp chống bán phá giá, mỗi quốc gia phải thông qua thủ tục điều tra và chứng minh được 3 yếu tố:
Phải có hành vi bán phá giá của hàng hoá nước ngoàitrên thị trường trong nước
Hành vi bán phá giá phải gây thiệt hại đáng kể, hoặc
đe doạ gây thiệt hại nghiêm trọng đến ngành sản xuấttrong nước của quốc gia nhập khẩu
Quốc gia nhập khẩu phải chứng minh được mối quan
hệ nhân quả giữa việc bán phá giá và thiệt hại, hoặcnguy cơ gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sảnxuất trong nước mình
* Xác định thiệt hại:
Định nghĩa thiệt hại:
Thiệt hại về vật chất đối với một ngành sản xuấttrong nước (thiệt hại hiện tại); hoặc
Nguy cơ gây thiệt hại về vật chất đối với một ngànhsản xuất trong nước (thiệt hại tương lai); hoặc
Làm trì trệ sự phát triển một ngành sản xuất trongnước (không có qui định cụ thể)
Như vậy, để xác định thiệt hại cần xem xét các nhân tố sau: (i) Khối lượng hàng nhập khẩu bị bán phá giá: có tăng một cáchđáng kể không?
(ii) Tác động của hàng nhập khẩu đó lên giá SPTT: giá của hàngnhập khẩu đó:
- Có rẻ hơn giá SPTT sản xuất ở nước nhập khẩu nhiều không?
- Có làm sụt giá hoặc kìm giá SPTT ở thị trường nước nhập khẩukhông?
=> Khi sản phẩm thuộc diện điều tra được nhập khẩu từ nhiều nước: đánh giá gộp tác động nếu BĐPG >= 2% GXK và khối lượng hàngnhập khẩu từ mỗi nước >= 3% khối lượng nhập khẩu SPTT
Trang 7
Trang 8Việc khảo sát tác động của hàng nhập khẩu bị bán phá giá
đối với một ngành sản xuất trong nước phải xem xét tất cả các yếu tố
kinh tế có thể ảnh hưởng đến ngành sản xuất đó, gồm những yếu tố
sau:
- Năng suất
- Thị phần
- Biên độ phá giá
- Giá nội địa ở nước nhập khẩu
- Suy giảm thực tế và nguy cơ suy giảm doanh
khẩu và thiệt hại cho một ngành sản xuất trong nước: cần tính đến
những yếu tố khác (ngoài việc bán phá giá), nếu các yếu tố này gây
thiệt hại cho ngành sản xuất đó thì không được quy thiệt hại của
ngành sản xuất đó do hàng nhập khẩu bị bán phá giá gây ra
* Nguy cơ gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước :
Để xác định nguy cơ gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước cần
xem xét:
Tốc độ tăng nhập khẩu và khả năng tăng nhập khẩu
trong tương lai;
Khả năng tăng năng lực xuất khẩu của nhà xuất khẩu
dẫn đến khả năng tăng nhập khẩu;
Tình hình hàng nhập khẩu làm sụt giá SPTT ở nước
(antidumping) như: thuế chống phá giá, đặt cọc hoặc thế chấp, cam
kết hạn chế định lượng hoặc điều chỉnh mức giá của nhà xuất khẩu
nhằm triệt tiêu nguy cơ gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước
nhập khẩu, trong đó thuế chống bán phá giá là biện pháp phổ biến
nhất hiện nay
Về thực chất, thuế chống bán phá giá là một loại thuế nhập khẩu
bổ sung đánh vào những hàng hóa bị bán phá giá ở nước nhập khẩu
nhằm hạn chế những thiệt hại do việc bán phá giá đưa đến cho ngành
sản xuất của nước đó nhằm bảo đảm sự công bằng trong thương mại
(nói chính xác đó là một sự bảo hộ hợp lý cho sản xuất trong nước)
Thuế này đánh vào các nhà sản xuất riêng lẻ chứ không phải là thuế
áp đặt chung cho hàng hóa của một quốc gia Nguyên tắc chung nêu
ra trong Hiệp định của WTO là không được phân biệt đối xử khi áp
dụng thuế chống phá giá, tức là nếu hàng hóa bị bán phá giá được
xuất khẩu từ những quốc gia khác nhau với cùng biên độ phá giá như
nhau thì sẽ áp đặt mức thuế chống phá giá ngang nhau Mức thuế
chống phá giá sẽ phụ thuộc vào biên độ phá giá của từng nhà xuất
khẩu chứ không phải áp dụng bình quân (ngay cả khi các nhà xuất
khẩu từ cùng một quốc gia) và không được phép vượt quá biên độ phá
giá đã được xác định
* Có 2 hình thức thu thuế chống bán phá giá:
- Kiểu tính thuế hồi tố (kiểu của Hoa kỳ):
+ Việc tính mức thuế được căn cứ vào số liệu của thời
điểm trước khi điều tra (6 tháng - 1 năm) Sau khi điều tra, cơ quan
chức năng bắt đầu áp dụng một mức thuế chống bán phá giá Sau khi
áp dụng được một thời gian, nếu nhà nhập khẩu yêu cầu đánh giá lại
mức thuế (do giá xuất khẩu tăng lên) thì cơ quan chức năng sẽ tiến
hành xác định lại số tiền thuế phải nộp trong vòng 12 tháng, chậm
nhất là 18 tháng ngay sau khi nhận được yêu cầu Sau đó mức thuế
mới sẽ được áp dụng Việc hoàn thuế sẽ được thực hiện trong vòng 90
ngày sau khi xác định lại mức thuế cuối cùng phải nộp
- Kiểu tính thuế ấn định (kiểu của EU):
+ Cơ quan điều tra lấy số liệu của thời điểm trước khi điều
tra để tính biên độ phá giá và ấn định biên độ này cho cả quá trình áp
dụng thuế chống bán phá giá Sau khi áp dụng được một thời gian,
nếu nhà nhập khẩu đề nghị hoàn thuế với phần trị giá cao hơn biên độphá giá (do giá xuất khẩu tăng) thì cơ quan chức năng sẽ tiến hànhxem xét việc hoàn thuế trong vòng 12 tháng, chậm nhất là 18 thángngay sau khi nhận được đề nghị hoàn thuế kèm theo đầy đủ bằngchứng Việc hoàn thuế sẽ được thực hiện trong vòng 90 ngày kể từkhi ra quyết định hoàn thuế
- Tuy nhiên, không phải bất kỳ trường hợp bán phá giá nào cũng bị ápđặt các biện pháp chống bán phá giá Theo quy định của WTO cũngnhư luật pháp của rất nhiều nước thì thuế chống bán phá giá chỉ được
áp đặt khi hàng hóa được bán phá giá gây thiệt hại đáng kể hay đe dọagây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất ở nước nhập khẩu Như vậy,nếu một hàng hóa được xác định là có hiện tượng bán phá giá nhưngkhông gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất mặt hàng đó ở nướcnhập khẩu thì sẽ không bị áp đặt thuế chống bán phá giá và các biệnpháp chống phá giá khác Thiệt hại cho ngành sản xuất trong nướcđược hiểu là tình trạng suy giảm đáng kể về sản lượng, mức tiêu thụtrong nước, lợi nhuận sản xuất, tốc độ phát triển sản xuất, việc làmcho người lao động, đầu tư tới các chỉ tiêu khác của ngành sản xuấttrong nước hoặc dẫn đến khó khăn cho việc hình thành một ngành sảnxuất trong nước Bán phá giá được xác định dựa vào 2 yếu tố cơ bảnlà: 1- Biên độ phá giá từ 2% trở lên; 2- Số lượng, trị giá hàng hóa bánphá giá từ một nước vượt quá 3% tổng khối lượng hàng nhập khẩu(ngoại trừ trường hợp số lượng nhập khẩu của các hàng hóa tương tự
từ mỗi nước có khối lượng dưới 3%, nhưng tổng số các hàng hóatương tự của các nước khác nhau được xuất khẩu vào nước bị bán phágiá chiếm trên 7%)
II.VAI TRÒ VÀ TÁC HẠI CỦA BÁN PHÁ GIÁ VÀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ:
Tác động lớn nhất của bán phá giá là việc gây ra tổn thất vậtchất cho ngành sản xuất trong nước Tổn thất này rất lớn xét trên cảgóc độ vĩ mô và vi mô Trên góc độ vĩ mô, khi một ngành sản xuất bị
đe dọa sẽ dẫn đến việc phá sản của nhiều doanh nghiệp thuộc ngành
đó Kéo theo đó là tình trạng mất việc làm của công nhân và các tácđộng “lan chuyền” sang các ngành kinh tế khác Trên góc độ vi mô,đối mặt với hiện tượng bán phá giá, doanh nghiệp sẽ bị mất thị trường
và mất lợi nhuận Đây thực sự là mối lo ngại không chỉ của các nướcphát triển mà của cả các nước đang phát triển, vì lợi thế so sánh củacác nước luôn thay đổi và cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt hơntrên thị trường quốc tế
Xét ở góc độ người tiêu dùng, việc hàng hóa nước ngoài đượcbán phá giá sẽ mang lại những lợi ích cụ thể, trước mắt cho họ domua được hàng hóa với giá rẻ Tuy nhiên, việc bán phá giá sẽ kéotheo hàng loạt những tác động xấu cho các ngành sản xuất trongnước Nó dần dần bóp chết các ngành sản xuất non trẻ và thiếu sứccạnh tranh Ngoài ra, một khi hàng hóa bán phá giá đã chiếm lĩnhđược thị trường thì các nhà xuất khẩu chắc chắn không dừng lại ở đó
mà họ sẽ nâng dần giá hàng để thu lợi nhằm bù đắp những chi phí củaviệc bán phá giá Lúc đó, người tiêu dùng sẽ phải mua hàng hóa vớigiá cao
Chống phá giá là một công cụ lợi hại mà các nước đang sửdụng như một con bài để bảo hộ sản xuất trong nước và bảo đảm mộtnền thương mại công bằng
Thông thường thì tranh chấp liên quan tới bán phá giá chỉthuần tuý mang tính thương mại, nhưng đôi khi ẩn đằng sau lại là cácvấn đề có tính chính trị nhạy cảm tại nước nhập khẩu cũng như giữanước nhập khẩu với nước xuất khẩu Tại nước nhập khẩu việc điều tra
và áp dụng các biện pháp chống bán phá giá sẽ động chạm trực tiếptới lợi ích vật chất của hai nhóm lợi ích căn bản là những nhà sản xuấtmặt hàng tương tự và những người tiêu dùng mặt hàng đó, trong sốnày phải kể tới những nhà sản xuất sử dụng mặt hàng này như đầuvào cho quá trình sản xuất của họ
Mặc dù lợi ích chung của toàn xã hội có thể bị giảm nếu ápdụng biện pháp chống bán phá giá nhưng thông thường do sức mạnhchính trị của các nhà sản xuất cao hơn của nhóm còn lại nên cơ quan
có thẩm quyền vẫn đưa ra những quyết định có lợi cho họ Chính vìvậy trong một số tranh chấp dù cho nước xuất khẩu rất tích cực vậnđộng nhưng do bối cảnh chính trị ở nước nhập khẩu mà kết quả cuốicùng vẫn khó có thể thay đổi
III TÌNH HÌNH ÁP DỤNG THUẾ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ TRÊN THẾ GIỚI :
Kể từ khi WTO ra đời, tính đến thời điểm cuối năm 2001,trên thế giới đã có tất cả 2132 cuộc điều tra về chống bán phá giá và
có tất cả là 1066 lần áp dụng thuế chống bán phá giá (chiếm 50% tổng
số cuộc điều tra) Điều này thể hiện, không phải tất cả các cuộc điều
tra về chống bán phá giá đều có kết luận dẫn đến việc áp dụng thuếchống bán phá giá Các loại mặt hàng chịu thuế chống bán phá giá
Trang 8
Trang 9thường là các sản phẩm dệt may, giầy dép, sắt thép, kim loại và một
số sản phẩm công nghiệp cơ khí, v.v…
Trên thực tế, các nước áp dụng thuế chống bán phá giá
thường bị nước xuất khẩu hàng hoá là đối tượng chịu thuế chống bán
phá giá khởi kiện đến WTO, cụ thể là Cơ quan Giải quyết Tranh chấp
Các vụ việc giải quyết tranh chấp về việc chống bán phá giá luôn là
vấn đề phức tạp và gây nhiều tranh cãi Đôi khi, kết quả thường dẫn
đến các hành vi trả đũa trong thương mại, gây ra rất nhiều mâu thuẫn,
ảnh hưởng xấu đến tình hình thương mại chung trên thế giới Vì vậy,
các quốc gia thường rất thận trọng khi quyết định việc áp dụng thuế
chống bán phá giá đối với hàng hoá nhập khẩu bị bán phá giá vào
nước mình
Trong thực tiễn áp dụng thuế chống bán phá giá trên thế
giới, đã có nhiều nước áp dụng biện pháp này trước khi WTO ra đời
Căn cứ thống kê từ năm 1990, việc áp dụng thuế chống bán phá giá
hiện nay luôn thể hiện sự tiến bộ và xu hướng phát triển của các nước
đang phát triển so với các nước phát triển Điều này được thể hiện
bằng biểu đồ dưới đây:
Một điểm cần quan tâm là không chỉ có các nước phát triển
áp dụng thuế chống bán phá giá đối với các nước đang phát triển và
ngược lại Các nước phát triển còn áp dụng thuế chống bán phá giá
đối với các nước phát triển khác và điều này cũng xảy ra tương tự đối
với các nước đang phát triển
IV THỰC TIỄN BÁN PHÁ GIÁ VÀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ Ở
VIỆT NAM PHÂN TÍCH VỀ MỘT SỐ BÀI HỌC RÚT RA TỪ
CÁC VỤ CHỐNG PHÁ GIÁ ĐỐI VỚI CÁ DA TRƠN VÀ TÔM:
1 Tình hình hàng xuất khẩu của Việt Nam bị nước ngoài điều tra
và áp dụng thuế chống bán phá giá:
Hơn một thập kỷ qua Việt nam đã đạt được thành tựu ngoạn
mục trong việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa Tuy nhiên, tình trạng
hàng xuất khẩu của ta bị nước nhập khẩu điều tra và áp dụng thuế
chống bán phá giá ngày càng tăng Trong xu hướng nhiều nước trên
thế giới tăng cường sử dụng biện pháp chống bán phá giá như một
công cụ bảo hộ thì có thể dự kiến rằng trong thời gian tới chúng ta sẽ
phải đối phó với biện pháp này nhiều hơn khi kim ngạch xuất khẩu
Chính sách chống phá giá của Hoa kỳ được thể hiện thông
qua Luật chống bán phá giá năm 1921 Sau khi WTO ra đời trên cơ sở
kết quả đàm phán của vòng Uruguay vào năm 1995, các quy định của
Hoa kỳ về chống bán phá giá phải tuân thủ theo Hiệp định về chống
bán phá giá của WTO Trên cơ sở đó, Hoa kỳ đã ban hành Quy định
về chống bán phá giá và chống trợ cấp vào năm 1997, trong đó hướng
dẫn tiến trình thực hiện về điều tra và áp dụng thuế chống bán phá giá
b.) Vụ cá da trơn:
* Khi “Catfish” không được gọi là “Catfish”
Câu chuyện về vụ cá da trơn không bắt đầu vào
ngày 28 tháng 6 năm 2002, ngày mà Hiệp hội Doanh nghiệp Cá
da trơn Mỹ (CFA) gửi đơn khởi kiện lên ITC và DOC và tuyên
bố là sản phẩm philê cá da trơn của Việt Nam đã bán phá giá Câu
chuyện thực chất đã bắt đầu từ một năm trước đó Vào năm 2001,
các nhà sản xuất cá da trơn của Mỹ sau khi bị các nhà sản xuất
Việt Nam cạnh tranh mạnh mẽ đã phát động thành công một
chiến dịch tại cả cấp bang và liên bang để cấm các nhà sản xuất
Việt Nam sử dụng từ “catfish” cho các sản phẩm của mình Cá
da trơn Việt Nam, vốn rẻ hơn giá thành cá da trơn tại khu vực
Đông Nam của nước Mỹ, đã tăng từ 0,6 triệu pao vào năm
1998 lên 26 triệu pao vào năm 2001
Hiệp định thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ
có hiệu lực vào ngày 10 tháng 12 năm 2001 đã xoá bỏ thuếnhập khẩu đối với cá da trơn của Việt Nam có thể là một trongnhững nguyên nhân của sự gia tăng đáng kể số lượng nhập khẩu
cá vào Mỹ từ 12,5 triệu pao vào năm 2000 tới 26 triệu pao vàonăm 2001.Năm 2001, giá của cá sản xuất tại Mỹ đã giảm xuống
50 xu một pao, tức là thấp hơn giá thành khoảng 15 xu và thấphơn khoảng 30 xu so với giá cá vào năm 2000
Vào năm 2001, CFA đã phát động một chiến dịchtiêu tốn 500.000 đô la Mỹ tấn công vào cá da trơn nhập khẩutheo ba yếu tố sau: (i) điều kiện vệ sinh của cá da trơn Việt Nam,(ii) vấn đề chủng loại, và (iii) sự cạnh tranh không lành mạnhcủa các nhà sản xuất Việt Nam khi lợi dụng thị trường đã đượcphát triển bằng nguồn lực tài chính của các doanh nghiệp Mỹ
Để chứng minh việc các nhà sản xuất Việt Nam đã cố tình gâylẫn lộn về nhãn mác, CFA lập luận rằng “ chỉ có giống cá tại Bắc
Mỹ, có tên gọi là Ictaluridae - mới thực sự là cá da trơn” bất chấp
sự thực là có hơn 2.000 giống cá da trơn Họ cũng giải thíchrằng “cá da trơn chỉ là loại cá thuộc dòng có tên LatinhIctaluridae Giống cá của Việt Nam thuộc về họ Pangasiidae, loại
cá da trơn sống tại Châu Phi và Đông Nam Á’”
Quy định về nhãn hiệu sau đó được mở rộng tới việccấm mọi hoạt động marketing và bán các loại cá dưới tên catfish.Những quy định tương tự về nhãn mác cũng được ban hành tạicác bang Mississippi, Louisiana, và Arkansas. Các nhà sản xuấtViệt Nam sau đó tiếp thị sản phẩm của mình dưới tên cá “tra” hoặc
“basa”
c.) Tình tiết vụ việc:
Mặc dù có tranh chấp về nhãn hiệu, sản lượng nhập khẩucủa cá basa và tra của Việt Nam vào năm 2002 vẫn đạt số lượng 36triệu pao, cao hơn hẳn năm 2001 (26 triệu pao)
Tỷ lệ tăng trưởng của sản lượng nhập khẩu từ năm
2000 đến 2002 là 187,4% và tăng trưởng của giá trị nhậpkhẩu là 127,5%.Vào ngày 28/6/2002, CFA và một số nhà chếbiến cá da trơn Mỹ (Sau đây gọi là Bên nguyên) đã nộp đơn lênITC và DOC tuyên bố rằng ngành công nghiệp cá da trơn của
Mỹ bị chịu thiệt hại đáng kể vì nhập khẩu của cá da trơn ViệtNam
Vào ngày 24/7/2002, DOC tuyên bố bắt đầu điều tra vụ ánchống phá giá trên Công báo (67 FR 48437)
Việt Nam chưa phải là nước có nền kinh tế thị trường, ngay khiDOC kết luận kinh tế Việt Nam là phi thị trường, con cá basa đã đốimặt với muôn vàn khó khăn Và cũng từ đây, vụ kiện bán phá giá đãchuyển sang giai đoạn mới, trong đó, cá basa của Việt Nam được "giảdụ" là đến từ Bangladesh
* Các công ty Việt nam đối phó như thế nào với vụ kiện:
- Các biên sơ bộ:
+ Đối với bốn bị đơn bắt buộc trong cuộc điều tra này, Công ty Cổ phần Xuất Nhập khẩu Thuỷ sản An Giang (“Agifish”), Công ty Xuất Nhập khẩu Nông sản và Súc sản Cần Thơ (“Cataco”), Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Nam Việt (“Nam Việt”), và Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Vinh Hoan (“Vinh
Hoan”), các biên sơ bộ dao động từ 37,94 đến 61,88%.
+ Đối với các nhà sản xuất/xuất khẩu Việt Nam tự nguyện trả lời Phần A trong bản các câu hỏi điều tra của Bộ, và
là các đối tượng mà Bộ xác định được hưởng một mức riêng (Công ty Xuất nhập khẩu Nông sản Thực phẩm An Giang (“Afiex”), Doanh nghiệp Chế biến Xuất khẩu Súc sản và Ngư sản Cần Thơ (“CAFATEX”), Tổng Công ty Xuất Nhập khẩu Hải sản Đà Nẵng (“Đà Nẵng”), Công ty Cá Mê Kông (“Mekonimex”), Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Lương thực QVD (“QVD”), và Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Hải sản Việt Hải (“Việt Hải”), chúng tôi ấn định mức biên là 49,16%, căn cứ vào biên trung bình tính theo trọng lượng của các bị đơn bắt buộc.
+ Các sản phẩm nhập khẩu của các nhà sản xuất/xuất khẩu Việt Nam khác sẽ phải chịu mức chung dành
cho Việt Nam là 63,88%.
+ DOC ban hành phán quyết sơ bộ khẳng định việcphá giá và trường hợp khẩn cấp vào ngày 31/1/2003 (68 FR4986) Khẳng định việc phá giá và trường hợp khẩn cấp đượcsửa đổi ngày 5 và 28/5/2003 ITC tổ chức phiên xét xử vàongày 17/6/2003 DOC có phán quyết cuối cùng về thuế bán phágiá và trường hợp khẩn cấp vào ngày 23/6/2003 (68 FR 37116)
Trang 9
Trang 103 Các giải pháp đối phó với các vụ kiện:
Việc tham gia các vụ điều tra chống phá giá đòi hỏi rất
nhiều kiến thức chuyên môn và cách ứng xử chuyên nghiệp Mặc
dù thủ tục chống phá giá là thủ tục hành chính nhưng nó vẫn được
coi như là “bán tố tụng” Điều này có nghĩa là các doanh nghiệp
không thể trả lời chỉ dựa trên cảm tính đơn thuần mà phải dựa trên
bằng chứng Các doanh nghiệp cần ý thức được rằng các phản ứng
cảm tính có thể làm xấu đi mối quan hệ giữa cơ quan điều tra và
doanh nghiệp chứ không làm nó tốt lên Do đó, các doanh nghiệp
cần phải coi việc chuẩn bị thông tin và dữ liệu cho cuộc điều tra là
quan trọng hàng đầu trong kế hoạch làm việc của họ
Các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình điều tra phải
hợp tác với cơ quan điều tra Thay vì việc cố gắng chứng minh “ai
đúng” và “ai sai” thì doanh nghiệp cần tập trung vào việc cung
cấp cho cơ quan điều tra tất cả các thông tin mà cơ quan này cần
Điều quan trọng nhất không phải là chứng minh rằng “lẽ phải thuộc
về mình” mà là giảm thiểu mức áp thuế chống bán phá giá
càng thấp càng tốt
Các doanh nghiệp không hợp tác trong vụ kiện cá da
trơn và vụ tôm đã bị áp mức thuế suất cao hơn nhiều so với các
doanh nghiệp được coi là hợp tác
Tôn trọng thời hạn của các Bảng câu hỏi là rất quan
trọng Những thông tin cung cấp muộn có thể bị cơ quan điều tra
từ chối chấp nhận và do đó, có thể dẫn tới thuế bán phá giá cao
hơn Bên cạnh đó, thông tin do các doanh nghiệp cung cấp cũng có
thể bị từ chối chấp nhận nếu cơ quan điều tra cho rằng doanh
nghiệp không hợp tác đầy đủ hoặc là không trung thực
Hợp tác với bị đơn khác trong quá trình điều tra cũng
rất quan trọng Cơ quan điều tra chống phá giá có thể kiểm tra chéo
các thông tin do các bị đơn cung cấp Thông qua việc phối hợp với
các bị đơn khác, doanh nghiệp có thể tìm thấy các sai sót hoặc sai
biệt trong thông tin của mình và sửa chữa nó trước khi báo cáo cho
cơ quan điều tra
Vận động hành lang: vụ cá da trơn cho thấy rằng vận
động hành lang đối với ngành lập pháp là rất có hiệu quả Tuy
nhiên các nhà sản xuất nội địa bao giờ cũng có ưu thế hơn các nhà
sản xuất nước ngoài trong lĩnh vực này Vận động hành lang đối
với ngành hành pháp có hiệu quả hạn chế Tuy nhiên vận động là cần
thiết vì nó có thể khiến cho cơ quan chống phá giá áp dụng các biện
pháp công bằng và hợp lý trong quá trình điều tra Tuy nhiên, vận
động hành lang cần một chiến lược với các mục tiêu và mục đích rõ
ràng Trong vận động hành lang, chứng cứ tạo ra sức thuyết phục
mạnh hơn là chỉ tiếp cận tới các đối tượng và đưa ra những lập luận
cảm tính đối với họ Hợp tác với báo chí, các tổ chức có quyền lợi
chung và các tổ chức phi chính phủ đóng vai trò quan trọng trong
việc giành sự ủng hộ của dư luận
4 Các giải pháp cho các doanh nghiệp Xuất khẩu Việt Nam đẩy
mạnh xuất khẩu nhưng hạn chế bị kiện bán phá giá:
Từ vụ cá da trơn, vai trò của Hiệp Hội Doanh Nghiệp là
rất quan trọng Hiệp hội là cơ quan điều phối mọi hoạt động liên
quan tới vụ kiện Trước khi vụ kiện xảy ra, hiệp hội là cơ quan
theo dõi tình hình của ngành và vận hành cơ chế cảnh báo sớm
Hiệp hội cũng chịu trách nhiệm trong việc tổ chức đào tạo cho
các thành viên để đối phó với việc điều tra chống bán phá giá cũng
như là người phát triển mạng lưới quan hệ ở quốc gia xảy ra vụ
kiện Mỗi hiệp hội doanh nghiệp cần thành lập một nhóm chuyên
trách để chuẩn bị cho các vụ kiện chống bán phá giá Các nhiệm
vụ chính của nhóm chuyên trách này gồm:
+ Đánh giá mức khả năng hàng hoá của hiệp hội bị
kiện chống bán phá giá ở nước ngoài;
+ Nghiên cứu luật pháp về chống bán phá giá tại các thị
trường xuất khẩu chính của hiệp hội;
+ Làm việc với luật sư và các kinh tế gia chuyên ngành
về chống bán phá giá để nghiên cứu các vụ kiện trước đây tại các
quốc gia mà hàng hoá Việt Nam có khả năng bị kiện để tìm hiểu
chiến thuật và chiến lược của ngành công nghiệp nội địa tại quốc
gia đó cũng như quan điểm của cơ quan quản lý chống bán phá
giá;
+ Làm việc với các thành viên hiệp hội để hoàn thiện
tiêu chuẩn kế toán nhằm đáp ứng các đòi hỏi của việc điều tra
1995 tới 10/2000 đã có tổng cộng 186 vụ tranh chấp thương mại đượcgiải quyết trong WTO, trong đó có 24 vụ liên quan tới bán phá giá(13%) Trong số 24 vụ tranh chấp này thì Hoa kỳ bị kiện 7 vụ, EU 2
vụ, các nước đang phát triển 7 vụ Trong năm 2001 có 8 vụ kiện vềbán phá giá thì Hoa kỳ bị kiện tới 3 vụ
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 90/2005/NĐ-CPquy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh chống bán phágiá hàng hóa nhập khẩu vào VN Đây vừa là công cụ pháp lý bắt buộcphải có để đối phó với hàng nhập khẩu bị bán phá giá vào Việt nam,vừa là vũ khí tốt giúp cho đàm phán với các nước khác theo kiểu “nếuanh điều tra phá giá với hàng của tôi thì tôi cũng sẽ điều tra phá giávới hàng của anh”
5 Những giải pháp khi thua kiện hoàn toàn:
* Đa dạng hóa thị trường:
Bài học đầu tiên từ vụ cá da trơn là khi ưu thế cạnh tranhcủa các nhà sản xuất nội địa giảm sút, thị phần của họ suy giảm,
họ có thể sử dụng mọi biện pháp có thể để ngăn cản hàng nhậpkhẩu Chống phá giá chỉ là một trong các biện pháp mà người sảnxuất nội địa có thể sử dụng Bài học thứ hai là: các nhà sản xuấtnội địa có nhiều ưu thế hơn các nhà sản xuất nước ngoài trongviệc vận động hành lang đối với ngành lập pháp
Những ưu thế này là :(i) kiến thức của họ về nền chính trị tại nước họ,(ii) tính “địa phượng cục bộ” của nền chính trị các
quốc gia lớn như Hoa Kỳ, (iii) sự hiểu biết và kinh nghiệm trong các hoạt động
quan hệ quần chúng (public relations) tại quốcgia đó, và
(iv) hệ thống quan hệ của họ
Do đó, các nhà sản xuất trong nước có nhiều cơ hộitrong việc ngăn cản hàng ngoại nhập hơn là ngược lại Đa dạngthị trường xuất khẩu giúp cho doanh nghiệp Việt Nam giảm thiểucác ảnh hưởng xấu trong việc xuất khẩu sang một quốc gia bị ngăncản
Thực tế năm 2007 Bộ Thủy sản cho biết sản phẩm cá tra, ba sa đạt mức tăng trưởng nhanh nhất Dự kiến cả năm, sản lượng cá tra, ba sa xuất khẩu đạt 210.000 tấn, trị giá khoảng 560 triệu USD Đáng nổi bật là giá trị kim ngạch xuất khẩu cá tăng mạnh ở hầu hết các thị trường Cá tra, ba sa được tiêu thụ mạnh ở EU và Đông Âu Nga nhập gần 54,9 triệu USD cá tra, ba sa Việt Nam, bằng 2.751% so với năm 2005 Ba Lan đạt 45 triệu USD, bằng 858% so với năm 2005 Điều này chứng tỏ thị trường cá tra, ba sa tại Nga, Đông Âu và EU rất có triển vọng.
Nga đã trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của cá tra, basa Việt Nam,
Số liệu từ Tổng cục Thống kê, năm 2006, bất chấp những sức ép cạnhtranh và rào cản thương mại mới, thủy sản Việt Nam vẫn đạt kimngạch xuất khẩu 3,36 tỷ USD, vượt hơn nửa tỷ USD so dự kiến kếhoạch năm.Việt Nam Phấn đấu đạt 72,5 tỷ USD giá trị xuất khẩu vàonăm 2010
* Xây dựng thương hiệu mạnh:
Vụ cá da trơn có một hệ quả mà VASEP không ngờ tới.Sau khi DOC áp dụng thuế bán phá giá đối với cá da trơn ViệtNam, lượng xuất khẩu cá da trơn của VASEP tới các thị trườngkhác tăng vọt(ví dụ EU, Nhật, Úc) Người Việt Nam cũng bắt đầu
sử dụng cá da trơn trong bữa ăn Lý do khá đơn giản, cá da trơnđược giới truyền thông quan tâm và là đề tài nóng hổi – dù rằng chỉtrong thời gian ngắn nhưng cũng đủ để người tiêu dùng Mỹ và cácquốc gia khác biết về sản phẩm Kinh nghiệm này cho thấy rằng,chất lượng tốt và giá rẻ là chưa đủ cho một sản phẩm để thâm nhậpthị trường nước ngoài Thương hiệu mạnh và các biện phápmarketing phù hợp là cần thiết
Trang 10
Trang 11NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM TRƯỚC NGUY CƠ
BỊ KIỆN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ TẠI
THỊ TRƯỜNG HOA KỲ
I Khái niệm:
- “Bán phá giá” xảy ra khi một nhà sản xuất nước ngồi bán sản phẩm
thấp hơn giá trị thơng thường của sản phẩm đĩ tại thị trường của nước
nhập khẩu
- Giá trị thơng thường cĩ thể là giá bán tại thị trường nội địa, thị
trường của một nước thứ ba, giá trị cấu thành hay các yếu tố sản xuất
trong trường hợp quốc gia xuất khẩu là một nước cĩ nền kinh tế phi
thị trường
II Ngành dệt may Việt Nam đối mặt với những đơn kiện chống
bán phá giá:
- Cuối tháng 9/2006, Chính phủ Mỹ tuyên bố sẽ chủ động điều tra
chống phá giá đối với Việt Nam nếu số liệu cho thấy hàng dệt may
của Việt Nam bán phá giá
- Chính phủ Mỹ sẽ theo dõi số liệu nhập khẩu, thu thập số liệu sản
xuất từ ngành cơng nghiệp nội địa của Mỹ và kiểm tra định kỳ 6 tháng
để xác định liệu cĩ thể khởi kiện hay khơng
- Vì Việt Nam đã được chính thức kết nạp vào WTO từ ngày
7/11/2006, nên đợt kiểm tra số liệu đầu tiên của Chính phủ Mỹ sẽ
diễn ra vào mùa hè năm 2007
- Số liệu bị kiểm tra sẽ bao gồm trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng
6 năm 2007
- Tất cả sản phẩm dệt (textile) và may (apparel) xuất sang Mỹ, đặc
biệt là quần, áo sơ-mi, đồ lĩt, đồ bơi và áo len sẽ là sản phẩm
mục tiêu
- Đại diện Thương mại Hoa Kỳ hứa sẽ theo dõi hàng nhập khẩu từ
Việt Nam “trong thời gian của chính quyền này (chính quyền Bush)”,
tức là đến hết 2008
III Cơ chế giám sát hàng Dệt May Việt Nam của Hoa Kỳ (đang
lấy ý kiến, chưa thông qua):
1/ Tóm tắt nội dung chương trình giám sát:
- Nhĩm sản phẩm dự kiến giám sát: quần dài, áo, đồ lĩt, đồ bơi, áo len
(dự kiến xác định theo CAT, mã 3 số - dữ liệu tập hợp để giám sát sẽ
thực hiện theo mã 10 số)
- Quy trình sản xuất mẫu (danh mục chi phí sản xuất): sẽ được xác
định khi cần thiết
- Giai đoạn giám sát: Việc phân tích các thơng tin thu thấp trong quá
trình giám sát sẽ được thực hiện 6 tháng 1 lần
2/ Các nhóm vấn đề bất cập liên quan đến chương trình giám sát:
a- Căn cứ pháp lý:
- Việc giám sát khơng phù hợp với quy định của WTO về điều tra
chống bán phá giá và nguyên tắc khơng phân biệt đối xử;
- Khơng thoả mãn điều kiện nào để tiến hành giám sát theo pháp luật
Hoa Kỳ;
- DOC khơng cĩ thẩm quyền tiến hành giám sát
b- Về đối tượng giám sát
- Danh mục sản phẩm dự kiến giám sát quá rộng, chưa được cụ thể
hố
- Các sản phẩm dự kiến giám sát (được xem là nhạy cảm) khơng phải
là những sản phẩm được sản xuất bởi các đơn vị đã lobby để thiết lập
cơ chế giám sát này (trong khi bản thân các đơn vị sản xuất những sản
phẩm này lại khơng cĩ nhu cầu và do đĩ khơng yêu cầu DOC giám
sát)
c- Về thủ tục giám sát
- Chưa thiết lập được các nguyên tắc, các phương pháp và bước giám
sát cụ thể >> khơng đảm bảo tính khả đốn, minh bạch
- Yêu cầu đối với thủ tục giám sát:
+ Tất cả các bước của quá trình giám sát phải cĩ sự tham gia bình luận và cung cấp thơng tin của các bên liên quan (các bên trực tiếp sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, bán lẻ nhĩm sản phẩm thuộc diện bị giám sát), đặc biệt là phải tư vấn cộng đồng doanh nghiệp dệt may VN;
+ Các thơng tin liên quan đến CTGS (từ thủ tục, phương pháp, nguồn số liệu, báo cáo giám sát…) phải được cơng khai hố trên Internet
IV Những điểm chính của luật Chống Phá Giá Hoa Kỳ:
- Cho phép Chính phủ Hoa Kỳ áp đặt thuế chống bán phá giá để bùtrừ việc hàng nhập khẩu bán ở mức “khơng cơng bằng” và gây thiệthại cho một ngành cơng nghiệp của Hoa Kỳ
- Để áp đặt thuế chống bán phá giá, chính phủ Hoa Kỳ phải xác địnhrằng hàng hố nhập khẩu:
+ đã bán ở mức “thấp hơn giá trị bình thường” + gây ra hoặc đe dọa gây ra “thiệt hại vật chất”
- Vai trị của Bộ Thương Mại Hoa Kỳ (DOC) và Ủy Ban Thương MạiQuốc Tế Hoa Kỳ (ITC):
+ Thông thường Bộ Thương Mại Hoa Kỳ (DOC) bắt đầu căncứ vào đơn kiện của một nhà sản xuất Hoa Kỳ, một nhóm cácnhà sản xuất Hoa Kỳ, hoặc một liên đoàn lao động Hoa Kỳđể tiến hành điều tra
+ Trong một số rất ít trường hợp, DOC có thể “tự tiến hành”điều tra
- Giá bán vào Hoa Kỳ được xem là “thấp hơn giá trị bình thường” nếu
giá bán được điều chỉnh tại Hoa Kỳ thấp hơn giá so sánh:
+ Giá bán tại thị trường trong nước – khơng áp dụngcho Việt Nam
+ Giá bán tại nước thứ ba – khơng áp dụng cho ViệtNam
+ “Giá áp đặt” – áp dụng cho Việt Nam (thôngthường là giá từ thị trường Bangladesh và Aán Độ),trong đó bao gồm:
Trang 12* Phương pháp tính biên độ phá giá đối với nền kinh tế phi thị
trường (NME):
- Bước 1: Tính giá ròng cho mỗi đợt bán hàng vào Hoa Kỳ
- Bước 2: Tính bình quân có trọng số cùng với giá ròng của mỗi số
hiệu kiểm soát của Hoa Kỳ (sản phẩm được sử dụng để khớp nhau
như được DOC định nghĩa)
- Bước 3: Tính giá trị thông thường căn cứ vào các yếu tố sản xuất
đối với số hiệu kiểm soát của Hoa Kỳ
- Bước 4: Tính biên độ trên mỗi đơn vị đối với từng số hiệu kiểm
soát của Hoa Kỳ
- Bước 5: Nhân biên độ trên mỗi đơn vị với số lượng của số hiệu
kiểm soát của Hoa Kỳ
- Bước 6: Cộng tất cả các biên độ phá giá (ví dụ: kể cả các biên độ
âm và dương đối với tất cả số hiệu kiểm soát)
- Bước 7: Chia tổng các biên độ phá giá cho giá trị của các đợt bán
hàng vào Hoa Kỳ để có biên độ phá giá bình quân có trọng số
chung
- Bước 8: Xác định biên độ chung có lớn hơn 2% hay không; nếu
lớn hơn, thì kết luận có bán phá giá
- Bước 9: Nếu biên độ phá giá chung do DOC tính tại quyết định
cuối cùng nhỏ hơn 2%, thì kết thúc điều tra nhà sản xuất
Ví dụ:
Hoa Kỳ xem xét một sản phẩm áo dệt kim xuất xứ từ
Việt Nam, bán tại thị trường Hoa Kỳ với giá 7.50 USD/pc có bán
phá giá hay không Kết quả theo bảng sau:
V/ Những yêu cầu đối với đơn kiện chống bán phá giá tại Hoa
Kỳ:
1/ Phạm vi:
- Khi nộp đơn, bên khiếu kiện cần mơ tả chi tiết loại hàng hố yêu cầu
điều tra bao gồm:
+ Các đặc điểm kỹ thuật và mục đích sử dụng của
hàng hố
+ Số phân loại hạng mục thuế quan hiện hành tại Mỹ
(số HTS)
- Đánh giá của Bộ TM về phạm vi của vụ kiện:
+ Nếu trước khi nộp đơn bên khiếu kiện cĩ yêu cầu
Bộ TM tư vấn về việc nộp đơn kiện thì Bộ TM phải
đảm bảo rằng phạm vi của đơn kiện là sự phản ánh
chính xác về loại sản phẩm đang chịu thiệt hại
+ Các bên liên quan cĩ thể đưa ra bình luận về phạm
vi của vụ kiện trong thời hạn 20 ngày sau khi viêc
khởi xướng vụ kiện được thơng báo trên Cơng báo
của Liên bang
2/ Sản phẩm tương tự:
- Bên khiếu kiện phải miêu tả rõ ràng sản phẩm tương tự của thị
trường trong nước, tức là sản phẩm bán tại thị trường Mỹ cĩ những
đặc điểm giống nhất với sản phẩm được nhập khẩu đang bị điều tra
- Bộ TM sẽ quyết định về sản phẩm tương tự cho mục đích tiến hành
điều tra, ITC cũng sẽ cĩ quyết định riêng của mình về sản phẩm tương
tự
3/ Cáo buộc phá giá:
- Cáo buộc về mức doanh số bán trong điều kiện thương mại khơng
cơng bằng (phá giá) là lý do của mọi đơn kiện Cáo buộc về bán phá
giá cần cung cấp đủ các thơng tin và dữ kiện cần thiết:
+ Việc tính tốn giá cả hàng hố bán ra tại thị trường
Mỹ nội địa và+ Giá trị thơng thường của sản phẩm tương tự đượcnhập khẩu từ nước ngồi
- Bộ TM sẽ kiểm tra xem liệu đơn kiện cĩ cung cấp đủ bằng chứng vềthiệt hại thực tế hay đe doạ gây thiệt hại thực tế hay khơng
+ Để đánh giá tính chính xác và đầy đủ của chứng cứliên quan đến thiệt hại thực tế và cáo buộc về mốiquan hệ nhân quả, Bộ TM sẽ so sánh các chứng cứtrong đơn kiện với những thơng tin sẵn cĩ hợp lý
- Đánh giá về cáo buộc thiệt hại của Bộ TM liên quan đến:
Trang 12
Nôi dung (USD/unit) Giá trị
I Chi phí đầu vào
II.Giá trị thông thường
Tổng giá trị đầu vào
K = J * 32% 3.93912
Chi phí tiền lãi (32%
theo BCTC tương tự) L = J * 4.6% 0.56625Tổng chi phí sản xuất M = J + K + L 16.81510
Giá thành sản phẩm O = M + N 19.16922
III So sánh
Giá trị bình thường P = O - D 19.13629Giá trị ròng tại Hoa Kỳ Q 7.50000Biên độ trên mỗi đơn vị R = P - Q 11.63629Biên độ tính theo tỷ lệ S = R / Q * 100% 155.1506%
IV Kết luận
> 2% Bán Phá Giá
Trang 13+ Giá bán tại thị trường trong nước giảm
+ Khối lượng sản xuất giảm
+ Khả năng khai thác cơng suất giảm
+ Thị phần và doanh thu giảm
+ Doanh thu mất di do hàng nhập khẩu
+ Khả năng lợi nhuận giảm
+ Số lượng cơng ăn việc làm giảm
+ Phá sản
VI Các giai đoạn diều tra chống bán phá giá
tại Hoa Kỳ:
Ngày Sự kiện
0 Đơn kiện đượcnộp
20 DOC Bắt ĐầuĐiều Tra
45
Quyết Định Sơ Bộcủa ITC
160 Ngày 210, nếuđược gia hạn
Quyết Định Sơ Bộcủa DOC
của DOC đều
được gia hạn
Quyết Định CuốiCùng của ITC
của DOC đều
được gia hạn
DOC ban hànhlệnh áp dụng thuếchống phá giá
VII Thủ tục của Bộ Thương mại Hoa Kỳ về diều tra chống bán
phá giá:
1/ Bảng câu hỏi:
- DOC sẽ đưa ra bảng câu hỏi cho các công ty được chọn để trả lời
bảng câu hỏi (bị đơn)
- Bảng câu hỏi dài và chi tiết và được chia thành các phần sau:
+ Phần A: Thông tin về tổ chức, phạm vi quản lý của
chính phủ trung ương đối với hoạt động xuất khẩu, nghiệp vụ kế
toán và hoạt động kinh doanh và thông tin chung về doanh số bán
hàng
+ Phần B: Không áp dụng cho các vụ kiện thuộc nền
kinh tế phi thị trường
+ Phần C: Thông tin về doanh số của hàng hóa tại Hoa
Kỳ
+ Phần D: Các yếu tố sản xuất
- Thời hạn: Thời hạn trả lời thông thường là ba mươi ngày kể từ
ngày đưa ra bảng câu hỏi, có thể được gia hạn thêm hai tuần
2/ Đối tượng xem thông tin của công ty:
- DOC và bên tư vấn của nguyên đơn
+ Căn cứ vào lệnh bảo vệ hành chính, hoặc viết tắt là APO, bên tư vấn của nguyên đơn được xem thông tin mật do bị đơncung cấp Ngay cả khi thông tin mật được vô ý tiết lộ, bên tư vấn của nguyên đơn vẫn được phép xem thông tin đó
+ Bên tư vấn của nguyên đơn sẽ đệ trình ý kiến cho DOC về các lĩnh vực mà họ tin là thiếu hoặc các lĩnh vực mà nguyên đơn tin là bị đơn đã sử dụng phương pháp không thích hợp
3/ Bảng câu hỏi bổ sung:
- Căn cứ vào các ý kiến của nguyên đơn, và sau khi kiểm tra độc lập, DOC sẽ đưa ra bảng câu hỏi bổ sung
+ Độ dài và độ dày: sẽ thay đổi căn cứ vào chất lượng của dữ liệu do bị đơn nộp và chất lượng kiểm tra của cả nguyên đơn và DOC
+ Thời Hạn Trả Lời: Thông thường là hai tuần, có thể được gia hạn thêm hai tuần nữa
* Lưu ý: DOC có thể đưa ra nhiều bảng câu hỏi bổ sung.
+ Thẩm Tra Việc Bán Hàng: Nếu việc bán hàng được thực hiện trực tiếp đến Hoa Kỳ, thì việc thẩm tra sẽ được thực hiện tại nhà máy xuất khẩu; nếu thông qua công ty trực thuộc tại Hoa Kỳ, thì có thể được thực hiện tại Hoa Kỳ
+ Các Yếu Tố Sản Xuất: Sẽ được điều tra tại nhà máy hoặc trụ sở công ty
Lưu ý: Việc chuẩn bị tốt trước là cực kỳ quan trọng Thông thường, luật sư hỗ trợ cho công ty sẽ chuẩn bị cho công ty một tuần trước khi thẩm tra.
5/ Báo cáo thẩm tra:
- Ngay sau khi DOC hoàn tất thẩm tra, DOC sẽ ban hành báo cáo thẩm tra
- Giải Trình Tóm Tắt: Căn cứ vào các báo cáo này, cùng với bất kỳ vấn đề pháp lý nào khác có thể tồn tại, cả nguyên đơn và bị đơnđều có thể nộp tóm tắt cho DOC (gọi là “giải trình tóm tắt vụ kiện”)
- Phản Hồi Giải Trình Tóm Tắt: Trong vòng năm ngày, mỗi bên cóquyền phản đối bản giải trình tóm tắt của bên kia DOC sẽ tổ chứcđiều trần công khai (nếu được yêu cầu)
VIII Lựa chọn bị đơn:
- Lựa chọn các nhà sản xuất lớn nhất
+ Đây là phương pháp được DOC sử dụng trong hầu hết mọi trường hợp để lựa chọn bị đơn bắt buộc khi DOC không thể
Trang 13
X.định sơ bộ về thiệt hại
X.định sơ bộ về bán PG
Q.định c/cùng
về bán PG
Q.định c/cùng về thiệt hại
Trang 14điều tra hết tất cả các nhà sản xuất hoặc các nhà xuất khẩu do
nguồn lực hạn chế
+ DOC thông thường sẽ tìm cách điều tra các nhà sản
xuất chiếm ít nhất 60% lượng hàng xuất khẩu vào Hoa Kỳ
- Chọn nhóm mẫu
+ Hoặc DOC có thể lựa chọn một nhóm mẫu bao gồm
các nhà xuất khẩu, nhà sản xuất, hoặc các mặt hàng có giá trị
thống kê căn cứ vào thông tin mà DOC có được tại thời điểm lựa
chọn
+ Cách thức này không được sử dụng thường xuyên do
sự phức tạp của việc lựa chọn đúng nhóm mẫu để tiến hành
- Cách thức Để DOC xác Định Được các nhà xuất khẩu lớn nhất:
+ DOC đưa ra một bảng câu hỏi tiểu mục A
+ Chủ yếu yêu cầu cung cấp thông tin về khối lượng và
giá trị vận chuyển mặt hàng liên quan của nhà sản xuất/nhà xuất
khẩu đến Hoa Kỳ
- Các Nhà Sản Xuất Chưa Được Điều Tra: trong một vụ kiện đối
với nhà sản xuất thuộc nền kinh tế phi thị trường (NME), các nhà
sản xuất chưa được điều tra thường được áp dụng mức thuế chung
cho toàn quốc, mà mức thuế này thì cao:
+ Áp Dụng Các Mức Thuế Riêng: Nếu nhà sản xuất
chứng minh được rằng không có sự kiểm soát của chính phủ, thì
được áp dụng biên độ bằng với trung bình có trọng số của tất cả
các bị đơn bắt buộc (ngoại trừ biên độ tối thiểu và biên độ có thể
có trên thực tế), thường thì thấp hơn mức thuế chung cho toàn quốc
+ Phải nộp đơn trong vòng 30 ngày kể từ ngàycó thông
báo công khai thực hiện nếu công ty muốn bảo đảm quyền điều
chỉnh đơn Phải nộp trong vòng 60 ngày để được xem xét toàn bộ
IX Thông tin được sử dụng để đánh giá các yếu tố đối với nền
kinh tế phi thị trường:
1/ Cách thức xác định:
- Thông tin có được công khai từ một “quốc gia tương tự” đơn lẻ,
ngoại trừ đối với nhân công
+ Ngoại Lệ: Khi một yếu tố được cung cấp từ một nhà
cung cấp thuộc nền kinh tế thị trường và được thanh toán bằng tiền
tệ của quốc gia thuộc nền kinh tế thị trường, thì DOC sẽ sử dụng
giá được thanh toán cho nhà cung cấp của nền kinh tế thị trường
(nếu việc cung cấp từ nền kinh tế thị trường đó chiếm 33% trong
toàn bộ nguồn cung cấp của yếu tố đó)
Lưu ý: Các nguồn cung cấp từ Ấn Độ, Hàn Quốc, Thái Lan, và
Indonesia không thích hợp để được xem là “nguồn cung cấp của nền
kinh tế thị trường”.
+ Nhân công: DOC sẽ sử dụng “mức lương thấp” phản
ánh quan hệ giữa lương và thu nhập quốc gia tại các quốc gia có
nền kinh tế thị trường
2/ Mức lương nhân công:
- Hiện nay, Mức lương Nhân công tại Việt Nam là 0,65 USD/giờ
- Do sự thay đổi có lợi trong cách DOC tính mức lương nhân công
nên mức lương nhân công của Việt Nam dự đoán sẽ giảm đáng kể
Thực tế là DOC đã công bố sơ bộ mức lương nhân công mới tại
Việt Nam là 0,36 USD/giờ
- Mức lương Nhân công được sửa đổi hàng năm
3/ Quốc gia tương tự:
- Quốc gia đó phải có trình độ phát triển kinh tế có thể so sánh được với trình độ phát triển kinh tế của quốc gia có nền kinh tế phi thị trường
+ Chủ yếu nhấn mạnh vào GDP trên đầu người như là biện pháp có thể so sánh về kinh tế
+ Quốc gia đó phải có những nhà sản xuất đáng kể đối với mặt hàng có thể so sánh được
+ Thông thường DOC sẽ chọn Bangladesh làm quốc gia tương tự trong các vụ kiện liên quan đến Việt Nam
X Rủi ro của nhà sản xuất được điều tra:
- Thuế chống phá giá bổ sung được áp dụng đối với việc bán hàng vào Hoa Kỳ của nhà sản xuất
+ Mặc dù bên nhập khẩu nộp thuế chống phá giá, nhưngrủi ro dài hạn là bên nhập khẩu sẽ gặp phải những nhà sản xuất không bị áp thuế bổ sung hoặc nhà sản xuất được áp mức thuế thấpnhất
+ Tổn thất kinh doanh đối với các nhà sản xuất bị áp mức biên độ chống phá giá cao nhất
XI Những khó khăn chủ yếu của cá doanh nghiệp Việt Nam khi đối phó với các tranh chấp phá giá:
1/ Kiến thức về Luật thương mại quốc tế liên quan đến bán phágiá:
- Hầu hết tất cả các cán bộ nhà nước chịu trách nhiệm về vấn đề nàycịn thiếu kiến thức về các khía cạnh kinh tế của hiện tượng bán phágiá và luật quốc tế điều chỉnh hành vi này Cho đến nay, Việt Namchưa lần nào điều tra bán phá giá Kinh nghiệm đối phĩ với hàng xuấtkhẩu của ta bị điều tra phá giá cịn ít Hơn thế nữa, giới nghiên cứukhoa học cũng chưa quan tâm đầy đủ đến vấn đề bán phá giá Hệthống đào tạo về luật và thương mại chưa cĩ chương trình và đội ngũgiảng dạy về bán phá giá Trong bối cảnh như vậy nên chúng ta cũngkhơng cĩ luật sư hay nhà tư vấn nào cĩ kiến thức đầy đủ hay cĩ kinhnghiệm phong phú về bán phá giá cả
- Trong khi đĩ, để đối phĩ thành cơng ở mỗi vụ tranh chấp về bán phágiá, sự phối hợp nhịp nhàng giữa nhiều bên liên quan là yêu cầu sốngcịn Chẳng hạn, phải cĩ một cơ quan đầu mối về các tranh chấp liênquan tới bán phá giá Cơ quan này phải cộng tác chặt chẽ với các bộngành liên quan và phối hợp hành động với các nhà sản xuất, các nhàxuất khẩu hay nhập khẩu, hội bảo vệ người tiêu dùng, v.v Mặc dùchúng ta đang cải cách nền hành chính quốc gia, chính phủ nhiệm kỳmới vừa được thành lập nhưng rõ ràng là sự phối hợp giữa các cơquan nhà nước chưa thích hợp để giải quyết tranh chấp bán phá giá
Đĩ là chưa tính tới sự liên kết lỏng lẻo và cĩ phần yếu kém của cácnhà sản xuất và các nhà xuất khẩu Vì thế bên cạnh khĩ khăn lớn nhất
về thiếu kiến thức và kinh nghiệm thì sự phối hợp khơng đồng bộ củacác cơ quan hữu quan đang trở thành một cản trở lớn
2/ Hệ thống pháp luật về kinh tế và thương mại của Việt Namđang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện:
- Nước ta chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hố tập trung quan liêu baocấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưađược hai thập kỷ Mặc dù hệ thống pháp luật về kinh tế – thương mạicủa chúng ta đã được xây dựng mới, bổ sung và sửa đổi liên tụcnhưng rõ ràng là trong một giai đoạn ngắn như vậy hệ thống pháp luậtcủa chúng ta chưa thể đầy đủ và phù hợp với luật thương mại quốc tếngay được Trong lĩnh vực chống bán phá giá, chúng ta chưa cĩ luật
để đối phĩ với hàng nhập khẩu vào Việt Nam bị bán phá giá cũng nhưnhững qui định cần thiết để đối phĩ với việc hàng xuất khẩu củachúng ta bị các đối tác thương mại khác áp dụng biện pháp này
- Khi đối phĩ với biện pháp chống phá giá thì ngồi luật về chống bánphá giá chúng ta cịn cần hồn chỉnh các luật liên quan khác cho phùhợp với chuẩn quốc tế Chẳng hạn, điều tra xác định biên độ phá giá
là vấn đề rất phức tạp về kỹ thuật, những quy định về kế tốn cĩ tầmquan trọng lớn trong việc tính tốn cụ thể chi phí sản xuất, doanh thu,lợi nhuận, v.v Nếu khơng cĩ hệ thống kế tốn phù hợp với thơng lệquốc tế thì rất khĩ cĩ thể điều tra và đưa ra kết luận thích hợp được
- Trong việc đối phĩ với biện pháp chống bán phá giá cũng cần cải tổ
hệ thống tồ án Nhà nhập khẩu cĩ thể kiện ra tồ các quyết định liênquan tới biện pháp chống phá giá của cơ quan hành chính cĩ thẩmquyền Trong trường hợp ta chủ động áp dụng biện pháp chống bán
Trang 14
Trang 15phá giá thì hệ thống tồ án của ta cĩ lẽ chưa đủ điều kiện để giải quyết
khiếu kiện kiểu này, cịn trong trường hợp ta phải đối phĩ với biện
pháp chống phá giá của các đối tác khác thì chúng ta cũng chưa cĩ
kinh nghiệm sử dụng cơ chế kiện ra tồ chống lại quyết định của các
cơ quan hành chính cĩ thẩm quyền của họ
3/ Các biện pháp chống bán phá giá quốc tế chịu ảnh hưởng lớn bởi
quan hệ chính trị giữa các đối tác:
- Trong trường hợp hàng xuất khẩu của Việt Nam bị nước ngồi điều
tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá, chúng ta cĩ thể gây áp lực
chính trị với họ Nhưng với tiềm lực kinh tế, quốc phịng, khoa học kỹ
thuật, v.v của chúng ta hiện nay, chúng ta cần thấy rõ áp lực của
chúng ta khơng đủ mạnh Ngược lại, trong trường hợp chúng ta chủ
động tiến hành điều tra áp dụng biện pháp này với hàng nhập khẩu thì
cĩ thể dự đốn rằng một số nước cĩ thể dùng sức mạnh chính trị để ép
chúng ta nhân nhượng họ, chẳng hạn họ cĩ thể dùng những lá bài như
viện trợ phát triển chính thức (ODA), gia hạn qui chế đối xử tối huệ
quốc (MFN) v.v để đem ra mặc cả với ta
4/ Chi phí gia tăng:
- Trong việc áp dụng hay đối phĩ với biện pháp chống bán phá giá,
chúng ta cũng khơng thể khơng tính đến nhiều chi phí cần thiết Thật
vậy, nhiều khi chúng ta cần phải cử các nhĩm cơng tác ra nước ngồi
để điều tra, thu thập các thơng tin cần thiết, hoặc phải tham dự các
cuộc gặp với các cơ quan cĩ thẩm quyền của nước ngồi để giải trình,
cung cấp thơng tin hoặc thuyết phục họ chấm dứt điều tra, chấp nhận
biện pháp cam kết giá hay áp dụng mức thuế chống bán phá giá ở
mức càng thấp càng tốt
5/ Việt Nam chưa được công nhận là nền kinh tế thị trường:
- Cuối cùng khơng thể khơng lưu ý đến thực tế là một số nước chưa
cơng nhận nền kinh tế của chúng ta là nền kinh tế thị trường (KTTT)
Cần phải nhìn nhận vấn đề này từ hai khía cạnh
+ Thứ nhất, khơng cĩ những tiêu chí rõ ràng khách quan
để phân biệt đâu là nền KTTT và đâu là nền kinh tế phi thị trường Do
đĩ, việc thừa nhận một nền kinh tế là nền kinh tế thị trường hay
khơng nhiều khi phụ thuộc vào đánh giá mang tính chủ quan của từng
đối tác thương mại và việc đánh giá này cĩ thể chịu ảnh hưởng bởi
quan hệ chính trị
+ Thứ hai, chúng ta đang trong quá trình xây dựng nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và cho đến nay ta cũng
chưa cĩ đánh giá tổng kết nào về nền kinh tế của ta đang ở đâu trong
quá trình này
- Nếu trong quá trình điều tra bán phá giá đối với hàng xuất khẩu của
Việt Nam mà đối tác chưa cơng nhận nền kinh tế nước ta là nền
KTTT thì chúng ta sẽ gặp bất lợi trong việc chứng minh chúng ta
khơng bán phá giá hoặc bán phá giá với biên độ thấp
XII Chiến lược chống lại các cáo buộc chống bán phá giá:
1/ Kiểm tra, ngăn chặn Chống phá giá:
- Mục đích của việc kiểm tra ngăn chặn chống phá giá :
+ Ước tính biên độ phá giá có thể có
+ Cung cấp các chiến lược kịp thời nhằm giảm hoặc
giảm thiểu biên độ phá giá
- Gặp các luật sư chống phá giá:
+ Tìm hiểu về cách thức tổ chức của nhà sản xuất, kể cả
các nhà cung cấp liên quan
+ Tìm hiểu cách thức nhà sản xuất kinh doanh tại Hoa
Kỳ và tại thị trường trong nước hoặc nước thứ ba
+ Giải thích chi tiết cách thức tính toán bán phá giá
- Thu thập dữ liệu cho việc phân tích ban đầu:
+ Có được thông tin về bán hàng đối với việc bán hàng
vào Hoa Kỳ
+ Lựa chọn khối lượng sản phẩm cao nhất để phân tích
+ Xác định có cần thông tin về công ty Hoa Kỳ liên
quan hay không
+ Thu thập thông tin về chi phí (cước phí vận chuyển, chi phí bán hàng, v.v…)
- Thu thập các yếu tố sản xuất
+ Xác định thông tin cần thiết để đánh giá các yếu tố sản xuất
+ Xác định quốc gia tương tự (thường là Bangladesh đối với các vụ kiện đối với Việt Nam)
+ Thu thập thông tin từ các nguồn công khai+ Xác định có yếu tố nào được mua từ nền kinh tế thị trường hay không
+ Xác định có yếu tố đầu vào nào thuộc nền kinh tế thị trường đến từ một quốc gia mà DOC cho là có hỗ trợ về tài chính cho các yếu tố đầu vào hay không
- Tính Biên Độ Đối Với Các Sản Phẩm Mẫu:
+ Báo cáo cho ban quản trị về dữ liệu cần phải bổ sung để tính toán
+ Phân tích biên độ phá giá+ Nhận diện các lĩnh vực rủi ro+ Cung cấp báo cáo cho ban quản trị + Thảo luận các phương pháp có thể có để tối thiểu hóa biên độ
2/ Thiết lập hệ thống kiểm soát:
- Mục đích: Thu thập thông tin chi tiết cần thiết để ước tính và giảm thiểu biên độ phá giá tốt hơn
- Gặp gỡ nhà sản xuất để thảo luận về các lĩnh vực cần quan tâm và các lĩnh vực rủi ro từ việc kiểm tra ngăn chặn chống phá giá
- Giải thích dữ liệu cần thiết của công ty
- Thiết lập lịch biểu thu thập dữ liệu
- Thu thập dữ liệu tổng quát từ nhà sản xuất
+ Đánh giá dữ liệu về tính hoàn thiện và tính xác thực+ Phân tích biên độ phá giá
+ Cung cấp văn bản phân tích cho ban quản trị công ty + Cung cấp chiến lược nhằm giảm thiểu biên độ phá giá+ Xác định lịch biểu kiểm soát định kỳ
3/ Giảm thiểu biên độ trong tương lai:
- Giảm hoặc Giảm Thiểu Biên Độ:
+ Mua đầu vào từ các nền kinh tế thị trường+ Thay đổi quốc gia xuất xứ
+ Sử dụng các nhà máy hiệu quả+ Hợp tác với các nhà cung cấp+ Cước phí vận tải đường biển+ Cước phí vận tải đường bộ+ Diễn giải sai lệch về tài khoản+ Đặc điểm về sản phẩm của DOC
XIII Một số vấn đề đối với các doanh nghiệp Việt Nam:
Trang 15
Trang 16- Chuẩn bị cho vụ kiện chống bán phá giá , sử dụng phương pháp tính
tốn Đối với nước khơng cĩ nền kinh tế thị trường vì Việt Nam vẫn bị
xem là nền kinh tế phi thị trường khoảng 12 năm nữa
- Cần xem xét tư cách pháp lý và cơ chế hoạt động theo Luật Doanh
Nghiệp để chứng minh sự độc lập của doanh nghiệp mình, không có
sự can thiệp của chính phủ Việt Nam
- Thu thập dữ liệu từ Bangladesh và Ấn Độ; xem xét việc thuê các
nhà tư vấn hoặc liên kết với các quốc gia đĩ
- Cần xem xét lại tập quán lưu trữ tài liệu của cơng ty vì:
+ DOC tiến hành điều tra xác minh tại chỗ đối với các nhà
xuất khẩu, một cơng ty sẽ được điều tra trong vịng 5 ngày làm
việc
+ DOC xem xét các tài khoản, hố đơn, hồ sơ hải quan,
các khoản hồn thuế, tài liệu cơng ty, hồ sơ sản xuất
+ DOC thu thập cả hàng ngàn tài liệu để xem xét
- Làm việc với các nhà xuất khẩu của các quốc gia khác, các nhà nhậpkhẩu Hoa Kỳ và các bạn bè của Việt Nam để củng cố sự hỗ trợ chính trị cho các nhà xuất khẩu hàng dệt may vì:
+ Vụ kiện chống phá giá sẽ mang tính chính trị rất cao.+ Các nhà sản xuất nội địa Hoa Kỳ và các phe nhĩm chínhtrị khác đều liên quan
- Cần tham vấn các chuyên gia pháp luật Việt Nam người mà cĩ thể
hỗ trợ đáp ứng các yêu cầu của DOC và bảo đảm rằng các câu trả lời phải thống nhất với các vụ kiện chống phá giá đã xảy ra cĩ liên quan đến Việt Nam vì:
+ DOC yêu cầu dịch hàng ngàn tài liệu
+ DOC yêu cầu phân tích chi tiết về luật pháp và quy định của Việt Nam
Trang 16
Trang 17LIÊN KẾT KINH TẾ QUỐC TẾ I- NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LIÊN KẾT KINH TẾ QUỐC
TẾ
1/ Khái niệm :
Có rất nhiều khái niệm về liên kết kinh tế quốc tế xét ở
trên góc độ khác nhau, sau đây là những khái niệm mang tính phổ
biến
- Liên kết kinh tế quốc tế là việc thiết lập những luật lệ
và nguyên tắc vượt phạm vi một quốc gia để cải thiện thương mại
kinh tế và sự hợp tác giữa các nước
- Liên kết kinh tế quốc tế được xem là mỗi quan hệ kinh
tế vượt ra khỏi biên giới một quốc gia, được hình thành dựa vào sự
thoả thuận hai bên hoặc nhiều bên ở tầm vĩ mô hoặc vi mô nhằm
tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế và thương mại phát
triển
2/ Cơ sở hình thành các liên kết kinh tế quốc tế.
Điều kiện tự nhiên luôn gắn liền với sự ra đời và phát
triển của xã hội loài người Song điều kiện sống và sự phát triển
của các vùng, các châu lục lại có sự khác biệt Bởi vì cấu tạo tự
nhiên của trái đất đã phân thành các vùng với vị trí địa lý, khí hậu,
tài nguyên thiên nhiên khác nhau Chẳng hạn Châu mỹ có diện tích
tới 42.049.000 km2 nhưng cư dân chỉ vào khoảng 820 triệu người,
Châu Phi có 30.306.000 km2 dân số khoảng 780 triệu người, Châu
á diện tích 31.764.000 km2, song dân số lên đến 3,640 triệu, Châu
âu diện tích 22.985.000 km2 dân số vào khoảng 730 triệu…
Tổng sản phẩm quốc gia (GNP) của các châu lục cũng
khác nhau rất nhiều , Châu phi có diện tích rộng lớn, mật độ dân số
thấp, song bình quân GNP/ đầu người chỉ khoảng 700
USD/người/năm Châu á có mật độ dân số gấp 5 lần, nhưng bình
quân GNP đầu người khoảng 2450 USD/ người/ năm, còn Châu âu
có GNP lên tới 13.900 USD/ người/năm Chính sự phân bố không
đều về tài nguyên thiên nhiên, khí hậu, môi trường dẫn đến sự
khác nhau về trình độ phát triển, về thu nhập và mức sống, nên
hiện tượng di chuyển dân cư từ vùng mật độ dân số cao, điều kiện
sống khó khăn, đến nơi có điều kiện tốt hơn Điều đó diễn ra
thưỡng xuyên và trở thành tất yếu khách quan Mặt khác con người
phải tìm các giải pháp khắc phục tình trạng khan hiếm tài nguyên,
bằng cách giao thương trao đổi, mua bán không chỉ hàng tiêu dùng
mà cả các loại tài nguyên khoáng sản, nhằm khai thác các nguồn
lực dư thừa của các nước khác để bổ sung cho sự khan hiếm, thiếu
hụt nguồn lực phát triển của nước mình Điều này cũng trở thành
xu thế tất yếu phục vụ cho nhu cầu phát triển của các quốc gia trên
thế giới Bởi vì không có một quốc gia nào trên thế giới có đầy đủ
nguồn lực để tự mình xây dựng một nền kinh tế phát triển bền
vững
Ngoài những vấn đề thương mại tài chính quốc tế, thế
giới ngày nay có qúa nhiều vấn đề chính trị- xã hội – môi trường
có ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế toàn cầu như vấn đề :
khủng bố, dịch bệnh thiên tai, môi trường… đòi hỏi phải có sự liên
kết chặt chẽ giữa các nước
Ngày nay với sự phát triển kinh tế mang tính chất đa
phương, toàn cầu, các quốc gia trở nên phụ thuộc rất mạnh lẫn
nhau thông qua liên kết kinh tế
II- CÁC HÌNH THỨC LIÊN KẾT KINH TẾ QUỐC TẾ
A) Liên kết kinh tế quốc tế nhà nước (Macrointergration)
a) Khái niệm:
Là những liên kết kinh tế được hình thành trên cơ sở Hiệp
định được ký kết giữa hai hoặc nhiều chính phủ nhằm lập ra các
liên minh kinh tế khu vực hoặc liên kết khu vực nhằm tạo điều
kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế đối ngoại
b) Nguyên nhân hình thành.
Liên kết kinh tế nhà nước là tham gia vào qúa trình toàn
cầu hoá, nhằm tạo điều kiện tăng cường hợp tác giúp đỡ lẫn nhau
khai thác nguồn lực của nhau để cùng nhau phát triển kinh tế, dựa
vào các nước đồng minh trong liên kết để thực hiện bảo hộ một số
lĩnh vực nhất định Thực tế cho thấy nửa đầu thế kỷ 20 GDP của thếgiới tăng khoảng 2,7 lần, thì nửa cuối thế kỷ 20 tăng 5,3 lần.Tạo điều kiện thuận lợi cho việc truyền bá chuyển giaocông nghệ, vốn, kinh nghiệm tổ chức quản lý giữa các quốc gianhất là giữa các nước phát triển và đang phát triển,
Mở rộng giao lưu tăng cường quan hệ kinh tế, chính trị, xãhội giữa các nước, tham gia các vấn đề mang tính toàn cầu mà mỗimột quốc gia không thể giải quyết được, cũng như giải quyết cácvấn đề hợp tác, tranh chấp quốc tế trong khuôn khổ các nước đã kýkết
c) Các hình thức liên kết kinh tế
Liên kết kinh tế quốc tế mà trước hết là theo khu vực đangtrở thành mô hình chủ yếu của nền kinh tế thế giới Thông qua liênkết kinh tế mà mậu dịch tự do được thúc đẩy nhiều hơn, tiến tớiliên kết về nhiều mặt và xoá bỏ dần sự tách biệt giữa các quốc gia.Từ thấp đến cao thế giới đã trải qua các hình thức liên kếtsau
1/ Khu vực mậu dịch tự do (Free Trade Area).
Đây là hình thức kinh tế khá phổ biến hiện nay, trong đótất cả các hàng rào mậu dịch sẽ được bãi bỏ dần giữa các nướcthành viên, còn với các nước không phải là thành viên thì mỗithành viên vẫn giữ lại những hàng rào mậu dịch riêng của mình tứckhông thống nhất một mức thuế quan chung để đánh ra bên ngoài.Xây dựng các chương trình hợp tác kinh tế, đầu tư vì sự phát triểnchung tiến tới hình thành một thị trường thống nhất về hàng hoá vàdịch vụ
Một hình thức khu vực mậu dịch tự do có từ rất sớm đó là
“ khu vực mậu dịch tự do Châu âu- AFTA được thành lập năm
1960, bao gồm Anh, Áo, Đan Mạch, Na uy, Bồ Đào Nha, Thuỵ Sỹvà Thuỵ Điển, Phần Lan tham gia với tư cách là quan sát viên.Năm 1992, một khu vực mậu dịch tự do ra đời đó là khuvực mậu dịch tự do Bắc Mỹ –NAFTA bao gồm Mỹ, Canada,Mexico Đây là hình thức liên kết kinh tế lớn nhất hiện nay tổngGDP đạt vào khoảng 12.000 tỷ USD
Việt nam hiện là thành viên trong khu vực mậu dịch tự docủa các nước ASEAN , đó là AFTA – theo quy định mức thuế quansẽ giảm từ 0 đến 5% đến năm 2003 và xét theo hoàn cảnh gia nhậpcũng như trình độ phát triển kinh tế của một số nước mà việc cắtgiảm thuế sẽ được gia hạn thêm
2/ Liên minh thuế quan ( Customs Union)
Có những điều kiện giống khu vực mậu dịch tự do nhưngcao hơn khu vực mậu dịch tự do ở chỗ sẽ thống nhất một mức thuếquan chung để đánh ra bên ngoài với các nước không phải là thànhviên Các nước tham gia bị mất quyền độc lập tự chủ trong quan hệbuôn bán với nước ngoài khối
Thoả thuận xây dựng chung về cơ chế hải quan thốngnhất áp dụng chung cho các nước thành viên
Tiến tới xây dựng chính sách ngoại thương thống nhất.Cộng đồng kinh tế châu âu (EEC) là một ví dụ đặc trưngcho hình thức liên hiệp thuế quan, được thành lập vào năm 1957bao gồm 6 thành viên đó là :Tây đức, Pháp, Ý, Bỷ, Luých XămBua và Hà Lan
3/ Thị trường chung (Common Market)
Hình thức này thể hiện trình độ liên kết cao hơn so vớiliên hiệp thuế quan vì nó cho phép di chuyển tự do lao động và tưbản giữa các nước thành viên Từ năm 1992, EEC đã trở thành thịtrường chung Châu âu (ECM)
4/ Liên minh kinh tế (Economic Union)
Trang 17
Trang 18Là hình thức liên kết kinh tế có đặc điểm tương tự thị
trường chung Nhưng tính tổ chức thống nhất cao hơn so với thị
trường chung
Chính sách kinh tế đối ngoại, phát triển kinh tế chung
Có nghĩa là các nước xây dựng chính sách kinh tế đối ngoại và đối
nội như chính sách phát triển kinh tế vùng mà không bị chia cắt bởi
lãnh thổ quốc gia
Phân công lao động sâu sắc giữa các thành viên
Thiết lập một tổ chức điều hành sự phối hợp kinh tế
giữa các nước
5/ Liên minh tiền tệ (Monetary Union)
Một ví dụ rõ nét để minh hoạ cho hình thức liên kết này
chính là liên hiệp Châu âu (EU) sau khi hiệp ước Maastricht được
phê chuẩn một EU thống nhất đã ra đời, bao gồm 12 thành viên
của EEC trước đây Sau đó đến tháng 1/1995 kết nạp thêm 3 thành
viên mới đó là Áo, Thuỵ Điển, Phần Lan, Vào tháng 5/2004 EU
kết nạp thêm 10 thành viên nữa Nâng tổng số thành viên lên 25
Nếu thành công EU sẽ có một đồng tiền chung, một tiếng nói
chung, dân cư di lại tự do giữa các thành viên Nói tóm lại gần như
xoá bỏ đường biên giới giữa các quốc gia, chỉ còn là một quốc gia
thống nhất
Đây là hình thức liên kết kinh tế quốc tế cao nhất, đã đạt
trình độ của các hình thức liên kết trên và còn tiến xa hơn nữađó là
chẳng những thống nhất về kinh tế mà còn về tài chính Tiến tới
thành lập một “Quốc gia kinh tế chung” xây dựng chính sách kinh
tế chung, đối ngoại chung, hình thành một đồng tiên chung thống
nhất cho toàn khối, ngân hàng chung, quỹ tiền tệ chung, chính sách
lưu thông tiền tệ thống nhất, cũng như chính sách quan hệ tài chính
chung, tiến tới thực hiện liên minh về chính trị
Tuy mức độ liên kết khác nhau nhưng tất cả các hình thức
liên kết trên đây đều đưa đến kết quả là gia tăng khối lượng mậu
dịch, sử dụng tài nguyên tốt hơn và nâng cao mức sống của nhân
dân với mức độ ngày càng chặt chẽ hơn
BẢNG TỔNG HỢP CÁC HÌNH THỨC LIÊN KẾT KINH TẾ
Tự do di chuyển các yếu tố giữa thành viên
Các chính sách phát triển kinh tế chung
Đồng tiền chung
Có Có Có Có Có
B/ Liên kết kinh tế quốc tế tư nhân (Microintergration)
a) Khái niệm:
- Liên kết kinh tế quốc tế tư nhân là hình thức liên kết kinh tế quốc
tế ở tầm vi mô để lập ra các công ty quốc tế
b) Cơ sở hình thành và vai trò của các công ty quốc
tế.
- Cơ sở hình thành.
Xu thế quốc tế hoá lực lượng sản xuất, hình thành cáccông ty xuyên quốcsgia xu hướng sát nhập các công ty có quy mônhỏ thành các công ty khổng lồ để tăng khả năng cạnh tranh, nhằmđộc chiếm vai trò chi phối thị trường quốc tế đang tăng nhanh.Nhằm tránh sự rủi ro bất ổn của chu kỳ kinh doanh nội địa,mở rộng thị phần ra nước ngoài, cũng như nhằm chống lại chínhsách bảo hộ mậu dịch ở các nước, ở các khối liên kết kinh tế đanggia tăng Sự gia tăng nhu cầu trên thị trường thế giới về sản phẩm,dịch vụ công ty cung cấp
Chiến lược “ theo sau cạnh tranh”để bảo vệ thị phần, giảmchi phí, đa nguồn cung để giảm rủi ro, thu thập kiến thức, vượt quahàng rào thuế quan
Sử dụng lợi thế kỹ thuật chuyên môn bằng sản xuất trựctiếp hơn là license và đặc biệt là nhằm phân khúc thị trường đểphục vụ khách hàng quan trọng
- Vai trò của các công ty quốc tế :
Các công ty đa quốc gia là những công ty mà việc sở hữu,điều hành quản lý sản xuất tiến hành ở nhiều quốc gia Công ty đaquốc gia là một hình thức di chuyển vốn quốc tế nhằm đem lại hiệuquả cao Bởi vì trong quá trình thực hiện vốn di chuyển ra nướcngoài, các công ty mẹ ngoài cung cấp vốn, kỹ thuật, thiết bị, kinhnghiệm quản lý còn giám sát trực tiếp kết quả và hiệu quả kinhdoanh của các công ty con
Các công ty quốc tế ra đời có một vai trò to lớn trong nềnkinh tế thế giới là thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển Cáccông ty tư bản độc quyền xuyên quốc gia đã có ảnh hưởng và tácđộng mạnh mẽ đến quá trình toàn cầu hoá
Theo số liệu của UNCTAD, năm 1998 có hơn 53.000doanh nghiệp hoạt động xuyên quốc gia với 450.000 cơ sở sản xuấtvà chiếm gần 2/3 tổng khối lượng buôn bán trên thế giới, trong đo
¼ buôn bán nội địa Theo tài liệu Liên Hiệp Quốc thì 60.000 hãngxuyên quốc gia trên thế giới chiếm ¼ sản lượng sản phẩm đầu racủa thế giới, kiểm soát 2/3 thương mại thế giới, 4/5 nguồn vốn đầu
tư trực tiếp từ nước ngoài và 9/10 kết quả nghiên cứu công nghệtrên thế giới
Công ty xuyên quốc gia được hình thành dựa trên hệ thống
so sánh của hệ thống sản xuất và phân phối mang tính chất toàncầu nhằm thu lợi nhuận tối đa Mỗi liên hệ giữa công ty mẹ vàcông ty con được thực hiện dưới 2 dạng :
Thứ nhất: Liên kết dọc là liên kết giữa công ty mẹ và
công ty con ở các quốc gia khác nhau Mỗi liên kết này giúp chocác công ty đa quốc gia nắm chắc và chủ động trong cung cấpnguyên vật liệu và các sản phẩm trung gian cần thiết từ nướcngoài
Thứ hai: Liên kết ngang là mỗi liên kết giữa các công ty
con ở các quốc gia Mỗi liên kết này tạo điều kiện thuận lợi chocác công ty tổ chức tốt mạng lưới dịch vụ, phân phối sản phẩm,tiến hành marketing nhằm cho các sản phẩm nhanh chóng chiếmlĩnh thị trường
Công ty đa quốc gia có những ưu điểm hơn so với các công ty quốcgia thuần tuý ở những điểm sau:
+ Mở rộng thị trưòng mỗi liên kết dọc, ngang giữa cáccông ty mẹ và con đã hình thành một thị trường xuyên suốt giữacác quốc gia Ví dụ: các Công ty lữ hành quốc tế tổ chức các tua
du lịch theo hệ thống khách sạn, dịch vụ của mình
+ Công ty đa quốc gia có nhiều vốn và dễ tiếp cận với cácthị trường vốn quốc tế, cho nên có đủ điều kiện để thực hiện các dựán đầu tư đòi hỏi quy mô lớn
+ Các công ty đa quốc gia có thể huy động nguồn vốnnước sở tại
+ Đủ điều kiện tài chính để nghiên cứu và phát triển côngnghệ mới tiên tiến
Trang 18
Trang 19+ Các công ty đa quốc gia có thể kích thích nguồn vốn
viện trợ
+ Các công ty có điều kiện thu thập thông tin toàn cầu, do
vậy có khả năng đánh giá đầy đủ, chính xác các tình huống thuận
lợi, khó khăn của thị trường thế giới, tạo điều kiện cho công ty có
những chiến lược và sách lược cụ thể để đối phó Chính vì vậy mà
hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả hơn, hàng hoá phù hợp
với thị hiếu của khách hàng hơn
Các công ty quốc tế góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế của
các nước, thay đổi thể chế chính sách kinh tế của một quốc gia và
bằng hình thức đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp các công ty quốc tế
đã cung cấp một số lượng vốn khổng lồ cho các nước đang phát
triển
Giúp đỡ các nước nghèo phát triển kinh tế, trình độ khoa
học kỹ thuật, công nghệ, chuyển giao phát minh sáng chế, khai
thác sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực thông qua đầu tư
Các công ty đa quốc gia góp phần tăng phúc lợi của thế
giới nhưng cũng gay ra khó khăn cho bản thân quốc gia đi đầu tư
và quốc gia tiếp nhận đầu tư
* Đối với quốc gia đầu tư :
+ Do một lượng vốn di chuyển sang các quốc gia khác cho
nên dẫn đến giảm việc làm trong nước gay tình trạng thất nghiệp
và bán thất nghiệp tăng Thu nhập bình quân giảm dẫn đến phát
sinh về tệ nạn xã hội, gây khó khăn cho quản lý an ninh trật tự xâ
hội
+ Thất thoát công nghệ tiên tiến của quốc gia, do các công
ty đa quốc gia vì mục đích lợi nhuận cao nên đã tăng cường xuất
khẩu công nghệ tiên tiến
* Đối với quốc gia tiếp nhận đầu tư:
Các công ty đa quốc gia là một trong những nguyên nhân
dẫn đến nguy cơ phá sản của các doanh nghiệp vừa và nhỏ do năng
lực cạnh tranh tại thị trường nội địa kém Ví dụ Công ty P & G và
UNILEVER đầu tư vào Việt nam đã làm phá sản NET, DASSO
+ Các công ty đa quốc gia tạo ra sự lệ thuộc về kỹ thuật ở
các nước sở tại Thông thường các công nghệ đựơc chuyển giao
vào các nước đang và chậm phát triển là những công nghệ đã lạc
hậu, lỗi thời Dẫn đến năng suất, chất lượng sản phẩm thấp, gây ô
nhiễm môi trường
+ Khai thác cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên
+ Thông qua chiến dịch quảng cáo rầm rộ làm thay đổi thị
hiếu người tiêu dùng
* Các hình thức công ty quốc tế.
- Phân loại theo nguồn vốn:
+ Công ty đa quốc gia (Multinational Company or
Enterprise – MNC or MNE) là công ty được thành lập do vốn củanhiều nước đóng góp
+ Công ty toàn cầu : (Global Company- GC) là công ty
tiêu chuẩn hoá các hoạt động toàn cầu trên mọi lĩnh vực
+ Công ty xuyên quốc gia : ( Transnational
Corporation-TNC) là MNC hoặc GC
- Phân loại theo phương thức hoạt động :
+ Trust – Tổ chức độc quyền quốc tế liên kết 1 số lượnglớn các xí nghiệp của một ngành hay những ngành gần nhau trong
- Đặc điểm phát triển của Công ty quốc tế :
Các Công ty quốc tế chuyển dịch dần hướng đầu tư sangcác lĩnh vực quan trọng đòi hỏi trình độ, chất xám, vốn lớn như :lĩnh vực nghiên cứu, tài chính ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ thươngmại, bất động sản
Ngày nay các công ty xuyên quốc gia có tầm ảnh hưởngrất lớn đến sự phát triên kinh tế toàn cầu, và ngày càng có nhiềucông ty ra đời và đang khẳng định được vị thế chỗ đứng và mởrộng sự bành trướng ở khắp các châu lục Muốn tồn tại và pháttriển tất cả các Công ty xuyên quốc gia các nước đều phảigia tăngthực lực kinh tế của mình và lấy đó là điểm tựa chính để mở rộngkhả năng tham dự vào cuộc cạnh tranh ngày càng quyết liệt trênphạm vi toàn cầu, mặt khác cuộc cạnh tranh quốc tế lấy thực lựckinh tế làm cốt lõi có xu hướng ngày càng quyết liệt đó cũng khiếncho nền kinh tế ngày càng phát triển theo hướng quốc tế hoá và tậpđoàn hoá khu vực
Toàn cầu hoá không phải là “trò chơi” hai bên đều thắng,mà nó gây ra hiệu ứng hai mặt Có những khu vực, những nứơc vàdoanh nghiệp giàu lên nhanh chóng, nhưng cũng có nơi thua thiệthoặc thậm chí bị đẩy ra khỏi dòng chảy sôi động của thương mạivà đầu tư quốc tế, Do vậy để tránh thua thiệt và hưởng lợi trongcạnh tranh quốc tế các Công ty xuyên quốc gia đã chủ động hộinhập, sát nhập, liên hợp tăng sức cạnh tranh, học hỏi kinh nghiệm.Ngược lại với các hình thức thuế quan và phi thuế quanliên kết kinh tế quốc tế đem lại những lợi ích to lớn thông qua cáchình thức như khu vực mậu dịch tự do, liên hiệp quan thuế và đâycũng là xu thế chung của các quốc gia trên con đường hội nhập!
Trang 19
Trang 20TÀI TRỢ XUẤT KHẨU
CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC KHI VIỆT NAM THỰC THI CAM KẾT CỦA WTO VỀ
BỎ TÀI TRỢ XUẤT KHẨU
1/ Khái niệm về tài trợ và tài trợ xuất khẩu
- Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) có hai bộ
tiêu chuẩn về trợ cấp Một bộ áp dụng cho nông sản,
được đề cập trong Hiệp định Nông nghiệp Một bộ áp
dụng cho sản phẩm phi nông nghiệp, được quy định
trong Hiệp định về Trợ cấp và Biện pháp đối kháng
(SCM) Đối với nông sản, cho tới trước Hội nghị Hồng
Kông 12-2005, WTO không cấm hình thức trợ cấp nào
cả, kể cả trợ cấp xuất khẩu Tuy nhiên, trước sức ép
của các thành viên cũ, các thành viên mới gia nhập
WTO từ năm 1995, kể cả Trung Quốc và Campuchia,
đều phải cam kết loại bỏ trợ cấp xuất khẩu nông sản
- Với sản phẩm phi nông nghiệp, trợ cấp được
chia thành ba nhóm lớn Nhóm đèn đỏ là trợ cấp bị
cấm sử dụng, bao gồm trợ cấp xuất khẩu (lấy xuất
khẩu làm tiêu chí để cho hưởng trợ cấp) Theo SCM,
trợ cấp xuất khẩu không chỉ là trợ cấp dựa trên kết
quả xuất khẩu mà còn bao gồm cả trợ cấp dựa trên
mục tiêu hoặc tiềm năng xuất khẩu Các loại trợ cấp
này đều bị cấm bất kể chúng được quy định trong luật
hay không (theo luật định de jure hoặc trên thực tế
-de facto) và trợ cấp thay thế nhập khẩu (trợ cấp để
khuyến khích sử dụng đầu vào trong nước, khuyến
khích nội địa hóa) Nhóm đèn vàng là trợ cấp riêng
biệt cho một ngành hoặc một vùng, gây lệch lạc
thương mại, tuy không bị cấm sử dụng nhưng có thể
bị “trả đũa” (bị đánh thuế chống trợ cấp hoặc bị kiện
ra WTO) Nhóm đèn xanh là trợ cấp được coi là ít gây
lệch lạc cho thương mại (trợ cấp R&D, trợ cấp phát
triển vùng khó khăn ), được phép áp dụng mà không
bị “trả đũa” Tuy nhiên, WTO đưa ra những tiêu chí rất
chặt chẽ cho trợ cấp loại này
- Với cả trợ cấp nông nghiệp và phi nông nghiệp,
WTO đều có ngoại lệ dành cho các nước chậm và đang
phát triển Thí dụ, với trợ cấp phi nông nghiệp, Hiệp
định SCM liệt kê một số thành viên có GNP bình quân
đầu người dưới 1.000 đô la Mỹ/năm và cho phép họ
được duy trì trợ cấp xuất khẩu (trong danh sách này có
cả Ấn Độ, Indonesia và Philippines) Hiệp định cũng cho
phép các thành viên là nền kinh tế chuyển đổi được xóa
bỏ dần trợ cấp bị cấm trong vòng bảy năm, kể từ
1-1-1995 Tuy nhiên, bất kể quy định của Hiệp định SCM,
các thành viên gia nhập WTO từ năm 1995 đều không
được hưởng bất kỳ ngoại lệ gì, trừ một vài trường hợp
hãn hữu, quy mô trợ cấp nhỏ, thời gian xin chuyển đổi
ngắn (thí dụ, Jordan được duy trì chỉ hai chương trình
trợ cấp xuất khẩu trong vòng hai năm) Thực tế này và
việc ép các nước mới gia nhập phải bãi bỏ trợ cấp xuất
khẩu nông sản là những ví dụ điển hình của cái gọi là
“tiêu chuẩn kép” trong đàm phán gia nhập WTO mà các
tổ chức như Oxfam và Action Aid đã đề cập
- Muốn hiểu về trợ cấp xuất khẩu, trước hết phải
biết thế nào là trợ cấp Theo Điều 1.1 của HĐ SCM, trợ
cấp phải là một khoản hỗ trợ tài chính của chính phủ
cho tư nhân, và khoản hỗ trợ đó phải mang lại món nợ
cho bên được nhận hỗ trợ Bên cạnh đó, khoản hỗ trợ
phải mang tính chất khu biệt, có nghĩa là cấp cho
những doanh nghiệp nhất định nào đó Hỗ trợ tài chính
bao gồm: (a) Cơ chế của chính phủ mang lại các khoản
tiền trực tiếp (như cho vay), hoặc có thể mang lại các
khoản tiền trực tiếp đó (ví dụ như đứng ra bảo đảm cho
vay); (b) Các khoản thu nhập của chính phủ đến hạn
có thể có, nhưng được bỏ qua hoặc không thu (ví dụ
như miễn giảm thuế); (c) Chính phủ cung cấp hàng
hoá hoặc dịch vụ, hoặc mua hàng hoá; (d) Chính phủtrả tiền cho một thiết chế do mình lập ra hoặc chỉ đạo
tư nhân thực hiện các công việc (a) - (c) nói trên
- Trong quá trình xem xét tranh chấp về trợ cấp,các ban hội thẩm và Ban phúc thẩm của WTO đã giảithích cụ thể hơn các thuật ngữ Trong các vụ US-Leadand Bismuth II, US-Sofwood Lumber IV, Canada-Aicraft, và Brazil - Aicraft; Ban phúc thẩm giải thích thếnào là "món lợi": (a) Món lợi phải tạo ra từ sự khác biệt
cụ thể dựa trên lợi thế so sánh với thị trường, ví dụ nếudoanh nghiệp nhận được khoản vay với điều kiện nhưmọi doanh nghiệp khác trên thị trường, thì nó không bịcoi là trợ cấp ngay cả khi nó mang lại lợi nhuận chodoanh nghiệp; (b) Nếu DNNN trước đây được trợ cấp,nay tư nhân hoá theo đúng giá thị trường, thì khoản trợcấp trước kia không bị gán cho doanh nghiệp mới (nopass - through of subsidies); (c) Về thời điểm để xácđịnh có trợ cấp hay không, nếu doanh nghiệp đã nhậnđược cam kết pháp lý của chính phủ về khoản trợ cấpthì đó đã được coi là thời điểm nhận trợ cấp, ngay cảkhi trên thực tế doanh nghiệp chưa nhận được xu nào
- Tiếp theo, chúng ta sẽ xem xét cụ thể hơn trợcấp xuất khẩu Đây là dạng trợ cấp bị cấm trong WTO,
vì thế nó còn được gọi là trợ cấp "đèn đỏ" Trợ cấp xuấtkhẩu là dạng trợ cấp phụ thuộc vào hoạt động xuấtkhẩu, tức là doanh nghiệp muốn nhận trợ cấp này thìphải sử dụng nó cho mục đích xuất khẩu (Điều 3.1 HĐSCM) Phụ lục I của HĐ SCM cũng cung cấp danh sáchtham khảo những trợ cấp nào thì bị liệt vào trợ cấpxuất khẩu
- Trợ cấp xuất khẩu có thể là chính thức (de jure),cũng có thể là trên thực tế (de facto) Trong vụ Canada-Automotive Industry, Ban phúc thẩm giải thích rằng,một cách chính thức, "phụ thuộc vào hoạt động xuấtkhẩu" có nghĩa là "điều kiện để nhận trợ cấp được thểhiện thành câu chữ trong văn bản liên quan; hoặc điềukiện đó được thể hiện rõ, dù gián tiếp, trong chính sáchliên quan" Vì thế, trong vụ này, Ban phúc thẩm phánrằng, việc miễn một loati thuế nhập khẩu cho doanhnghiệp liên quan đến xuất khẩu cũng bị coi là trợ cấpxuất khẩu chính thức Còn trong vụ Canada-Aicraft,Ban phúc thẩm giải thích trợ cấp xuất khẩu chính thức
là loại trợ cấp "dù trực tiếp hay gián tiếp có mục đích
hỗ trợ và phát triển nền xuất khẩu của canada"
- Cũng theo Ban phúc thẩm trong vụ Aicraft, trợ cấp xuất khẩu trên thực tế "được luận ra từviệc tổng hợp tất cả các sự kiện thực tế liên quan" tuỳtheo từng vụ Ví dụ, trong vụ Australia-Leather, Banhội thẩm đã phân tích các sự việc để đi đến kết luậncông ty Howe đã nhận trợ cấp xuất khẩu của Chính phủ
Canada-Trang 20
Trang 21Úc, mặc dù trên văn bản hoặc chính sách không hề có
trợ cấp nào như thế cho Howe Điều kiện ban đầu để
nhận khoản trợ cấp này là công ty Howe phải tăng sản
lượng, mở rộng sản xuất và thị trường Thế nhưng, Ban
hội thẩm nhận xét, thị trường Úc quá nhỏ đối với Howe,
cho nên để đáp ứng điều kiện nói trên, công ty buộc
phải tăng lượng xuất khẩu Khi ký kết hợp đồng trợ
cấp, Chính phủ Úc chắc chắn thấy trước điều này, như
vậy đã chủ ý hỗ trợ hoạt động xuất khẩu của Howe
Ban hội thẩm kết luận, "những sự việc này trên thực tế
đã biến các mục tiêu tăng trưởng bán hàng thành mục
tiêu tăng trưởng xuất khẩu"
2/ Vai trò và hậu quả của tài trợ
- Trợ cấp xuất khẩu được quy định trong các điều
XVI và VI của Hiệp định GATT 1994 (gọi tắt là GATT
1994), và Hiệp định của WTO về trợ cấp và các biện
pháp đối kháng 1995 (gọi tắt là HĐ SCM) Ngoài ra,
Hiệp định về nông nghiệp (HĐ NN) cũng nói đến dạng
trợ cấp này
- Ngoài ra, còn có "luật án lệ" (case law) do các
bạn hội thẩm (panel) và Ban phúc thẩm (Appellate
Body) của WTO phát triển qua thực tiễn phán xét các
tranh chấp giữa các quốc gia thành viên Chúng ta sẽ
thấy vai trò của "luật án lệ" này trong khi xem xét các
quy định thành văn của WTO, cụ thể trong bài này là
các quy định về trợ cấp xuất khẩu
- Các tranh chấp về trợ cấp xuất khẩu có thể giải
quyết theo hai kênh: đa phương và song phương Đa
phương trong cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO và
song phương khi tự quốc gia đó tiến hành điều tra và
áp dụng các biện pháp thuế đối kháng
* Đa phương: Đưa ra WTO
Nếu một quốc gia thành viên WTO (tạm gọi là
A) tin rằng quốc gia thành viên khác (B) áp dụng trợ
cấp xuất khẩu, trước hết A có quyền yêu cầu tham vấn
với B Nếu trong vòng 30 ngày (hoặc lâu hơn tuỳ theo
thoả thuận đôi bên), các cuộc tham vấn vẫn không
đem lại giải pháp thích dáng, bất cứ bên nào cũng có
quyền yêu cầu Hội đồng giải quyết tranh chấp (Dispute
Settlement Body-DSB) của WTO thành lập một ban hội
thẩm 3 người để xem xét vụ việc Trong vòng 90 ngày
kể từ khi thành lập, ban hội thẩm phải xem xét và công
bố bản báo cáo cuối cùng cho tất cả các nước thành
viên Ban này có thể tự mình quyết định liệu có trợ cấp
xuất khẩu hay không; hoặc cũng có thể nhờ đến sự
giúp đỡ của Tổ chuyên gia thường trực (Permanent
Group of Experts - PGE) thuộc Uỷ ban trợ cấp và Các
biện pháp thuế đối kháng Mặc dù đây không phải là
điều khoản bắt buộc, nhưng một khi đã đề nghị PGE trợ
giúp, Ban hội thẩm phải chấp nhận ý kiến kết luận của
PGE và không được sửa đổi kết luận đó PGE cũng có
quyền tư vấn cho bất kỳ thành viên WTO nào về trợ
cấp, trong đó có trợ cấp xuất khẩu
Nếu các bên kháng án, DSB phải thông quabáo cáo cuối cùng của ban hội thẩm trong vòng 30ngày kể từ khi nó được công bố Trong trường hợpkháng án, Ban phúc thẩm sẽ xem xét lại những vấn đề
về luật (không xem xét những vấn đề về sự việc) Banphúc thẩm phải công bố báo cáo cuối cùng trong vòng
60 ngày kể từ khi nhận đơn kháng án, nhưng nếu trongvòng 30 ngày vẫn chưa thể công bố báo cáo, Ban nàyphải giải thích nguyên nhân Quy trình này ngắn hơnmột nửa so với các quy trình giải quyết tranh chấpkhác
Nếu Ban hội thẩm hoặc Ban phúc thẩm chorằng có trợ cấp xuất khẩu, quốc gia bị đơn phải huỷ bỏngay trợ cấp trong thời hạn do DSB quy định Trongthời hạn đó, nếu trợ cấp xuất khẩu vẫn không bị huỷ
bỏ, quốc gia nguyên đơn có quyền áp dụng biện pháptrả đũa (countermeasures) thích đáng Theo Điều 22.4,Hiệp định về giải quyết tranh chấp trong WTO, các biệnpháp trả đũa tính theo mức độ thiết hại Tuy nhiên,trên thực tế, có nhiều trường hợp trọng tài phán quyếtrằng biện pháp trả đũa được tính theo mức độ trợ cấp,
ví dụ trong vụ Brazil-Aircraft
* Song phương: Các biện pháp thuế đối kháng
Trợ cấp xuất khẩu nếu gây thiệt hại cho nềncông nghiệp của nước nhập khẩu cũng có thể bị kiệntheo cơ chế song phương và có thể bị áp thuế đốikháng theo quy trình chung về áp dụng các biện phápthuế đối kháng khác Muốn vậy, trước hết nước nhậpkhẩu phải chứng minh 3 điều kiện : (a) xác định được
đó là có trợ cấp xuất khẩu như đã trình bày ở phần thứnhất; (b) xác định được có thiệt hại xảy ra đối vớingành sản xuất mặt hàng tương tự của nước nhậpkhẩu; (c) xác định được mối liên quan giữa hai yếu tốtrên, đồng thời thiệt hại do các yếu tố khác gây rakhông được quy cho trợ cấp xuất khẩu
Tiếp theo, các điều 11 đến 13 của HĐ SCMquy định cụ thể quy trình khởi xướng và tiến hành điềutra về trợ cấp và áp dụng các biện pháp chống trợ cấp.Quy trình này phải đảm bảo tính minh bạch, mọi bênliên quan phải có cơ hội bảo vệ quyền lợi của mình, cơquan có thẩm quyền phải giải trình rõ tại sao họ lạiphán quyết như thế này chứ không như thế kia
Cơ quan có thẩm quyền ở nước nhập khẩu cóthể áp dụng một trong 3 dạng biện pháp sau đây: (a)Sau khi điều tra sơ bộ ít nhất được 60 ngày, áp dụngcác biện pháp đối kháng tạm thời không quá 4 tháng;(b) Nếu nước xuất khẩu tự nguyện huỷ bỏ hoặc hạnchế trợ cấp, hoặc xem xét lại giá nhập khẩu khiến cho
cơ quan có thẩm quyền đồng ý rằng thiệt hại sẽ khôngcòn xảy ra, thì cuộc điều tra sẽ được tạm dừng hoặcchấm dứt mà không áp dụng các biện pháp tạm thờihoặc thuế đối kháng; (c) Nếu cho rằng cả 3 điều kiệnnói trên đều đã được xác minh, nước nhập khẩu có thể
áp thuế đối kháng
Trang 21
Trang 22Mức thuế đối kháng không được vượt quá mức trợ cấp.
Thậm chí, nếu mức thiệt hại nhỏ hơn mức trợ cấp thì
áp mức thuế tương ứng với thiệt hại Thuế đối kháng
phải được áp dụng trên nguyên tắc không phân biệt đối
xử và không hối tố Sau một thời gian nhất dịnh (muộn
nhất là 5 năm) sau khi áp dụng hoặc sau lần xem xét
lại mới nhất, thuế đối kháng phải chấm dứt Tuy nhiên,
nếu cơ quan có thẩm quyền xác minh được rằng nếu
chấm dứt áp thuế đối kháng sẽ dẫn đến việc phục hồi
trợ cấp và xảy ra thiệt hại, thuế đối kháng sẽ không
được huỷ bỏ Nếu không hài lòng với phán quyết cuối
cùng của cơ quan có thẩm quyền, có thể kiện lên toà
án nước nhập khẩu theo quy trình xem xét lại các
quyết định hành chính
Trước hết, WTO là nơi kiện tụng giữa các quốc
gia Hầu hết các vụ kiện về trợ cấp đều liên quan đến
trợ cấp xuất khẩu Vì thế, chính phủ là nơi biết rõ nhất
và chia sẻ những tri thức đó Thế nhưng, những gì diễn
ra xung quanh vụ thép Trung Quốc giá rẻ vào Việt Nam
cho thấy, có vẻ như ngay cả các cơ quan liên quan trực
tiếp nhất cũng chỉ biết lơ mơ và trả lời còn lờ mờ về
thương mại quốc tế, cụ thể là về bán phá giá Có lẽ đối
với trợ cấp cũng không khá hơn Điều này quả thật rất
đáng ngại
Trợ cấp xuất khẩu nói riêng và những kiện
tụng khác liên quan đến thương mại quốc tế nói chung
trong WTO đòi hỏi một vốn tri thức khổng lồ và cặn kẽ
về pháp luật, kinh tế, chính trị và cả các chuyên ngành
khác Nó cũng cần thứ tiếng Anh tuyệt hảo để tranh cãi
trước các ban hội thẩm và Ban phúc thẩm, trước cơ
quan nước ngoài, để ra phán quyết tâm phục khẩu
phục với đại diện các nước Ngoài ra, nó cần những kỹ
năng chuyên sâu như hùng biện, ngoại giao Những
điều kiện này trước hết tối cần thiết cho những chuyên
viên của Bộ Thương mại và có thể là Bộ Ngoại giao, Bộ
Tư pháp sẽ thay mặt chính phủ trực tiếp hầu kiện ở
WTO
Như đã thấy, cơ chế giải quyết tranh chấptrong WTO chịu ảnh hưởng lớn từ luật án lệ của hệthống Anh - Mỹ Cách giải thích luật ở đấy rất giống vớicách thẩm phán Mỹ hoặc Anh giải thích luật: họ khôngchỉ vận dụng các điều khoản được trực tiếp quy địnhtrong các Hiệp định của WTO, mà còn viện dẫn đến cảnhững nguồn khác như luật tập quán quốc tế, lịch sửcủa hiệp định, ý đồ của nhà soạn thảo Ngay cả khiviện dẫn câu cú của luật, họ cũng có thể giải thích khárộng, có khi ngược với ý đồ ban đầu của văn bản Biết
và hiểu được tư duy này để: thứ nhất, không bị ngãngửa khi nghe lập luật và phán quyết; thứ hai, để sốngchung với nó, lựa theo nó để lập luận tốt nhất chomình Cùng một mức độ về chứng cứ, con người, cứ ai
lập luận thuyết phục hơn thì họ nghe Thứ ba, khi cần
tìm hiểu luật của WTO, không thể bỏ qua các bản báocáo của các ban hội thẩm và Ban phúc thẩm Các bảnbáo cáo này là một nguồn không thể thiếu của luậtWTO, vì vậy, nếu cứ quen như ở nhà chỉ chăm chămlục tìm văn bản sẽ không đủ
Đó là cho chính phủ Nhưng điều này không cónghĩa là doanh nghiệp không có việc gì làm ở đây Ví
dụ, đừng hy vọng nhiều vào việc trợ cấp xuất khẩu, vìphần lớn nó sẽ rơi vào trường hợp bị cấm, bị áp thuếrất cao, lợi bất cập hại Mặt khác, dù cơ hội ít ỏi, nhưngcũng cần tìm hiểu cặn kẽ để xem lúc nào có thể nhậntrợ cấp xuất khẩu mà không bị cấm Doanh nghiệpcũng có thể chủ động đề nghị chính phủ điều tra cácmặt hàng nhập khẩu cùng loại có nhận trợ cấp nhậpkhẩu hay không; hoặc yêu cầu chính phủ đưa vấn đề ra
cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO Nhưng muốnthế, giống như chính phủ, họ cũng phải nắm rõ các quyđịnh liên quan và nắm được các thông tin cần thiết đểtin rằng có sự trợ cấp như vậy Bài học chung nhất làbiết để tránh, khi nhỡ xảy ra rồi thì biết để sửa và chịuthiệt hại ít nhất
3/ Phân loại các hình thức tài trợ
- Ngay tại Điều 1 của Hiệp định này đã quy định:Một ngành công nghiệp được coi là đã nhận được trợcấp khi ngành này “được lợi” do 4 hành động sau đâycủa Chính phủ: 1/Hoạt động của Chính phủ liên quanđến việc chuyển tiền trực tiếp (ví dụ các khoản cho vaykhông, cho vay và hỗ trợ cổ phiếu), bảo đảm chuyểntiền hoặc chuyển nợ trực tiếp (như bảo lãnh thuế).2/Chính phủ miễn hoặc hoãn thu các khoản thuế đếnhạn (ví dụ các biện pháp khuyến khích tài chính như tíndụng, thuế) 3/Chính phủ cung cấp hàng hoá hoặc dịch
vụ ngoài cơ sở hạ tầng chung hay mua hàng hoá.4/Chính phủ tài trợ cho một cơ chế cấp vốn Tuy vậy,không phải mọi hoạt động trợ cấp đều bị WTO loại bỏ.Theo Hiệp định SCM có thể phân ra các loại trợ cấp nhưsau: 1/Trợ cấp bị cấm vận hoàn toàn (hay có thể gọi là
“trợ cấp đèn đỏ”) bao gồm trợ cấp xuất khẩu và trợ cấpkhuyến khích sử dụng hàng nội so với hàng nhập khẩu.2/ Trợ cấp không bị cấm nhưng có thể là đối tượng củacác biện pháp đối kháng (gọi là ềtrợ cấp đèn vàngể) 3/Trợ cấp không bị cấm và cũng không là đối tượng củacác biện pháp đối kháng (gọi là “trợ cấp đèn xanh”)
- Theo Hiệp định SCM thì tín dụng hỗ trợ xuất khẩucủa Quỹ Hỗ trợ Phát triển là một hình thức trợ cấp xuấtkhẩu Vấn đề đặt ra ở đây là khi gia nhập WTO, tíndụng hỗ trợ xuất khẩu có tiếp tục duy trì được haykhông và nếu còn tồn tại thì sẽ có biến đổi gì? Hiện naySCM hầu như không còn ngoại lệ dành cho nước pháttriển hoặc những nền kinh tế chuyển đổi nữa vì thế tất
cả các ềtrợ cấp đèn đỏể đều bị hạn chế hoặc nếu nó
Trang 22
Trang 23vẫn được duy trì sử dụng thì đương nhiên sẽ trở thành
đối tượng của các biện pháp đối kháng (điển hình là áp
mức thuế cao vào sản phẩm được trợ cấp ) Dẫu vậy
thì WTO vẫn ưu ái hơn tới các nước đang phát triển khi
có thể cho phép một số nước có thời gian quá độ 8 năm
để từng bước loại bỏ trợ cấp xuất khẩu và có thời gian
5 năm chuyển tiếp để cắt giảm các trợ cấp khuyến
khích sử dụng hàng nội so với hàng nhập khẩu
- Vì vậy, tính từ thời điểm này thì tín dụng hỗ trợ
xuất khẩu chỉ còn được tối đa là 10 năm nữa để duy trì
và cắt giảm dần dần theo đúng lộ trình mà đoàn đàm
phán gia nhập WTO có thể thương lượng đạt được
Đồng thời trong quãng thời gian đó hoạt động tín dụng
này cũng cần có sự chuyển biến cho phù hợp hoặc
thậm chí có thể ch m dứt hoàn toàn Tuy nhiên, khi mà
hầu như không một quốc gia thành viên nào của WTO
lại không duy trì trợ cấp thì Việt Nam cũng sẽ phải
nghiên cứu để duy trì trợ cấp phù hợp nhất Quan trọng
là hình thức trợ cấp này nên thuộc loại “đèn xanh” và
cũng có thể là “đèn vàng”, nhưng có thể được bỏ qua
không sử dụng các biện pháp đối kháng hay biện pháp
đối kháng sử dụng có thể chấp nhận được
- Trong vòng 5-10 năm tới tín dụng hỗ trợ xuất
khẩu phải thực sự tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy
xuất khẩu, hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu Việt
Nam đối với những ngành hàng ưu thế (như nông sản,
thuỷ sản, hạt tiêu, hạt điều, gạo, hàng thủ công mỹ
nghệ, hàng mây tre lá ) hay những thị trường thế
mạnh (thị trường Đông Âu truyền thống, thị trường
Trung Quốc, Nhật Bản, EU, Mỹ ) đủ sức trụ vũng và
cạnh tranh được trên thị trường quốc tế Tiến tới dù
không còn sự hỗ trợ này của Chính phủ thì các doanh
nghiệp, các ngành hàng trên sẽ lại có được sự giúp sức
của Hiệp hội ngành nghề, làng nghề hay Hiệp hội
doanh nghiệp lúc đó là đủ tầm hỗ trợ Vì thế ngay từ
bây giờ song song với việc hỗ trợ xuất khẩu thì Chính
phủ cũng cần quan tâm tới việc hỗ trợ hình thành và
phát triển các hiệp hội làng nghề hoặc hiệp hội doanh
nghiệp rất cần đối với doanh nghiệp Việt Nam trong
tương lai
- Vì vậy, tính từ thời điểm này thì tín dụng hỗ trợ
xuất khẩu chỉ còn được tối đa là 10 năm nữa để duy trì
và cắt giảm dần dần theo đúng lộ trình mà đoàn đàm
phán gia nhập WTO có thể thương lượng đạt được
Đồng thời trong quãng thời gian đó hoạt động tín dụng
này cũng cần có sự chuyển biến cho phù hợp hoặc
thậm chí có thể ch m dứt hoàn toàn Tuy nhiên, khi mà
hầu như không một quốc gia thành viên nào của WTO
lại không duy trì trợ cấp thì Việt Nam cũng sẽ phải
nghiên cứu để duy trì trợ cấp phù hợp nhất Quan trọng
là hình thức trợ cấp này nên thuộc loại “đèn xanh” và
cũng có thể là “đèn vàng”, nhưng có thể được bỏ qua
không sử dụng các biện pháp đối kháng hay biện pháp
đối kháng sử dụng có thể chấp nhận được
- Mặt khác, trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế,
mong muốn trở thành thành viên của WTO trở thành
hiện thực thì trợ cấp có còn nữa hay không? Thực tế tất
cả các nước thành viên WTO đều duy trì trợ cấp cho
doanh nghiệp, đó là loại ềđèn xanhể hay “đèn vàng”
chấp nhận được: ví dụ như trợ cấp cho hoạt động
nghiên cứu và phát triển (R&D); trợ cấp phát triển khu
vực; Trợ cấp bảo vệ môi trường
- Cùng với lộ trình cắt giảm dần dần hoạt động hỗ
trợ xuất khẩu trong đó có tín dụng hỗ trợ xuất khẩu thì
Chính phủ và Quỹ Hỗ trợ phát triển cũng nên nghiên
cứu xem xét mở rộng sang các hoạt động tín dụng ưu
đãi cho các hoạt động “đèn xanh” trên mà đặc biệt là
hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) hay hoạt
động bảo vệ môi trường làm định hướng phát triển cho
các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam trong hội
nhập
*
Trợ cấp bị cấm : là các khoản trợ cấp yêu cầu người nhận phải
đáp ứng được những mục tiêu xuất khẩu nhất định, hoặc phải sử dụng
hàng trong nước thay cho hàng nhập khẩu Chúng bị cấm vì chúngđược xây dựng nhằm làm biến dạng thưưong mại quốc tế, và do đó cókhả năng tác động tiêu cực đến trao đổi thương mại của các thànhviên khác Những trợ cấp này phải bị dỡ bỏ dần theo một thời gianbiểu quy định Chúng có thể bị đưa ra cơ chế giải quyết tranh chấpcủa WTO nếu không tuân theo thời gian biểu dỡ bỏ đó Nếu cơ chếgiải quyết tranh chấp kết luận rằng một khoản trợ cấp thuộc nhóm bịcấm, khoản trợ cấp đó phải được dỡ bỏ ngay lập tức Nếu không được
dỡ bỏ, nước nguyên đơn có thể có những biện pháp phản kháng lạikhoản trợ cấp đó Trong trường hợp ngành sản xuất trong nước bịthiệt hại bởi hàng nhập khẩu được trợ cấp, thuế chống trợ cấp có thểđược áp dụng đối với hàng nhập khẩu
* Trợ cấp có thể áp dụng : đối với những khoản
trợ cấp trong nhóm này, nước nguyên đơn phải chứngminh được rằng khoản trợ cấp đó có tác động tiêu cựcđối với lợi ích của họ Nếu không chứng minh được điều
đó, khoản trợ cấp được phép áp dụng Hiệp định quyđịnh ba hình thức thiết hại có thể gây ra bởi các khoảntrợ cấp thuộc nhóm này Thứ nhất, trợ cấp của mộtnước có thể gây thiệt hại đến ngành sản xuất nội địacủa nước nhập khẩu Thứ hai, trợ cấp của một nước cóthể gây thiệt hại đến xuất khẩu của một nước khác khihàng của 2 nước cạnh tranh với nhau trên thị trườngcủa một nước thứ ba Thứ ba, trợ cấp nội địa của mộtnước có thể gây thiệt hại đối với hàng xuất khẩu củacác nước khác được bán trên thị trường của nước ápdụng biện pháp trợ cấp Cũng giống như trường hợptrên, khi ngành sản xuất trong nước bị thiệt hại bởihàng nhập khẩu được trợ cấp, thuế chống trợ cấp cóthể được áp dụng đối với hàng nhập khẩu
- Hiệp định công nhận rằng trợ cấp có thể đóngmột vai trò quan trọng ở các nước phát triển cũng nhưtrong việc chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch tập trungsang các nền kinh tế thị trường
4/ Những điểm chính (hiệp định) của WTO về chống tài trợ trong lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp
- Một trong những nội dung mà cả Quỹ Hỗ trợ pháttriển, các tổ chức tín dụng ưu đãi của Nhà nước đến cácdoanh nghiệp xu t khẩu quan tâm tìm hiểu để có nhữngbước chuyển biến phù hợp với tiến trình Việt Nam gianhập WTO là: Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đốikháng - Agreement on Subsidies and CountenrvailingMeasures (SCM) SCM là một trong rất nhiều Hiệp địnhcủa WTO mà mục đích chung của các Hiệp định này làngăn cấm hoặc hạn chế các ảnh hưởng xấu tới hoạtđộng thương mại giữa các nước thành viên WTO, nhằmtạo ra một sân chơi chung bình đẳng cho mọi thànhviên của Tổ chức này
- Theo Hiệp định SCM thì tín dụng hỗ trợ xuất khẩucủa Quỹ Hỗ trợ Phát triển là một hình thức trợ cấp xuấtkhẩu Vấn đề đặt ra ở đây là khi gia nhập WTO, tíndụng hỗ trợ xuất khẩu có tiếp tục duy trì được haykhông và nếu còn tồn tại thì sẽ có biến đổi gì? Hiện naySCM hầu như không còn ngoại lệ dành cho nước pháttriển hoặc những nền kinh tế chuyển đổi nữa vì thế tất
cả các ềtrợ cấp đèn đỏể đều bị hạn chế hoặc nếu nóvẫn được duy trì sử dụng thì đương nhiên sẽ trở thànhđối tượng của các biện pháp đối kháng (điển hình là ápmức thuế cao vào sản phẩm được trợ cấp ) Dẫu vậythì WTO vẫn ưu ái hơn tới các nước đang phát triển khi
có thể cho phép một số nước có thời gian quá độ 8 năm
để từng bước loại bỏ trợ cấp xuất khẩu và có thời gian
5 năm chuyển tiếp để cắt giảm Hiệp định nông nghiệp của WTO yêu cầu các nước phảigiảm các hình thức trợ cấp bóp méo thương mại và chiatrợ cấp thành các nhóm:
* Hộp Xanh lá cây: gồm các biện pháp hỗ trợ
không hoặc hầu như không gây bóp méo thương mạinên các nước được phép duy trì không giới hạn Đặcđiểm của các biện pháp hỗ trợ thuộc Hộp Xanh lá cây là
do ngân sách chính phủ chi trả và không mang tính
Trang 23
Trang 24chất hỗ trợ giá trợ cấp khuyến khích sử dụng hàng nội
so với hàng nhập khẩu
* Hộp Xanh lơ: gồm các khoản chi trả trực
tiếp từ ngân sách nhà nước mà gắn với sản xuất và
thuộc các chương trình thu hẹp sản xuất nông nghiệp
Các nước không phải cam kết cắt giảm các biện pháp
này
* Hộp Hổ phách: gồm các biện pháp hỗ trợ bị
coi là gây bóp méo sản xuất và thương mại, vì thế các
nước phải cam kết cắt giảm theo một lộ trình nhất
định Các biện pháp được xếp vào Hộp Hổ phách có thể
là hỗ trợ giá, trợ cấp gắn với sản xuất, tức là tất cả
biện pháp hỗ trợ trong nước mà không nằm trong Hộp
Xanh lá cây và Xanh lơ Theo qui định của hiệp định
nông nghiệp, tổng mức hỗ trợ gộp cho phép đối với
nước đang phát triển là 10% giá trị sản lượng của sản
phẩm nếu là hỗ trợ cho sản phẩm cụ thê, và là 10%
giá trị sản xuất nông nghiệp cả nước nếu là hỗ trợ
không
5/ Vài nét về cam kết của Việt Nam về việc gia
nhập WTO về tài trợ xuất khẩu, nêu lộ trình bỏ tài
trợ xuất khẩu
- Việt Nam cũng đã cam kết xóa bỏ trợ cấp xuất
khẩu nông sản kể từ ngày gia nhập WTO và ràng buộc
trợ cấp xuất khẩu nông sản ở mức 0 trong Biểu cam
kết về hàng hóa Đối với trợ cấp bị cấm theo quy định
của Hiệp định về Trợ cấp và các biện pháp đối kháng
của WTO, Việt Nam cam kết xóa bỏ trợ cấp theo tỷ lệ
nội địa hoá hoặc yêu cầu sử dụng nguyên liệu trong
nước và trợ cấp trực tiếp từ ngân sách theo thành tích
xuất khẩu từ thời điểm gia nhập WTO
Đối với một số trợ cấp xuất khẩu bị cấm dưới hình thức
ưu đãi đầu tư đã cấp cho các dự án sản xuất hàng xuất
khẩu được cấp phép trước khi gia nhập, Việt Nam đề
nghị được áp dụng giai đoạn chuyển đổi 5 năm để xóa
bỏ từng bước các trợ cấp này nhằm bảo đảm tôn trọng
cam kết của Chính phủ với các nhà đầu tư hiện tại và
ổn định môi trường kinh doanh trong nước
- Với nông sản, cũng như các thành viên mới gia
nhập khác, Việt Nam cam kết sẽ xóa bỏ trợ cấp xuất
khẩu kể từ ngày gia nhập WTO Các hình thức hỗ trợ
nông nghiệp khác không gắn với xuất khẩu vẫn được
duy trì
- Với sản phẩm phi nông nghiệp, trong suốt 12
năm đàm phán, Việt Nam đã kiên trì thuyết phục các
thành viên WTO cho Việt Nam hưởng ngoại lệ của Hiệp
định về Trợ cấp và Biện pháp đối kháng (SCM) nhưng
do đàm phán gia nhập là đàm phán một chiều, các
nước mới gia nhập trước đó đều không đòi được ngoại
lệ nên cuối cùng Việt Nam đã cam kết như sau:
+ Bãi bỏ trợ cấp thay thế nhập khẩu (như
thuế ưu đãi theo tỷ lệ nội địa hóa) và các loại trợ cấp
xuất khẩu dưới hình thức cấp phát trực tiếp từ ngân
sách nhà nước (như bù lỗ cho hoạt động xuất khẩu,
thưởng theo kim ngạch xuất khẩu, hỗ trợ lãi suất cho
hợp đồng xuất khẩu…) kể từ khi gia nhập WTO
+ Với trợ cấp xuất khẩu “gián tiếp” (chủ yếu
dưới dạng ưu đãi đầu tư dành cho sản xuất hàng xuất
khẩu), sẽ không cấp thêm kể từ khi gia nhập WTO Tuy
nhiên, với các dự án đầu tư trong và ngoài nước đã
được hưởng ưu đãi loại này từ trước ngày gia nhập
WTO, ta được một thời gian quá độ là năm năm để bãi
bỏ hoàn toàn
Riêng với ngành dệt - may, tất cả các loại trợ cấp bị
cấm theo Hiệp định SCM, dù là trực tiếp hay gián tiếp,
đều được bãi bỏ ngay từ khi Việt Nam gia nhập WTO
Tóm lại, Việt Nam đã cam kết xóa bỏ hoàn toàn trợ
cấp bị Hiệp định SCM cấm kể từ khi gia nhập, chỉ bảo
lưu năm năm cho các ưu đãi đầu tư sản xuất hàng xuất
khẩu (ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, tiền thuê
đất, tiền sử dụng đất ) đã cấp cho các dự án từ trước
ngày gia nhập WTO (nhưng không bao gồm các dự ándệt-may) Các hình thức hỗ trợ khác cho sản xuất nôngnghiệp và công nghiệp, nếu không gắn với xuất khẩuhoặc khuyến khích thay thế hàng nhập khẩu, vẫn tiếptục được duy trì
+ Giai đoạn quá độ năm năm là ngoại lệ chưatừng có kể từ ngày WTO được thành lập Trước yêu cầukiên trì và chính đáng của Việt Nam, một nước đangphát triển ở trình độ thấp và đang trong quá trìnhchuyển đổi, các thành viên WTO đã phải nhân nhượng.Tuy chưa được như mong muốn nhưng kết quả đàmphán này đã phần nào giúp các doanh nghiệp của ta cóthêm thời gian để tự điều chỉnh, tránh được sự thay đổiđột ngột
* Tác động tới doanh nghiệp:
+ Việc bãi bỏ trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp nộiđịa hóa chắc chắn sẽ ảnh hưởng tới một số doanhnghiệp Để đánh giá mức độ ảnh hưởng, cần xem xétcác khía cạnh như đối tượng và quy mô được hưởng trợcấp, hiệu quả thực tế của trợ cấp, mối quan hệ giữa trợcấp với nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh và khả năngcủa Nhà nước trong việc chuyển đổi từ trợ cấp thuộcdiện phải bãi bỏ sang các hình thức trợ cấp khác đượcWTO cho phép
+ Về quy mô, không có nhiều số liệu để phântích Tuy nhiên, với ngân sách còn hạn chế như hiệnnay (và trong nhiều năm tới), có thể khẳng định con số
là rất khiêm tốn Chế độ thưởng theo kim ngạch xuấtkhẩu được áp dụng từ 1998 nhưng mãi tới 2004, tổngtiền thưởng mới đạt 29,4 tỉ đồng, tương đương gần 2triệu đô la Mỹ (báo Tuổi Trẻ ngày 25-7-2006) Sốdoanh nghiệp được thưởng là 349 Thật khó để nói rằnghàng vạn doanh nghiệp xuất khẩu của ta, với kimngạch xuất khẩu trên 30 tỉ đô la Mỹ/năm, lại “gặp khókhăn nghiêm trọng” khi Nhà nước bãi bỏ hình thức trợcấp này
+ Đối tượng được hưởng trợ cấp xuất khẩucũng là việc cần bàn Có ý kiến cho rằng bãi bỏ trợ cấpxuất khẩu nông sản sẽ khiến nông dân gặp khó khăn,nhưng từ trước tới nay, đã bao giờ người nông dânđược tiếp cận trực tiếp trợ cấp xuất khẩu, hay đốitượng được hưởng chỉ là các doanh nghiệp? Cứ cho làdoanh nghiệp được hưởng thì giá mua sản phẩm củanông dân sẽ tăng lên thì còn cần xét xem điều
Trang 24
Trang 25+ Trong báo cáo của Bộ Tài chính về những
cam kết của Việt Nam gia nhập WTO cho biết, theo quy
định của WTO về trợ cấp tập trung chủ yếu vào việc
phân biệt giữa các hình thức trợ cấp được phép với các
trợ cấp không được phép Trợ cấp được phép áp dụng
bao gồm các hỗ trợ cho nghiên cứu phát triển, hỗ trợ
vùng khó khăn, hỗ trợ bảo vệ môi trường Trợ cấp bị
cấm, chủ yếu là các khoản trợ cấp xuất khẩu hoặc thay
thế hàng nhập khẩu sẽ phải loại bỏ hoàntoàn
Cụ thể, trong cam kết WTO, Việt Nam phải bỏ
toàn bộ trợ cấp xuất khẩu đối với hàng nông sản ngay
khi gia nhập; với các khoản hỗ trợ trong nước được duy
trì ở mức 10% giá trị sản lượng như các nước đang
phát triển khác trong WTO Tuy nhiên, theo Bộ Tài
chính thì mức hỗ trợ trong nước thực tế hiện nay đang
Trong công nghiệp, xóa bỏ từ thời điểm gia
nhập các khoản trợ cấp bị cấm như trợ cấp xuất khẩu
và trợ cấp thay thế hàng nhập khẩu; những khoản trợ
cấp chi trực tiếp từ ngân sách nhà nước Các khoản trợ
cấp bị cấm dưới hình thức ưu đãi đầu tư cho xuất khẩu
và thay thế hàng nhập khẩu sẽ phải bỏ sau 5 năm từ
thời điểm gia nhập đối với các dự án đã đi vào hoạt
động Tuy nhiên các ưu đãi này không được áp dụng
với các dự án mới thành lập từ sau khi gia nhập Riêng
các khoản trợ cấp bị cấm đang áp dụng với ngành dệt
may sẽ phải bỏ ngay từ thời điểm gia nhập
- Những trợ cấp khác mà WTO không cấm thì
chúng ta vẫn được sử dụng Một số thông tin gần đây
có đăng gia nhập WTO chúng ta sẽ bỏ hết trợ cấp, điều
đó không phải Chúng ta chỉ bỏ những trợ cấp bị cấm,
còn những trợ cấp không cấm thì vẫn được duy trì và
thực hiện Còn đối với trợ cấp trong các lĩnh vực khác
liên quan dệt may, chúng ta có Quyết định 55 của Thủ
tướng Chính phủ Khi những người dịch lại cho các cơ
quan nước ngoài, phiên dịch không chuẩn Trong Quyết
định số 55, chúng ta nói hỗ trợ các doanh nghiệp để
sản xuất hàng dệt và may để xuất khẩu Nhưng, từ hỗ
trợ không có nghĩa là cho không (nhiều người dịch là
subsidize - cho không) dẫn đến có sự hiểu lầm Chúng
ta chỉ hỗ trợ vay vốn, Nhà nước chỉ hỗ trợ chênh lệch
giữa lãi suất thông thường và lãi suất ưu đãi, tổng cái
đó chỉ có năm triệu USD Khi đàm phán với Hoa Kỳ,
phía họ nói Việt Nam trợ cấp bốn tỷ USD cho ngành dệt
may Ðiều đó không phải Khi chúng ta chứng minh đầy
đủ số liệu, đoàn Hoa Kỳ mới cho là đúng Thứ nhất, vấn
đề cấp phép, Việt Nam cấp phép cho tất cả các doanh
nghiệp thuộc tất cả các thành phần kinh tế, kể cả các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham gia lĩnh
vực dệt may Thứ hai, chênh lệch, Việt Nam chỉ ưu đãi
về lãi suất, trong thời gian qua chỉ có năm triệu USD,
như vậy không phải lớn Nhưng, để thực hiện đàm
phán với Hoa Kỳ, Việt Nam đã bỏ Quyết định 55 Hoa
Kỳ sẽ bỏ hạn ngạch dệt may đối với Việt Nam Khi bỏ
hạn ngạch dệt may của Hoa Kỳ, thì EU và Canada đã
bỏ hạn ngạch cho chúng ta từ năm 2005 Khi gia nhập
WTO, toàn bộ dệt may không bị hạn ngạch nữa Ðây là
cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam Chúng ta cũng
phải bỏ một số quy định cấm: nhập khẩu thuốc lá điếu,
ô-tô đã qua sử dụng, linh kiện liên quan máy tính Trên
thực tế, cấm nhập ô-tô đã qua sử dụng đã bỏ rồi, vấn
đề hiện nay là thuế, làm thế nào bảo đảm quyền lợi
người tiêu dùng Bộ Tài chính đang tiếp tục làm để xử
lý vấn đề thuế, vì đây cũng là một trong những vấn đề
đáng quan tâm Chúng ta một mặt cần bảo vệ lợi ích
của người sản xuất, đồng thời cũng cần bảo vệ lợi ích
của người tiêu dùng Phải cân đối hai lợi ích này, chứ
không thể chỉ chú ý đến lợi ích của người sản xuất, mà
không chú ý đến lợi ích của người tiêu dùng
- Hai là, nền kinh tế của chúng ta có thời kỳchuyển đổi, nên có lộ trình giảm thuế, lộ trình chuyểnđổi thị trường Lộ trình giảm thuế lấy mức thuế hiệnhành bắt đầu giảm trong vòng 3-5 năm sẽ xuống mức14% Tất nhiên, từng mặt hàng có mức cắt giảm khácnhau: xe máy phân khối lớn theo lộ trình chúng ta cắtxuống còn 45% (hiện nay 60%); ô-tô tùy loại mức cắtgiảm xuống còn 52% hoặc 47% hoặc 50% Chúng ta
áp mức thuế bảo hộ cho ngành ô-tô, xe máy khá cao.Cho nên trên thực tế mức đó không phù hợp lắm, nếuchỉ bảo vệ cho người sản xuất, thì người tiêu dùng ViệtNam hiện nay chịu mức giá ô-tô cao nhất thế giới Vìvậy, chúng ta phải giảm thuế, một mặt phải bảo vệngười sản xuất, mặt khác phải cân đối lại lợi ích củangười tiêu dùng Hơn nữa, thực tế các tập đoàn đaquốc gia phân vùng, phân khu vực thành thị trường,cho nên đó cũng là điều kiện Một số ngành sản xuấttrong nước của Việt Nam hiện nay cũng đã phát triển.Cho nên, những ngành đó trong thời gian qua đã thaythế được phần lớn các mặt hàng lâu nay vẫn nhậpkhẩu Khi chúng ta mở cửa thị trường, các nhà sản xuấttrong nước có sản phẩm rồi Muốn hay không họ phảigiảm chi phí, nâng cao khả năng cạnh tranh để tồn tại
và phát triển Như thế, chúng ta sẽ có điều kiện đó Thí
dụ, phân đạm chúng ta đã có nhà máy phân đạm, nếuthuế có cao thì nhà máy phân đạm trong nước đã cókhả năng cung cấp cho thị trường Toàn bộ ngành bia,
có mở nữa cũng coi như toàn bộ các công ty bia củaViệt Nam vẫn cạnh tranh được; hoặc vật liệu xây dựng,xi-măng, thép (chủ yếu thép xây dựng, bắt đầu có đầu
tư thép cao cấp), điều kiện kinh tế của Việt Nam bâygiờ đã khác xa so với cách đây 15 năm
- Ðối với nông nghiệp, các nước thành viên cũ,mức thuế nông nghiệp khoảng 22% Nhưng xu hướngcác nước mới gia nhập phải giảm thuế nhiều hơn để gianhập Vì các nước cho rằng, các nước đã gia nhập phảimất vài chục năm đấu tranh từ GATT để có thành quảnhư bây giờ Các nước mới gia nhập nhiều hay ít đềuphải đóng góp qua việc cắt giảm thị trường, cắt giảmthuế
- Nhưng, tổng thuế với nông nghiệp, Việt Nam cólợi thế là có nhiều mặt hàng nông nghiệp xuất khẩu Ðãxuất khẩu được thì cạnh tranh được với thế giới Chúng
ta lo mặt hàng thịt bò, thịt lợn Chúng ta thấy, thịt bò,thịt lợn là các mặt hàng từ chăn nuôi đơn lẻ, chưa cótheo hình thức trang trại Cho nên, trong đàm phán rấtkhó khăn Các nước xuất khẩu thịt bò lớn: Hoa Kỳ,Canada, Australia, New Zealand đều yêu cầu giảm thuếtới 0-5% Chúng ta trả lời: Bò Việt Nam phần lớn là bòcóc, mỗi hộ nuôi 5-10 con, năng suất thấp, sức cạnhtranh không cao Giống bò của Việt Nam phần lớn phảinhập khẩu, phần trợ cấp của Nhà nước trong lĩnh vựcnày hầu như không có Các nước cũng thấy được khókhăn của Việt Nam và cũng đi đến mức giảm đến 4-5%
so với mức thuế hiện hành Mức 0-5% thì chúng tôicũng nói thẳng đàn bò cóc Việt Nam chết, không tồntại Và chúng tôi gia nhập WTO muốn để ổn định, pháttriển, mở cửa, nhưng mức độ phải phù hợp với ViệtNam chứ không phải mở theo bất cứ điều kiện nào.Cuối cùng, các nước cũng phải chấp nhận, ngay cả đàmphán với Hoa Kỳ vấn đề cuối cùng là đàm phán về thịt
bò và thịt lợn, thuế nông nghiệp Chúng tôi phải chấpnhận điều kiện với Hoa Kỳ là cao hơn so với Australia
và New Zealand Sau này cân đối lại biểu thuế sẽ có sựđiều chỉnh Các mức thuế sẽ áp dụng MFN cho nên cácnước đều hưởng mức thuế như nhau Cuối cùng BanThư ký sẽ tổng hợp lại
- Ðàm phán song phương là những cuộc đàm pháncăng thẳng Tất cả các đối tác yêu cầu đàm phán đông
vì các lý do: họ cho rằng Việt Nam là một thị trườngtương lai hứa hẹn, vì Việt Nam có số dân đông thứ 13thế giới, lao động hơn 40 triệu người, lao động trẻ hơn
30 triệu người Việt Nam có vị trí thuận lợi cả trên bộ,trên biển, hàng không, là điều kiện cho phát triển
Trang 25
Trang 26thương mại sau này Việt Nam có điều kiện thuận lợi
nữa là chúng ta ổn định về chính trị nhất trong khu
vực Ðây là điều các nhà đầu tư nước ngoài rất quan
tâm Có thể nói, thương mại Việt Nam những năm qua
tăng liên tục nhưng tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu
chưa phải là lớn lắm Thí dụ, năm 2005 kim ngạch cả
xuất, nhập khẩu mới đạt hơn 60 tỷ USD Nếu riêng
xuất khẩu mới khoảng hơn 30 tỷ USD, chúng ta phải
phấn đấu nhiều hơn nữa Ðàm phán các nước thống
nhất như vậy, nhưng nhìn vào tương lai, nhiều nước đòi
hỏi được đàm phán Khi chúng ta đàm phán với Trung
Quốc, chúng ta tưởng giữa Việt Nam - Trung Quốc đã
có Hiệp định tự do thương mại trong ASEAN, nên không
cần đàm phán nữa, nhưng với Trung Quốc vẫn phải
đàm phán 10 phiên, rất nhiều phiên căng thẳng, đàm
phán suốt đêm, nhiều vấn đề căng: mở du lịch, ngân
hàng phụ, mở vận tải đường bộ, nhưng sau đó, chúng
ta thấy khi đàm phán phải dựa vào quy định của WTO
Chúng ta thấy về vấn đề đường bộ, trong WTO chưa
phát triển, hầu như chưa nước nào cam kết, nên bỏ,
ngân hàng phụ thì chúng ta có ngân hàng 100% vốn
nước ngoài, chúng ta không thể mở theo kiểu đó được
Cuối cùng, Trung Quốc cũng chấp nhận
- Ðặc biệt, đàm phán sau này với Hoa Kỳ Hoa Kỳ
và EU là các đối tác lớn nhất trong WTO cả về hàng hóa
và dịch vụ Hoa Kỳ và EU đàm phán không phải vì lợi
ích của Hoa Kỳ và EU mà vì lợi ích của cả Tổ chức
Thương mại thế giới, nên yêu cầu đàm phán rộng hơn,
sâu và đa dạng hơn Ðàm phán như vậy rất phức tạp
Chúng ta cho rằng xong đàm phán song phương (BTA)
thì sẽ gần xong việc gia nhập WTO, trên thực chất, có
một số vấn đề rất lớn chưa giải quyết được, như hàng
dệt may Việt Nam còn hạn ngạch Mặt khác chúng ta
vẫn còn bị luật Jackson vanik hằng năm Quốc hội Hoa
Kỳ gia hạn một lần về cơ chế thương mại và chúng ta
chưa được hưởng quy chế thương mại bình thường vĩnh
viễn (PNTR) Vì vậy, để có được PNTR, Hoa Kỳ yêu cầu
chúng ta phải có đủ BTA, gia nhập WTO Hiện nay,
chúng ta làm xong cả hai nhiệm vụ đó Hoa Kỳ đánh
giá Việt Nam thực hiện đầy đủ BTA, đồng thời kết thúc
đàm phán về gia nhập WTO Ðó là điều kiện để trình
PNTR, chúng ta đang tích cực vận động để Quốc hội
Hoa Kỳ thông qua PNTR Việt Nam mới được hưởng
thuế phổ thông, chưa được hưởng thuế ưu đãi GST
Hoa Kỳ dành cho 72-74 nước được hưởng GST không
có Việt Nam, cho nên, gia nhập WTO là cơ hội cho
chúng ta trong một số vấn đề mà chúng tôi nêu
- Kết thúc đàm phán với Hoa Kỳ có người nói chưa
hài lòng, có người nói được nhiều, có người nói được ít
Chúng tôi thống nhất đây là đàm phán mà hai bên đều
giành thắng lợi Trên thực chất, các nhà đàm phán luôn
như thể no bụng đói con mắt, thường đòi những điều
kiện cam kết rất cao, nhưng nhà doanh nghiệp không
cần cái đó Nhà doanh nghiệp miễn có lợi là làm Cam
kết có cao mấy mà không có lợi thì vẫn không vào Ðó
là sự khác nhau giữa nhà đàm phán và doanh nghiệp
Thí dụ đòi mở ngân hàng như thế chúng ta đã cho chi
nhánh 100% vốn, nhưng ngân hàng Mỹ vì chiến lược
phát triển của họ nên rút, không ở Việt Nam Giữa cam
kết của nhà đàm phán với doanh nghiệp có khoảng
cách Nếu chúng ta kết thúc đàm phán với Hoa Kỳ mà
giành được PNTR, quỹ OPEC, quỹ hỗ trợ ngân hàng
EXIMBANK mới hoạt động mạnh Khi đó quan hệ đầu tư
của các nhà đầu tư lớn, xuất khẩu của Hoa Kỳ mạnh
hơn Kim ngạch buôn bán Việt Nam - Hoa Kỳ sẽ tăng
trưởng đáng kể trong thời gian tới
6/ Nêu thực trạng của tài trợ xuất khẩu của Việt
Nam trong thời gian qua
- Theo qui định của WTO, có những chính sách trợ cấp bị cấm
mà chúng ta thường gọi là hộp hổ phách (amber box) và những chính
sách trợ cấp được phép áp dụng trong hộp xanh lơ (blue box) và xanhlục (green box)
- Loại trợ cấp bị cấm liên quan tới trợ cấp xuấtkhẩu và trợ cấp thay thế hàng nhập khẩu Theo đó, cáckhoản thưởng xuất khẩu và hỗ trợ các dự án đầu tưsản xuất động cơ môtô hai bánh, trợ cấp tài chính chosản xuất dùng nguyên vật liệu nội địa hay hỗ trợ tàichính cho doanh nghiệp (DN) xuất khẩu thua lỗ đangtồn tại ở VN đều trái với cam kết gia nhập WTO của VN.Tuy nhiên VN vẫn chưa sử dụng hết các biện pháp trợcấp được phép của WTO
- VN chưa sử dụng hết trợ cấp “xanh lơ” và “xanhlục” : Đối với ngành nông nghiệp, một số hình thức trợcấp được phép nhưng chưa áp dụng là hỗ trợ điều chỉnh
cơ cấu DN, các khoản thanh toán trực tiếp cho ngườisản xuất (như chương trình bảo hiểm thu nhập); chicho các chương trình bảo vệ môi trường để hỗ trợ việcsản xuất ở các vùng có điều kiện bất lợi và các chínhsách trong hộp xanh lơ (các nước đang phát triểnkhông phải cam kết từ bỏ các hình thức chi trả trực tiếpnếu việc từ bỏ các khoản này dẫn đến thu hẹp việc sảnxuất trên một diện tích đất đai cố định hoặc số lượnggia cầm cố định) Về xuất khẩu, VN có thể xây dựngcác chương trình hỗ trợ chi phí tiếp thị, trợ cấp chi phívận chuyển hàng hóa xuất khẩu trong phạm vi nội địa
và quốc tế
- Việt Nam phải điều chỉnh chính sách trợ cấptheo hướng song song việc cắt bỏ các biện pháp bịcấm, cần chuyển sang các biện pháp phù hợp với quiđịnh của WTO như bảo hộ lao động, bảo vệ môi trường,thúc đẩy phát triển kinh tế các vùng kém phát triểnhơn Cơ bản thì dù trợ cấp bằng hình thức nào, điềuquan trọng đối với những nước đang chuyển đổi như
VN là phải xây dựng các chính sách thương mại đồng
bộ với nhau sao cho vừa phù hợp với luật chơi quốc tếvừa đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững
- Trong vài năm qua, Chính phủ VN đã dần điềuchỉnh chính sách trợ cấp cho phù hợp với luật lệ quốc
tế, vì thế ít có khả năng gây sốc cho các DN Điều tracủa chúng tôi lại cho thấy chỉ một số ít các chính sáchtrợ cấp hiện nay là thật sự hữu ích đối với sự phát triểncủa DN Dù được trợ cấp nhưng ngành điện tử vẫn ở vịthế yếu, ngành mía đường vẫn không thể cạnh tranhvới đường nhập khẩu
- Vì thế, vấn đề không chỉ là chính sách phù hợpvới qui định của WTO mà còn phải phát huy tác dụng.Nên cải cách thủ tục hải quan để giảm phí lưu kho bãi,
vì các phí tổn từ thủ tục rườm rà nhiều khi còn nhiềuhơn khoản trợ cấp ưu đãi mà DN nhận từ Chính phủ,chưa kể đánh mất cơ hội kinh doanh của DN
- Một số DN nhận thức tương đối rõ ràng về những
gì sắp xảy ra nhưng phần lớn có vẻ hơi lúng túng Các
DN cần sớm được tiếp xúc với những cam kết gia nhậpWTO, không chỉ riêng về vấn đề trợ cấp mà Chính phủ
VN đã đạt được với các nước
- Hiện tại, hai bộ đã trình Chính phủ phương ánnăm 2007 sẽ bỏ thưởng xuất khẩu đối với thành tíchxuất khẩu và thưởng vượt kim ngạch xuất khẩu
- Việc khen thưởng xuất khẩu được Bộ Thương mạitiến hành từ năm 1998, số doanh nghiệp và số tiềnkhen thưởng đều tăng nhanh qua mỗi năm theo sựtăng trưởng kim ngạch xuất khẩu chung cả nước
Trang 26
Trang 27Được biết, trong quá trình đàm phán song
phương với các đối tác, trợ cấp trong đó có trợ cấp xuất
khẩu thường là vấn đề nóng nhất trên bàn đàm phán
Thậm chí, trong quá trình đàm phán với một số đối tác
lớn, Việt Nam được xem là một nền kinh tế xuất khẩu
khá lớn và tăng trưởng cao Các đối tác tỏ ra lo ngại sự
tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam khi gia nhập WTO
sẽ gây ảnh hưởng đến sản xuất của nước mình Vì vậy,
hầu hết các đối tác đều có quan điểm khá cứng rắn về
vấn đề bãi bỏ các trợ cấp xuất khẩu Và không ít
trường hợp, Việt Nam đã phải nhượng bộ
7/ Cơ hội và thách thức đối với các doanh nghiệp
xuất khẩu và đề ra những giải pháp để doanh
nghiệp đứng vững khi nhà nước dần dần giảm và
tiến tới bỏ tài trợ xuất khẩu.
- Chính phủ và Quỹ Hỗ trợ phát triển bên cạnh việc
nghiên cứu hoàn thiện chính sách và đối tượng để tín
dụng hỗ trợ xuất khẩu phát huy được hiệu quả ở mức
cao nhất thì trong thời gian rất ngắn, nhằm tạo dựng
sức mạnh cho một số doanh nghiệp hay một số ngành
mà Việt Nam có ưu thế trên thị trường quốc tế thì cũng
dần có sự chuyển đổi hợp lý tránh tình trạng doanh
nghiệp hay ngành hàng phụ thuộc vào tín dụng hỗ trợ
xuất khẩu quá nhiều nên ỉ lại, tới lúc hội nhập mới tự
đúng trên đôi chân gần như đã tê liệt của mình
- Đây là một kết quả của sự nhân nhượng giữa các
khối nước phát triển và đang phát triển vốn đã bất
đồng sâu sắc với nhau về các vấn đề then chốt như thời
điểm xóa bỏ hoàn toàn việc trợ giá nông nghiệp của
các nước phát triển, việc mở cửa thị trường cho hàng
công nghiệp và các lĩnh vực dịch vụ ở các nước đang
phát triển, giúp cho cuộc thương lượng toàn cầu về tự
do hóa thương mại tránh khỏi sự thất bại hoàn toàn
- Mốc 2013 là đề xuất chính của Liên minh châu Âu
(EU), trước sức ép của Braxin và những nước đang phát
triển khác, muốn khu vực này xóa bỏ trợ cấp muộn
nhất là năm 2010 Bản dự thảo cũng đặt ra 30/4/2006
là thời hạn mới để các thành viên đề ra các biện pháp
cắt giảm thuế và trợ cấp nông nghiệp, công nghiệp
-một bước quan trọng để vạch ra -một hiệp ước tự do
thương mại toàn cầu vào cuối năm sau, một thỏa thuận
có quy mô lớn hơn xóa bỏ những rào cản thương mại
giữa các khu vực kinh tế khác nhau
- Các nước phát triển cũng đã chấp nhận không
đánh thuế và áp dụng hạn ngạch xuất khẩu (Côta xuất
khẩu) đối với ít nhất 97% các loại hàng hóa xuất khẩu
đến từ các nước nghèo nhất trên thế giới (LDC)
- Việc giảm thuế và hạn ngạch xuất khẩu sẽ bắt
đầu vào năm 2008 hoặc sau khi hoàn tất một hiệp định
khung toàn diện đối với vòng đàm phán Đôha Các quy
định mới này sẽ được áp dụng với tất cả các nước phát
triển nhưng các nước đang phát triển như Pakixtan,
Malaixia sẽ được miễn trừ nếu họ không có khả năng
bỏ thuế nhập khẩu
- Tuyên bố cuối cùng của hội nghị cũng đặt ra mốc
cuối tháng 10/2006 để các nước thành viên chuẩn bị
đầy đủ các đề xuất để mở của thị trường dịch vụ các
nước
- Cho tới nay chưa có đề án nào phân tích sâu về
hiệu quả của trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp nội địa hóa
Tất cả những lập luận về việc “nhờ trợ cấp chừng này
mà kim ngạch tăng chừng kia” đều chỉ là gán ghép một
cách áng chừng, rất thiếu thuyết phục Riêng mảng nộiđịa hóa thì kết quả có rõ hơn nhưng đó là một kết quảbuồn Vấn đề này đã được nhiều báo mổ xẻ nên xinkhông nói thêm
- Trong quá trình tìm giải pháp để nâng cao hiệuquả và sức cạnh tranh, trợ cấp đôi khi giống như condao hai lưỡi Nếu không khéo xử lý về mức độ và thờigian áp dụng, trợ cấp có thể gây tâm lý trông đợi vàsức ỳ đáng sợ, chưa kể những lệch lạc mà một chuyêngia tư vấn nước ngoài đã chỉ ra “ưu đãi thuế thu nhậpdoanh nghiệp như hiện nay phần nào khuyến khích cácnhà đầu tư “chia” doanh nghiệp hay dự án đầu tư củamình thành từng phần nhỏ, hơn là đầu tư mở rộnghoặc đổi mới công nghệ nhằm nâng cao quy mô và sứccạnh tranh Giảm mức độ ưu đãi về thuế sẽ giúp họcạnh tranh tốt hơn” Bên cạnh đó, kết quả điều tra của
Dự án nâng cao năng lực cạnh tranh Việt Nam (VNCI,2005) cho thấy hạ tầng và nguồn nhân lực là nhữngyếu tố quan trọng tác động đến quyết định đầu tư củadoanh nhân Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp chỉđứng hàng thứ bảy trong tổng số 14 yếu tố ảnh hưởngtới quyết định đầu tư Đây là kết quả rất đáng suyngẫm
- Cuối cùng, gia nhập WTO, Việt Nam chỉ bãi bỏ trợcấp xuất khẩu và trợ cấp nội địa hóa, các loại trợ cấp
“đèn vàng”, “đèn xanh” (xem thêm bài Quy định củaWTO về trợ cấp) vẫn được duy trì và không ai cấm Nhànước chuyển số tiền trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp nộiđịa hóa trước đây sang phát triển thủy lợi, kiện toàngiao thông nông thôn, nâng cao chất lượng giống, pháttriển công nghệ sau thu hoạch, xây dựng các kho lạnhcho hàng thủy sản và kho đệm để dự trữ lúa, cà phêcho bà con nông dân, tránh để họ phải bán ồ ạt khi vàovụ
- Các hình thức trợ cấp là rất đa dạng và đại đa số
là được phép theo quy định của WTO Vấn đề là chọnloại nào, hỗ trợ cho “gốc” (mang tính bền vững) haycho “ngọn” (mang tính tình thế), áp dụng cho ai, mức
độ là bao nhiêu, trong thời gian bao lâu để vừa thúcđẩy được sản xuất nhưng cũng nâng cao được hiệu quả
và sức cạnh tranh cho toàn bộ nền kinhtế
- Trong khi phải dỡ bỏ nhiều trợ cấp trái vớiqui định của WTO đối với nông nghiệp, VN đang tự kìmhãm cơ hội tận dụng những chính sách hỗ trợ chongành này mà WTO cho phép
- Theo qui định của WTO đối với nông nghiệp,
có những chính sách trợ cấp bị cấm nằm trong Hộp Hổphách và những chính sách trợ cấp được phép áp dụngtrong Hộp Xanh lơ và Xanh lá cây
- Theo nghiên cứu của bà Nguyễn Thị Hồng vàPhạm Thị Lan Hương - chuyên gia của dự án, hiện nayhầu hết chính sách hỗ trợ trong nước đều thuộc HộpXanh lá cây và hộp phát triển nên có thể tiếp tục duy trìsong song với việc chuyển dần một số biện pháp thuộcHộp Hổ phách sang hai loại trên Tổng mức hỗ trợ gộp(AMS) hiện nay chiếm 3,4%, thấp hơn nhiều so với mứctối thiểu được phép theo qui định WTO là 10% giá trịsản lượng Một ngoại lệ là ngành mía đường hiện cómức hỗ trợ rất cao (mỗi sản phẩm có mức AMS lên tới98,7%) nên ngành này đang và sẽ chịu ảnh hưởng đáng
kể khi buộc phải cắt giảm mạnh trợ cấp
- Tuy nhiên, rất nhiều các chính sách không bịcấm lại chưa được sử dụng như trợ cấp điều chỉnh cơcấu thông qua chương trình rút các nguồn lực khỏi sảnxuất nông nghiệp, chi trả trực tiếp cho người sản xuấtthay vì cho người xuất khẩu Bên cạnh đó, chúng tavẫn chưa có những hỗ trợ riêng cho thu nhập nhưchương trình bảo hiểm thu nhập và mạng lưới an sinhthu nhập cho nông dân Về xuất khẩu nông sản,chúng ta chưa tận dụng được trợ cấp chi phí tiếp thị,chi phí chuyên chở trong nước và quốc tế, quĩ xúc tiếnxuất khẩu cho vay tín dụng để xuất khẩu
Trang 27
Trang 28- Theo bà Hương, thực tế là do chi ngân sách
cho nông nghiệp còn thấp nên kinh phí cho nhiều chính
sách Hộp Xanh lá cây còn thấp; mặc dù những chính
sách đó thật sự giúp nông dân ở chừng mực nhất định
- Theo ông Antonia Cordella - chuyên gia của
Mutrap II - một điều hiển nhiên là gia nhập WTO sẽ
tăng cường tự do hóa thương mại trong lĩnh vực nông
nghiệp, mang lại lợi ích cho người tiêu dùng trong khi
mang lại thách thức cạnh tranh cho người nông dân Hệ
quả là người nông dân phải giảm chi phí sản xuất để
tăng khả năng cạnh tranh Những người không cạnh
tranh được phải rời khỏi ngành, chuyển đổi mô hình
sản xuất
- Rõ ràng “không phải nông dân nào cũng
hưởng lợi” - bà Phạm Thị Lan Hương khẳng định
Những nông dân sản xuất trong lĩnh vực sản xuất đầu
vào thay thế xuất khẩu như mía đường, hoặc trồng
những loại cây không có chức năng cung cấp hàng hóa
cho thị trường mà mang tính tự cung tự cấp là chính,
hoặc những nông dân vùng xa xôi hẻo lánh sẽ hưởng
lợi ít nhất, thậm chí là thiệt hại từ việc thực hiện các
cam kết WTO Bà Hương khuyến nghị cần tận dụng
những chính sách được phép như chính sách hỗ trợ
vùng miền, hệ thống an sinh xã hội, bảo hiểm giá để
giảm “sốc” cho nông dân khi gặp biến động về mùa
màng, giá cả
- Để những chính sách mới có lợi cho nông
dân và nông nghiệp, ông Cordella cho rằng cần các
biện pháp hướng về mở rộng tiếp cận thị trường, cải
thiện hệ thống tiếp thị và quan trọng hơn cả là hệ
thống thông tin thị trường
- Theo ông, khi người nông dân chỉ biết quan
tâm đến phát triển sản phẩm và phó thác khâu phân
phối, tiếp thị cho người môi giới, trung gian thì việc cần
làm đối với cơ quan quản lý là phải cung cấp thông tin
thị trường càng nhiều càng tốt Ông nói: “Làm sao để
hai đối tượng này chia sẻ các giá trị chung từ giá bán
lẻ, làm sao để giảm bớt lợi ích quá đáng của người
trung gian và tăng lợi ích cho nông dân.”
- Riêng việc bãi bỏ trợ cấp xuất khẩu và trợ
cấp nội địa hóa, Bộ trưởng Trương Đình Tuyển khẳng
định chắc chắn sẽ ảnh hưởng tới một số doanh nghiệp
Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng dự kiến không lớn Bãi
bỏ trợ cấp xuất khẩu nông sản có thể tác động đến
nông nghiệp nhưng tác động tiếp đến nông dân là
không lớn do đối tượng được hưởng trợ cấp xuất khẩu
trước đây tuyệt đại đa số là các doanh nghiệp
- Bộ trưởng nói: “Hiệu quả của trợ cấp xuất
khẩu và trợ cấp nội địa hóa cho tới nay là không rõ
ràng Và để hỗ trợ cho nông nghiệp, ta vẫn có thể sử
dụng các biện pháp được WTO cho phép không vượt
mức ta cam kết”
- Điểm mà nhiều người dân, doanh nghiệp và
nhà quản lý quan tâm nhất là tác động của những cam
kết trong giảm thuế nhập khẩu và mở cửa thị trường
dịch vụ
- Dự kiến, việc giảm thuế nhập khẩu sẽ khiến
một số ngành sản xuất trong nước phải chịu sự cạnh
tranh lớn hơn Tuy nhiên, mức giảm thuế theo cam kết
gia nhập WTO không sâu và rộng như mức giảm thuế
đã cam kết (và trên thực tế đã thực hiện) với các nước
ASEAN và Trung Quốc, Hàn Quốc trong khuôn khổ khu
vực mậu dịch tự do với các nước này
- Riêng đối với nông nghiệp, Bộ trưởng Trương
Đình Tuyển cho rằng áp lực cạnh tranh là rất lớn do
sản xuất nông nghiệp của Việt Nam vẫn là nền sản
xuất nhỏ, phân tán, năng suất và chất lượng thấp trong
khi bình quân đất nông nghiệp theo đầu người quá ít,
giá trị sản xuất nông nghiệp trên 1 ha canh tác trung
bình ở mức 30 triệu đồng
- Và trong tổng thể, khi hàng rào bảo hộ bị
thu hẹp, sản xuất trong nước sẽ phải đối diện với mức
độ cạnh tranh lớn hơn từ bên ngoài Không loại trừ khảnăng sẽ có biến động ở một số ngành, nhất là nhữngngành mà tính linh hoạt trong chuyển đổi không cao
- Về tác động của việc mở cửa thị trường dịch
vụ, theo báo cáo của Bộ Thương mại trước Quốc hội,mức độ cam kết về cơ bản là tương đương với BTA vàphù hợp với hiện trạng trong nước nên sẽ không gây ratác động quá lớn
- Những ngành phải chịu sức ép nhiều nhất sẽ
là kinh doanh chứng khoán, ngân hàng, phân phối và
hỗ trợ vận tải biển Tuy nhiên, Bộ trưởng Tuyển tintưởng rằng “chúng ta có một thời gian chuyển đổi đểchuẩn bị và cũng có một số công cụ để kiểm soát Nếu
có sự chuẩn bị tốt và vận dụng linh hoạt các công cụ
mà ta bảo lưu được trong Biểu cam kết dịch vụ, tácđộng của việc mở cửa thị trường là có thể kiểm soátđược”
- Điều này đặt ra không ít thách thức cho cáccông ty xăng dầu trong nước Đa số các doanh nghiệpxăng dầu VN hiện nay thiếu tích lũy tài chính cần thiết
và phản ứng yếu ớt, thiếu linh hoạt trước mỗi đợt biếnđộng của giá dầu thế giới Nói cách khác, nhiều nămqua, những doanh nghiệp này đã quen với “bầu sữangân sách” Nếu bỏ trợ giá hoàn toàn sẽ khiến nhiềudoanh nghiệp hụt hẫng, khó trụ vững, nói gì đếnchuyện cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài.Thực tế này đòi hỏi các doanh nghiệp trong nước phảithực hiện được điều cốt tử, đó là tự tích lũy tài chính vàxây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp, tiết giảm tối
đa chi phí để tăng sức cạnh tranh
- Mỗi năm, VN khai thác khoảng 18 triệu tấndầu thô và lợi nhuận từ xuất khẩu dầu thô được “tríchchéo” để bù cho mặt hàng dầu Theo tính toán của BộCông nghiệp, đến năm 2009, khi Nhà máy lọc dầuDung Quất đi vào hoạt động, nguồn nguyên liệu dầuthô sẽ phải dành cho nhà máy lọc dầu nhằm cung ứng60% nhu cầu xăng của cả nước, cho nên, kinh phí đểcấp bù sẽ không còn Đổi lại, sự chủ động về nguồnhàng sẽ giúp các doanh nghiệp xăng dầu trong nướcchiếm ưu thế tại thị trường bán lẻ trong nước
- Ở Trung Quốc, sau 2 tập đoàn SHELL và BP,TOTAL cũng đã ngấp nghé thâm nhập vào Dù vậy, cáccông ty xăng dầu nội địa Trung Quốc vẫn không bị “bể”
mà còn phát triển mạnh hơn nhờ chuẩn bị tốt, cũngnhư tranh thủ sự hỗ trợ linh hoạt của chính phủ Nguồntin từ Bộ Thương mại cho hay, tập đoàn SHELL cũng đã
gõ cửa thị trường xăng dầu VN và chắc chắn nhiều tậpđoàn khác cũng đang nhòm ngó Rõ ràng, từ nay đếnnăm 2009, nếu các chính sách quản lý-điều hành cũngnhư năng lực nội tại của các doanh nghiệp xăng dầutrong nước không được cải thiện nhanh và có chấtlượng, nguy cơ thất thế trước các tập đoàn xăng dầulớn là có thể nhìn thấy trước!
- Việt Nam khi đàm phán đa phương, chúngtôi lại phải đàm phán cả vấn đề nông nghiệp Nôngnghiệp Việt Nam canh tác lạc hậu, nhưng lại xuất khẩuđược nhiều Ðây là một xu hướng mà tất cả các nướcvừa qua đều phải bỏ trợ cấp xuất khẩu khi gia nhập đốivới hàng nông sản Chúng ta cũng phải chấp nhận xuhướng này Nhưng, 10% đối với hộp xanh (trợ cấptrong nước) thì Việt Nam vẫn được hưởng đầy đủ.Nhưng, đối với Trung Quốc (vì Trung Quốc phát triểnhơn Việt Nam) nên mức cam kết của Trung Quốc là8% Mức 10%, lâu nay chúng ta sử dụng rất ít Chúng
ta bỏ trợ cấp xuất khẩu, nhưng chúng ta chuyển tiếpvào cho người nông dân, người sản xuất và chế biếnnông sản, không trợ cấp vào xuất khẩu nữa 10% đốivới ngành nông nghiệp Việt Nam vào khoảng 11 tỷUSD Nên nếu 10% chúng ta có 1,1 tỷ USD/năm, đểphục vụ hỗ trợ cho nông dân trong nước, mức đó bảođảm nền nông nghiệp ổn định phát triển trong tươnglai
Trang 28
Trang 29HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT MỸ
(BẢN 1)
A PHAĂN MÔÛ ÑAĂUNgaøy nay, trong xu theâ hoôi nhaôp kinh teâ, ngaøy caøng nhieău
quoâc gia tham gia vaøo caùc toơ chöùc quoâc teâ, caùc quoâc gia cuøng nhau
kyù caùc hieôp ñònh hôïp taùc song phöông, ña phöông vôùi nhau ñeơ cuøng
phaùt trieơn Trong xu theâ ñoù, Vieôt Nam cuõng ñaõ noơ löïc ñeơ hoôi nhaôp
neăn kinh teâ theâ giôùi Vieôt Nam ñaõ kyù keât tređn 100 hieôp ñònh song
phöông vaø ña phöông, trong ñoù quan tróng nhaât laø hieôp ñònh Vieôt –
Myõ Hieôp ñònh naøy ñaõ khaúng ñònh raỉng Vieôt Nam luođn mong muoân
chuyeơn ñoơi neăn kinh teâ thođng thoaùng minh bách hôn, môû roông cô
hoôi vì töï do kinh doanh trong taât cạ caùc lónh vöïc Tuy nhieđn, hieôp
ñònh Vieôt – Myõ cuõng táo nhieău thaùch thöùc cho neăn kinh teâ Vieôt
Nam, cuõng nhö neăn thöông mái Vieôt Nam Hieôp ñònh thöông mái
Vieôt – Myõ laø moôt böôùc ñi quan tróng trong tieân trình bình thöôøng
hoùa quan heô giöõa Vieôt Nam vaø Hoa Kyø
B NOÔI DUNG
I Taăm quan tróng cụa Hieôp ñònh thöông mái Vieôt-Myõ:
1 Taăm quan tróng cụa Hieôp Ñònh Thöông Mái Vieôt –
Myõ:
Vieôt Nam ñaõ kyù Hieôp Ñònh Thöông Mái vôùi gaăn 170
quoâc gia vaø khu vöïc laõnh thoơ, nhöng vieôc kyù keât Hieôp Ñònh
Thöông Mái Vieôt – Myõ tái thụ ñođ Washington ngaøy 13/7/2000
coù yù nghóa ñaịc bieôt quan tróng vì nhöõng lyù do sau:
- Ñađy laø Hieôp Ñònh ñaău tieđn chuùng ta ñaøm
phaùn theo tieđu chuaơn cụa Toơ Chöùc Thöông Mái Theâ Giôùi
(WTO) Raât nhieău noôi dung cụa Hieôp ñònh Thöông Mái Vieôt –
Myõ gaăn gioâng nhö Hieôp Ñònh cụa toơ chöùc WTO maø Vieôt Nam
tieân haønh ñaøm phaùn ñeơ xin gia nhaôp Cho neđn coù nhöõng nhaø
nghieđn cöùu coù uy tín cho raỉng: Kyù ñöôïc Hieôp Ñònh Thöông
Mái vôùi Myõ laø Vieôt Nam ñaõ ñaịt ñöôïc nöûa baøn chađn vaøo Toơ
Chöùc Thöông Mái Theâ Giôùi (WTO), ñöa neăn kinh teâ Vieôt
Nam hoôi nhaôp vôùi neăn kinh teâ theâ giôùi nhanh choùng vaø hieôu
quạ hôn
- Myõ laø moôt quoâc gia coù neăn kinh teẫ lôùn nhaât
toaøn caău, Myõ chi phoâi hoát ñoông vaø caùc quyeât ñònh cụa nhieău
toơ chöùc quoâc teâ coù uy tín nhö WTO, WB, IMF, ADB,… cho
neđn kyù ñöôïc Hieôp Ñònh vôùi Myõ thì söï ạnh höôûng tích cöïc cụa
caùc toơ chöùc tređn ñoâi vôùi neăn kinh teâ Vieôt Nam seõ nhieău hôn
vaø thuaôn lôïi hôn
- Myõ laø thò tröôøng lôùn nhaât theâ giôùi (chieâm
khoạng 18% toơng thöông mái cụa theâ giôùi), haøng naím thò
tröôøng Myõ nhaôp khaơu khoạng gaăn 1300 tyû USD, Hieôp Ñònh
Thöông Mái Vieôt – Myõ ñöôïc kyù keât seõ táo ñieău kieôn thuaôn lôïi
ñeơ caùc doanh nghieôp Vieôt Nam ñaơy mánh xuaât khaơu sang thò
tröôøng Myõ
- Hieôp Ñònh Thöông Mái Vieôt – Myõ coù hieôu
löïc seõ goùp phaăn laøm cho hoát ñoông mođi tröôøng ñaău tö Vieôt
Nam theđm haâp daên vì: caùc nhaø ñaău tö hoát ñoông tái Vieôt Nam
seõ coù thò tröôøng thuaôn lôïiù vôùi möùc thueâ öu ñaõi khi xuaât khaơu
sang thò tröôøng Myõ Mođi tröôøng phaùp lyù cho hoát ñoông ñaău tö
vaø thöông mái cụa Vieôt Nam seõ hoaøn thieôn theo höôùng môû
mang tính hoôi nhaôp táo ñieău kieôn cho caùc doanh nghieôp thuoôc
caùc thaønh phaăn kinh teâ kinh doanh bình ñaúng
- Hieôp Ñònh Thöông Mái Vieôt – Myõ coù hieôu
löïc daøi seõ coù nhieău thaùch thöùc cho neăn kinh teâ Vieôt Nam Vì
Hieôp Ñònh ñöôïc kyù döïa tređn neăn tạng: bình ñaúng, coù ñi lái vaø
hai beđn cuøng coù lôïi, cho neđn söï baât lôïi thöôøng seõ ñeân nhieău
hôn vôùi beđn coù tieăm löïc kinh teâ yeâu hôn Vì vaôy, vieôc nghieđn
cöùu kyõ Hieôp Ñònh ñeơ ñeă xuaât giại phaùp thöïc hieôn coù hieôu quạ
coù yù nghóa ñaịc bieôt quan tróng
2 Caùc nguyeđn taĩc ñaøm phaùn vaø kyù keât Hieôp Ñònh
Thöông Mái Vieôt-Myõ:
Theo tinh thaăn Chư thò cụa Boô Chính trò Ñạng Coông sạnVieôt Nam, xađy döïng quan heô thöông mái giöõa Vieôt Nam vaøMyõ theơ hieôn trong Hieôp ñònh ñöôïc döïa tređn nguyeđn taĩc côbạn:
- Tođn tróng ñoôc laôp chụ quyeăn quoâc gia, khođngcan thieôp vaøo cođng vieôc noôi boô cụa moêi nöôùc, bình ñaúng cuøngcoù lôïi
- Vieôc Hoa Kyø vaø Vieôt Nam daønh cho nhauquy cheâ ñaõi ngoô toâi hueô quoâc khođng phại chư ñem lái lôïi íchcho phía Vieôt Nam maø coøn coù cho cạ phía Hoa Kyø, cho caùccođng ty Hoa Kyø
- Vieôt Nam tođn tróng caùc luaôt leô vaø taôp quaùnquoâc teâ, seõ töøng böôùc ñieău chưnh, boơ sung caùc luaôt leô, cô cheâcụa mình theo höôùng ñoù, phuø hôïp vôùi möùc ñoô phaùt trieơn cụaneăn kinh teâ, hoaøn cạnh, ñieău kieôn cụa Vieôt Nam
- Vieôt Nam chaâp nhaôn tuađn thụ caùc quy ñònhcụa Hieôp ñònh veă Thöông mái vaø Thueâ quan/ Toơ chöùc thöôngmái theâ giôùi GATT/WTO, nhöng seõ thöïc hieôn töøng böôùc phuøhôïp vôùi söï phaùt trieơn cụa neăn kinh teâ coù vaôn dúng nhöõngngoái leô daønh cho moôt nöôùc ñang phaùt trieơn coù thu nhaôp thaâp
- Vieôt Nam laø nöôùc ñang phaùt trieơn, ñangchuyeơn ñoơi neăn kinh teâ, do ñoù coù quyeăn ñöôïc höôûng söï hoê trôïcụa caùc nöôùc phaùt trieơn, trong ñoù coù Hoa Kyø Nhöõng noôi dungmaø Hoa Kyø khođng ñaịt ra vôùi caùc nöôùc khaùc thì khođng ñöôïcñoøi hoûi Vieôt Nam phại ñaùp öùng
Nhöõng nguyeđn taĩc tređn cú theơ hoùa chụ tröông cụa tatrong quaù trình hoôi nhaôp vôùi neăn kinh teâ theâ giôùi do Ñái hoôiÑạng laăn thöù VIII ñeă vaø laø cô sôû ñeơ ñònh ra caùc phöông aùnthöông löôïng veă Hieôp ñònh thöông mái Vieôt Nam – Hoa Kyø
II Nhöõng ñieơm khaùc bieôt giöõa Hieôp Ñònh Thöông Mái Vieôt – Myõ vôùi caùc Hieôp Ñònh song phöông khaùc:
Cho ñeân thôøi ñieơm naøy Vieôt Nam ñaõ kyù Hieôp ÑònhThöông mái vôùi tređn 100 quoâc gia vaø khu vöïc laõnh thoơ, nhöngHieôp Ñònh Thöông Mái Vieôt – Myõ laø Hieôp Ñònh ñaịt bieôt sovôùi caùc Hieôp Ñònh Thöông Mái khaùc theơ hieôn qua bạng sauñađy:
Trang 29
Tieđu thöùc so saùnh
Hieôp Ñònh Thöông Mái Vieôt – Myõ
Caùc Hieôp Ñònh Thöông Mái song phöông khaùc
1 Cô sôû ñaømphaùn Döïa vaøo caùc tieđuchuaơn cụa WTO Döïa vaøo caùc taôpqaùun thöông mái
quoâc teâ phoơ bieân
2 Tính khaùiquaùt cụa HieôpÑònh
Vöøa mang tính toơnghôïp, vöøa mang tínhchi tieât: coù caùcchöông, moêi chöôngcoù nhieău ñieău khoạnvaø phú lúc keøm theo
Mang tính toơng hôïpcao, khođng coù caùccam keât thöïc hieôn cútheơ
3 Noôi dungHieôp Ñònh
Khođng chư ñeă caôpñeân thöông mái maøcoøn ñeă caôp ñeân caùcvaân ñeă coù lieđn quantröïc tieâp ñeân thöôngmái dòch vú, ñaău tö,sôû höõu trí tueô…
Chư ñeă caôp ñeân quanheô thöông mái songphöông
4 Loô trìnhthöïc hieônHieôp Ñònh
Cú theơ vaø roõ raøng Khođng coù loô trình
thöïc hieôn
5 Cô quangiaùm saùt thihaønh HieôpÑònh
Coù cô quan giuùptrieơn khai vaø thihaønh Hieôp Ñònh
Khođng coù
Trang 30III.Những mốc quan trọng về quan hệ kinh tế giữa Việt và Hoa
Kỳ:
1 Những mốc quan trọng:
Sau khi Mỹ thất bại trong chiến tranh xâm lược Việt
Nam vào ngày 30/4/1975, mỹ cấm vận kinh tế đối với Việt
Nam kéo dài trong 15 năm
3/2/1994: Chính phủ Mỹ tuyên bố bả cấm vận buôn bán
với Việt Nam
11/7/1995 Tổng thống Mỹ tuyên bố công nhận ngoại
giao và bình thường hóa quan hệ với Việt Nam
5/8/1995 Bộ trưởng Ngại giao Mỹ sang thăm Việt Nam
10/1995 Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam dự lễ kủ
niệm 50 năm thành lập Liên Hiệp quốc và lần đầu tiên thăm
Mỹ, tiếp xúc với nhiềuquan chức cao cấpcủa chính quyền
Mỹ, Hội đồng thương mại Mỹ tổ chức “Hội nghị về bình
thường hoá quan hệ, bước tiếp theo trong quan Việt – Mỹ
11/1995 đoàn liên bộ Mỹ thăm Việt Nam tìm hiểu hệ
thống luật lệ thương mại đầu tư của Việt Nam
4/1996 Mỹ trao cho Việt Nam văn bản “những yếu tố
bình thường hóa quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam
7/1996 Việt Nam trao cho Mỹ văn bản “Năm nguyên
tắc bình thường hóa quan hệ kinh tế- thương mại và đàm phán
Hiệp định thương mại với Mỹ”
9/1996 bắt đầu quá trình đàm phán hiệp định thương mại
song phương
Theo các nhà thương thuyết quốc tế của Việt Nam: Hiệp
định thương mại Việt – Mỹ được đàm phán thương mại song
phương của Việt Nam, kéo dài 4 năm từ tháng 7/1996 đến
tháng 7/2000
Tiến hành đàm phán này diễn ra trong 11 vòng:
Vòng 1: từ 21/9/1996 đến 26/9/1996 tại Hà
Nội
Vòng 2: từ 9/12/1996 đến 11/12/1996 tại Hà
Nội
Vòng 3: từ 12/4/1997 đến 17/4/1997, Mỹ trao
cho Việt Nam văn bản dự thảo Hiệp định
Vòng 4: từ 6/10/1997 đến 11/10/1997 tại
Washington sơ bộ trao đổi về những quy định chung và
chương thương mại hàng hóa trong Hiệp định
Vòng 5: từ 16/5/1998 đến 22/5/1998 tại
Washington Trước vòng đàm páhn này, các nhà đàm phán
Việt Nam đã thiết kế lại bản dự thảo hiệp định mới theo
nguyên tắc Tổ chức Thương mại thế giới (QTO) áp dụng cho
các nước có trình độ phát triển thấp
Vòng 6: từ 15/9/1998 đến 22/9/1998 tại Hà
Nội
Vòng 7: từ 15/3/1999 đến 19/3/1999 tại Hà
Nội Tại 2 vòng đàn phán 6 và 7, các bên tiếp tục trao đổi về
các vấn đề quan trọng chứa đi đến nhất trí trong các vòng
đàm phán trước, như: phát triển quan hệ đầu tư, thương mại
dịch vụ, thương mại hàng hóa và sở hữu trí tuệ
Vòng 8: từ 14/6/1999 đến 18/6/1999 tại
Washington
Vòng 9: từ 23/7/1999 đến 25/7/1999 tại Hà
NoÄi, trong cuộc họp cấp Bộ trưởng, hai nước đã thông báo
thỏa thuận trên nguyên tắc những nội dung mà Hiệp định
thương mại đã đạt được
Vòng 10: từ 28/8/1999 đến 2/9/1999 tại
Washington
Vòng 11: 3/7/2000 tại Washington Sau khi
đàm phán nốt những vấn đề cuối cùng trong lĩnh cực viễn
thông và rà soát lại một lần nữa toàn văn bản Hiệp định, ngày
13/7/2000, Hiệp định thương mại Việt-Mỹ đã được ký kết tại
Washington Đại diện cho phía Việt Nam là Bộ trưởng vũ
Khoan, đại diện cho phía Mỹ là bà Charlene Barshefsky
Tham dự lễ ký kết có Đại sứ hai nước (Đại sứ Lê Văn Bàng
và Đại sứ Peterson) và nhiều quan chức khác
Sở dĩ Hiệp định được đàm phán lâu như vậy vì:
- Quy mô của Hiệp định lớn
- Lịch sử quan hệ giữa hai nước Việt Nam vàHoa Kỳ phức tạp và có nhiều điểm nhạy cảm về chính trị vàchính kiến
- Hai nước có nhiều điểm khác nhau về kinhtế, về trình độ phát triển, về chế độ chính trị, cơ chế kinh tế…Mỹ có nền kinh tế thị trường mở, tự do thương mại lâu đời,nhưng nền kinh tế Việt Nam vẫn đang trong quá trình chuyểnđổisang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủnghĩa
Sự đàm phán lâu dài nhằm làm cho Hiệp định chứađựng được nguyện vọng và lợi ích của cả hai phía Việt Namvà Mỹ
2 Mỹ có khả năng áp dụng quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn cho Việt Nam trước tháng 8:
Trong hai ngày 16 và 17/2/2006, Đại diện thương mại MỹRob Portman đã cĩ cuộc điều trần trước Hạ viện và Thượngviện Mỹ về Chương trình nghị sự thương mại tồn cầu củachính quyền Tổng thống Bush năm 2006
Tại cuộc điều trần, Phĩ chủ tịch Ủy ban Tư pháp Thượngviện Mỹ Max Baucus (đảng Dân chủ, bang Montana) cho biết:
"Tơi rất hài lịng được thơng báo các cuộc đàm phán của chúng
ta với Việt Nam sắp kết thúc Thượng viện đã sẵn sàng thơngqua Quy chế thương mại bình thường vĩnh viễn cho VN trước
kỳ nghỉ hè của Quốc hội vào trước tháng 8" Trước đĩ, tại buổiđiều trần trước Hạ viện, ơng R.Portman cũng thơng báo với các
hạ nghị sĩ rằng đàm phán giữa Mỹ và VN sắp kết thúc và chobiết cĩ khả năng VN trở thành thành viên của WTO trong nămnay
Tuần qua, Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyểnthơng báo rằng đàm phán Việt - Mỹ đang tiến triển rất tốt, haibên đang thu xếp để cĩ một vịng đàm phán mới vào đầu tháng
3 Nếu kết thúc được với Mỹ, VN sẽ gặp thuận lợi hơn trong các
vịng đàm phán đa phương.(Báo Thanh niên, 19/2/2006).
IV.Những nội dung chính của Hiệp định:
1. Nội dung cốt lõi của Hiệp định:
Hiệp định là văn bảnđồ sộ, nó chứa đựng 4 nội dung cơbản sau:
Thứ nhất, về thương mại hàng hóa:
Ngay lập tức và vô điều kiện, hai bên Mỹ vàViệt nam dành cho nhau quy chế tối huệ quốc trong quan hệthương mại với nhau
Trong thương mại hàng hóa, các doanhnghiệp Việt nam có quyền tham gia ngay lập tức phân phốihàng hoá Mỹ nếu ta có khả năng Còn các doanh nghiệp Mỹtheo lộ trình về thời gian có quyền tổ chức phân phối hànghóa tại Việt Nam
Hàng hoá của Hoa Kỳ đưa vào Việt Nam sẽđược cắt giảm thuế nhập khẩu theo lộ trình cam kết
Thứ hai, về bản quyền và tài sản tri tuệ:
Về bản quyền, hai bên cam kết thực hiệnHiệp định về sở hữu trí tuệ mà các bên đã ký trước đó
Về tài dản trí tuệ, hai bên thoả thuận thựchiện các công ước sđa phương về các vấn đề này
Thứ ba, về thương mại dịch vụ:
Hai nước sẽ mở cửa cho nhau: tạo điều kiệncho các ê5t Nam tự do kinh doanh dịch vụ tại Mỹ và cácdoanh nghiệp Mỹ theo lộ trình được kinh doanh dịch vụ tạiViệt Nam
Thứ tư, về hoạt động đầu tư:
Hai bên cam kết dành thuận lợi cho các nhàđầu tư được hoạt động kinh doanh trên thị trường của nhauphù hợp với các thông lệ của quốc tế
2. Thương mại hàng hóa:
Trang 30
Trang 312.1 Các nguyên tắc thiết lập quan hệ thương mại
giữa Việt Nam và Mỹ:
Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Mỹ theo
tinh thần của Hiệp định được thiết lập trên 2 nguyên tắc:
Nguyên tắc quan hệ buôn bán bình thường (NTR) Hay còn gọi là Quy chế tối huệ quốc (MFN).
Mỗi bên dành ngay lập tức và vô điềukiện cho hàng hóa cò xuất xứ tại hoặc được xuất khẩu từ lãnh
thổ của Bên kia sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử
dành cho hàng hoá tương tự có xuất xứ tại hoặc được xuất
khẩu từ lãnh thổ của bất cứ nước thứ ba nào khác trong tất cả
các vấn đề liên quan:
Mọi loại thếu quan và phíđánh vào hoặc có liên quan đến việc nhập khẩu, bao gồm cả
các phương pháp tính các loại thuế quanvà phí đó
Phương thức thanh tóan đốivới hàng nhập kẩu và xuất khẩu, và việc chuyển tiền quốc
tếcủa các khoản thanh tón đó
Những quy định và thủ tụcliên quan đến xuất nhập khẩu,kể cả những quy định về hoàn
tất thủ tục hải quan,quá cảnh, lưu kho và chuyển tải
Mọi loại thuế và phí kháctrong nước đánh trưc tiếp hoặc trực tiếp vào hàng nhập khẩu
Luật quy định và các yêu cấukhác có ảnh hưởng đến việc bán,chào bán, mua, vận tải, phấn
phối, lưu kho và sử dụng hàng hóa trong thị trường nội địa
Việc áp dụng các hạn chếđịnh lượng và cấp giấy phép
Nguyên tắc đối xử quốc gia (NT):là
nguyên tắc nhằm tạo ra môi trường kinh doanh bình đẳng cho
hàng hoá nhập khẩu so với hàng hóa sản xuất trong nước
Mỗi bên Việt Nam và Mỹ, khôngbên nào được trực tiếp hoặc gián tiếp dùng các loại thuế và
phí nội địa đánh vào sản phẩm nhập khẩu từ bên kia cao hơn
sao vói mức thuế và phí mà sản phẩm nội địa phải chịu
Hàng nhập khẩu có xuất xứ từ đốitác phải được đối xử tương tự như hàng hóa nội địavề luật
điều tiết, các quy định, các yêu cầu khác có ảnh hưởng đến
việc bán hàng, chào hàng, mua hàng, vận tải và phân phối
hàng hóa, lưu kho và sử dụng hàng
Bên phía Việt Nam cũng như bênphía Hoa Kỳ không được soạn thảo thêm những quy địnhvà
tiêu chuẩn kỹ thuật áp dụng riêng đối hàng nhập khẩu từ đối
tác, nhằm tạo ra trở ngại cho hoạt động nhập khẩu hoặc nhằm
bảo hộ sản xuất trong nước,vì điều này sẽ làm cho hàng nhập
khẩu khó cạnh tranh hơn
Việc xây dựng những rào cản vềkỹ thuật: tiêu chuẩn vệ sinh, môi trường, chất lượng sản
phẩm… quy định với hàng nhập khẩu phải phù hợp với các
quy định của tổ chức WTO và các quy định này không mang
tính chất hàn chế thương mại, không quy định cao hơn so với
quy định cho sản phẩm nội địa
2.2 Nghĩa vụ chung về thương mại:
Các Bên nổ lực tìm kiếm nhằm đạt được sự cân
bằng thỏa đáng về các cơ hội tiếp cận thị trường thông qua
việc cùng giảm thỏa đáng thuế và các hàng ràophi quan thuế
đối với thương mại hàng hóa do đàm phán đa phương mang
lại
Các bên sẽ loại bỏ tất cả các hạn chế, hạn ngạch,
yêu cầu cấp phép và kiểm soát xuất khẩu và nhập khẩu đối
với mọi hàng hóa và dịch vụ, ngoại trừ những hạn, hạn ngạch,
yêu cầu cấp phép kiểm soát được GATT 1994 cho phép
Trong vòng 2 năm kể từ khi Hiệp định này có hiệu
lực, các bên hạn chế tất cả loại phí và phụ phí với bất kỳ hình
thức nào áp dụng đối với hay có liên đến xúât nhập khẩu,ở
mức tương xứng với chi phí của dịch vụ đã cung ứng và đảm
bảo rằng những loại phí và phụ phí đó không phải là một sự
bảo hộ gián tiếp đối với sản xuất trong nước hoặc là thuế
đánh vào hàng nhập khẩu hay xuất khẩu vì mục đích thu ngânsách
Trong vòng 2 năm kể từ khi Hiệp định này có hiệulực các bên áp dụng hệ thống định giá hải quan dựa trên giátrị của hàng nhập khẩu để tính thuế hoặc của hàng hóa tươngtự, chú không dựa vào giá trị của hàng hoá theo nước xuấtxứ,hoặc giá trị được xác định một cách võ đoán hay không có
cơ sở, với giá trị giao dịch là giá thực tế đã thanh toán hoặcphải thanh toán cho hàng hóa khi được bánđể xuất khẩu sangnuớc nhập khẩu phù hợpvới những tiêu chuẩn thiết lập trongHiệp định về việc thi hành GATT 1994
Trong vòng 2 năm kể từ khi Hiệp định này có hiệulực, các bên bảo đảm rằng các khoản phí và phụ phí được quyđịnh hay thực hiện một cách thống nhất và nhất quán trêntoàn bộ lãnh thổ hải quan của mỗi bên
Việt Nam dành sự đối phù hợp xử về thuế cho cácsản phẩm xuất xứ từ lãnh thổ hải quan của Hoa Kỳ
Không bên nào yêu cầu các công dân hoặc công tycủa nước mình tham gia vào phương thức giao dịch hàng đổihàng hay thương mại đối lưu với công dân hoặc công ty củabên kia Tuy nhiên, nếu các công dân hoặc công ty quyết địnhtiến hành giao dịch theo phương hàng đổi hàng hay thươngmại đối lưu thì các bên có thể cung cấp cho họ thông tin đểtạo thuận lợi cho giao dịch và tư vấn cho họ như khi các bêncung cấp đối với hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu khác
Hoa Kỳ sẽ xem xét khả năng dành cho Việt NamChế độ Ưu đãi Thuế quan Phổ cập
2.3 Mở rộng và thúc đẩy thương mại:
Mỗi bên khuyến khích và tạo thuận lợi cho việctổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại như hội chợ, triểnlãm, trao đổi các phái đoàn và hội thảo thương mại tại lãnhthổ nước mình và lãnh thổ bên kia Tương tự, mỗi bên khuyếnkhích và tạo thuận lợi cho các công dân và công ty của nướcmình tham gia vào các hoạt động đó Tuỳ thuộc vào luật pháphiện hành tại lãnh thổ của mình, các bên đồng ý cho phéphàng hóa sử dụng trong các hoạt động xúc tiến đó được nhậpkhẩu và tái xuất khẩu mà không phải nộpthuế xuất nhậpkhẩu, với điều kiện hàng hóa đó không được bán hoặcchuyển nhượng dưới hính thức khác
3. Thương mại dịch vụ:
Hoạt động thương mại dịch vụ là việc cung cấp một dịchvụ trong bất cứ lĩnh vực nào có liên quan đến thương mại:
Từ lãnh thổ của một bên vào lãnh thổ củabên kia
Tại lãnh thổ của một bên cho người sử dụngdịch vụ của bên kia
Bởi một nhà cung cấp dịch vụ của một bên,thông qua sự hiện diện thương mại tại lãnh thổ của bên kia
Bởi một nhà cung cấp dịch vụ của một bên,thông qua sự hiện diện của thương mại tại lãnh thổ của bênkia
Bởi một nhà cung cấp dịch vụ của một bên,thông qua sự hiện diện của các thể nhân của một bên tại lãnhthổ của bên kia
Quan hệ song phương Việt Nam và Mỹ trong lĩnh vựcthương mại dịch vụ được thuết lập trên 2 nguyên tắc:
Đối xử Tối huệ quốc:
Đối với bất kỳ biện pháp nào được Hiệpđịnh cho điều chỉnh, mỗi bên dành ngay lập tức và vô điềukiện cho các dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ của bên kia sựđối xử không kém thuận lợi hơn đối xử mà bên đó dành chocác dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ tương tự của bất kỳ nướcnào khác
Các quy định của Hiệp định này khôngđược hiểu là để cản trở bất kỳ bên nào trao hay dành các ưuđãi cho nước láng giềng nhằm thúc đẩy sự lưu thông thươngmại dịch vụ được cung cấp và tiêu thụ tại chỗ trong các vùngtiếp giáp biên giới
Trang 31
Trang 32 Đối xử quốc gia
Mỗi bên dành cho các dịch vụ và nhàcung cấp dịch vụ của bên kia, đối với tất cả các biện pháp
ảnh hưởng đến việc cung cấp dịch vụ, sự đối xử không kém
thuận lợi hơn sự đối xử mà bên đó cho các dịch vụ và người
cung cấp dịch vụ tương tự mình
Một bên có thể đáp ứng yêu cầu củakhoản 1 thông qua việc dành cho các dịch vụ và nhà cung cấp
dịch vụ của bên kia sự đối xử tương đồng hay khác biệt về
hình thức so với sự đối xử mà bên đó dành cho các dịch vụ và
nhà cung cấp dịch vụ tương của mình
Sự đối xử tương đồng hay khác biệt vềhình thức được coi là kém thuận lợi hơn nếu nó làm thay đổi
các điều kiện cạnh tranh có lợi hơn cho các dịch vụ và nhà
cung cấp dịch vụ của bên này so với dịch vụ và nhà cung cấp
dịch vụ tương tự bên kia
Hoạt động thương mại dịch vụ của bên này được thực
hiện trên lãnh thổ bên kia dựa tr6en nguyên tắc đối xử tối
huệ quốc, cụ thể là: “mỗi bên dành ngay lập tức và vô điều
kiện cho các dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ của bên kia sự
đối xử không thuận lợi hơn sự đối xử mà bên đó dành cho các
dịch vụ và nhà cung cấp dịch vụ tương tự ở bất kỳ nuớc nào
khác”
Trong hoạt thương mại dịch vụ của bênnày trong lãnh
thổ của bên kia phải được đảm bảo thực hiện trên nguyên tắc
Đối xử quốc gia
4. Bảo hộ Quyền sở hữu trí tuệ:
Đây là Hiệp định thương mại song phương đầu tiên của
Việt Nam, đưa Quyền sở hữu trí tiệ thành 1 chương riêng với
18 điều khoản giải thích
4.1 Mục tiêu, nguyên tắc và phạm vi của các nghĩa vụ
trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ:
Mỗi bên dành cho công dân của bên kia sự bảo
hộ và thực thi đầy đủ và có hiệu quả đối với quyền sở hữu trí
tuệ trong lãnh thổ của mình
Các bên thừa nhận các mục tiêu về chính sách
xã hội cơ bản của các hệ thống quốc gia về bảo hộ sở hữu trí
tuệ, kể cả mục tiêu phát triển và mục tiêu công nghệ và bảo
đảm rằng các biện pháp bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí
tuệ không cản trở hoạt động thương mại chính đáng
Để bảo hộ quyền thực thi quyền sở hữu trí tuệ
một cách đầy đủ và có hiệu quả mỗi bên phải thực hiện thưc
hiện chương này và các quy định có nội dung kinh tế của:
Công ước Geneva về bảo hộ ngườisản xuất bản ghi âm chống sao chép trái phép, năm 1947
(Công ước Geneva)
Công ước Berne về bảo hộ tác phẩmvăn học nghệ thuật, năm 1971 (Công ước Berne)
Công ước Paris về bảo hộ sở hữucông nghiệp, năm 1967 (Công ước Paris)
Công ước quốc tế về bảo hộ giốngthực vật mới, năm 1978 (công ước UPOV (1978)), hoặc Công
ước quốc tếvề bảo hộ giống thực vật mới, năm 1991 (Công
Một bên có thể thực hiện việc bảo hộ và thực
thi quyền sở hữu trí tuệ theo pháp luật quốc gia của mình ở
mức độ rộng hơn so với yêu cầu tại các quy định của Hiệp
định, với điều kiện là việc bào hộ và thực thi đó không mâu
thuẫn với Hiệp định
4.2 Đối tượng bảo hộ Quyền sở hưu trí tuệ:
Trong Hiệp định thương mại Việt – Mỹ có 8 đối
tượng đươc bảo hộ Quyền sở hữu trí tuệ:
Quyền tác giả và quyền liên quan
Bảo hộ tín hiều vệ tinh mang chuơngtrình đã được mã hóa
Nhãn hiệu hàng hóa
Sáng chế
Thiết kế bố trí mạch tích hợp
Thông tin bí mật
Kiểu dáng công nghiệp
Các loài giống thực vật
4.3 Lộ trình thực hiện Quyền sở hữu trí tuệ:
Hầu hết các đối tượng được bảo hộ Quyền Sởhữu trí tuệ đều có lộ trình thực hiện thể hiện trong bảng sauđây:
Lộ trình thực thi Quyền sở hữu trí tuệ theo tinh thần của Hiệp định thương mại Việt – Mỹ:
Đối tượng được bảo hộ Thời hạn thực thi
1 Quyền tác giả và quyền có liênquan
2 Bảo hộ tín hiệu vệ tinh mangchương trình mã hoá
3 Nhãn hiệu hàng hóa
4 Sáng chế
5 Thiết kế bố trí mạch tích hợp
6 Bí mật thương mại (bí mật thôngtin)
7 Kiểu dáng công nghiệp
8 Các loại giống thực vật
Thời hạn bảo hộ Quyền sở hữu trí tuệ:
Đối tượng bảo hộ
Hiệp định thương mại Việt – Mỹ
Quy định TRIPS của WTO
1 Quyền tácgiả về tácphẩm nghệthuật
Không ít hơn 75 nămkể từ khi công bốhợp pháp
Không ít hơn 100năm kể từ khi sángtạo ra tác phẩm
Không dưới 50 năm kểtừ công bố hợp pháp
50 năm kể từ ngày tácphẩm được sáng tạo
2 Ngườibiểu diễn vàngười xuấtbản ghi âm
Không quy định cụthể thời hạn bảo hộ
Tối thiểu 50 năm kể từngày ghi âm hoặc từbuổi biểu diễn.Tối thiểu 20 năm kể từngày chương trình phátthanh, truyền hình thựchiện
3 Thươnghiệu hànghóa
Không dưới 10 năm,được gia hạn thênmkhông hạn chế sốlần, mỗi lần 10 năm
Không dưới 7 năm, sauđó có thể gia hạn thêm
4 Kiểu dángcông nghiệp
Ít nhất 10 năm Ít nhất 10 năm
5 Bằngsáng chế
Ít nhất 20 năm kể từngày nộp đơn
Ít nhất 20 năm kể từngày nộp đơn
6 Thiết kếbố trí mạchtích hợp
Mại Ít nhất 10 năm kể từ
ngày thiết kế bố trí đưa
ra khai thác dưới dạngthương mại hoặc kể từkhi đăng ký
5 Quan hệ đầu tư :
5.1 Các nguyên tắc xác định quan hệ đầu giữa Việt
Nam – Hoa Kỳ:
Quan hệ đầu tư giữa hai bên Hoa Kỳ và ViệtNam về cơ bản được thiết lập dựa trên hai nguyên tắc:
Nguyên tắc “Đối xử quốc gia” trong
hoạt động đầu tư được hiểu là các khỏan đầu tư như: việcthành lập, mua lại, mở rộng, quản, điều hành, vận hành, bán
Trang 32
Trang 33hoặc định đoạt đầu tư bằng các cách khác, mỗi bên dành cho
bên khi họ hoạt động đầu tư trên đất nước mình đối xử không
kém thuận lợi hơn sự đối xử dành cho các đầu tư của công
dân hoặc công ty của nước mình
Nguyên tắc “đối xử tối huệ quốc”
trong hoạt động đầu tư được hiểu là các khoản đầu tư như:
việc thành lập, mua lại, mở rộng, quản, điều hành, vận hành,
bán hoặc định đoạt đầu tư bằng các cách khác, mỗi bên dành
cho bên khi họ hoạt động đầu tư trên đất nước mình đối xử
không kém thuận lợi hơn sự đối xử dành cho các đầu tư của
công dân hoặc công ty của nước thứ ba trên lảnh thổ nước
mình
5.2 Tiêu chuẩn chung về đối xử:
Mỗi bên luôn dành cho các khoản đầu tư theo
Hiệp định này sự đối xử công bằng, thoả đáng, và sự bảo hộ,
an toàn đầy đủ và trong mọi trường hợp, dành sự đối xử
không kém thuận lợi hơn sự đối xử theo yêu cầu của các quy
tắc áp dụng của pháp luật tập quán quốc tế
Mỗi bên không áp dụng các biện pháp bất hợp
lý và phân biệt đối xử để gây phương hại đối với việc quản
lý, điều hành, vận hành, bán hoặc định đoạt bằng cách khác
các khoản đầu tư theo Hiệp định này
V Vài nét về đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam và thương
mại Việt Nam:
1 Nền kinh tế Việt Nam:
Năm 2005 , mơi trường kinh tế, xã hội, chính trị thế giới
cĩ nhiều biến đổi theo 2 chiều hướng cơ hội và thách thức phức
tạp hơn so với năm 2004,nhất là sự khơng ổn định của giá xăng
dầu, giá vàng đã tác động mạnh đến nền kinh tế VIệt Nam.Năm
2005, mơi trường kinh tế Việt Nam cũng cĩ nhiều biến đổi,nhất
là sự thách thức như giá nhiều mặt sản phẩm hàng hĩa liên quan
đến các yếu tố đầu vào cho sản xuất kinh doanh gia tăng như
xăng dầu , giá vàng , dịch cúm gia cầm vẫn cịn tồn tại,hạn hán,
lũ lụt ở miền Trung.Tuy vậy năm 2005,do co sự điều chỉnh
chính sách của chính phủ,các bộ,các tỉnh ,các ngành kịp thời nên
đã huy động được nội lực của tồn xã hội và nguồn ngoại lực
lớn phục vụ cho sự nghiệp CNH,HĐH và phát triển kinh tế,nên
đã đạt được những kết quả vượt bậc,đáng kể trên nhiều lĩnh vực
kinh tế -xã hội Bên cạnh mặt tích cực thì cũng bộc lộ nhiều hạn
chế,khĩ khăn,bất cấp cần phải vượt qua để tạo cơ sở cho nền
kinh tế tăng trưởng bền vững.Điều này được thể hiện cụ thể sau:
1.1 Những kết quả đạt được:
Nhìn trên tổng thể năm 2005,kinh tế nước ta vẫn
duy trì được mức tăng trưởng khá cao so với các năm và so với
1 số nước trên thế giới.Theo báo cáo của văn phịng chính phủ
tính chungc ả năm 2005 , tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP)đạt
8,4%, cao hơn năm 2004 (7,7%),trong đĩ nơng ,lâm,thủy sản
tăng 4,9%, cơng nghiệp và xây dựng tăng 17,2%,dịch vụ tăng
7,5%.Điều này được thể hiện trong các lĩnh vực cụ thể sau:
(1)Tốc độ tăng giá trị sản xuất cơng nghiệp tiếp tục
đạt mức cao,nhất là khu cơng nghiệp dân doanh và khu vực cĩ
vốn đầu tư nước ngồi
Tính chung cả năm 2005,giá trị sản xuất cơng nghiệp
tiếp tục đạt mức cao hơn 416,8 nghìn tỷ đồng,tăng 17,2 % so với
năm 2004 (năm 2004 tăng 16%),với giá trị gia tăng cả năm đạt
10,6%; trong đĩ khu vực dân doanh tăng 24,1% khu vực cĩ vốn
đầu tư nước ngồi tăng 20,9% và khu vực doanh nghiệp nhà
nước tăng 8,7%
Một số sản phẩm đạt tốc độ tăng trưởng cao so với
cùng kỳ năm 2004 là than sạch khai thác tăng 21,7%,gạch lát
tăng 21,9%,thép cán cân tăng 2,8%,máy cơng cụ tăng 32,8%, ơ
tơ lắp ráp tăng 31,1%, thủy sản chế biến tăng 20,7%, iấy bìa các
loại tăng 18,9%,thuốc viên các loại tăng 20,4%,xe máy lắp ráp
các loại tăng 23,4%,ơ tơ các loại tăng 18,5%, sản phẩm sứ vệ
sinh tăng 20,9% và gạch lát tăng 18,6%
Nhiều địa phương đã đạt được mức tăng trưởng kinh
tế cao như :Vĩnh Phúc tăng 31,8%,Bình Dương tăng 31%, Cần
Thơ tăng 23,3%, Hải Dương tăng 21%, Đồng Nai tăng 21%,Hà
Tây tăng 20,8%, Khánh Hịa 19%,TP.Đà Nẵng tăng 18,7 %,
TP.Hải Phịng tăng 18,1%, Quảng Ninh 18,1%, Hà Nội tăng
15,5% và TpHCM tăng 14,4%
(2) Sản xuất nơng nghiệp vượt qua nhiều khĩ khăn
thách thức về thiên tai,tiếp tục phát triển.Kết thúc năm
2005 ,tính chung diện tích cả nước ước đạt 7,32 triệu ha,năng
suất lúa cả nước đạt 48,9 tạ/ha ,tăng 0,3 tạ/ha ,0,3 tạ/ha ,sản
lượng đạt khoảng 35,8 triệu tấn, ếu tính cả 3,75 triệu tấn ngơ thìtổng sản lượng lương thực cĩ hạt năm 2005 ước đạt 39,55%triệu tấn
Sản lượng thủy hải sản cả năm 2005 đạt khoảng 3,433nghìn tấn, tăng 9,2% so với năm 2004 Nghành chăn nuơi pháttriển khá, đàn gia cầm mặc dù do dịch cúm gia cầm H5N1, nhưngvẫn tăng 0,8%, đàn trâu tăng 1,8%,đàn lợn tăng 4,9%, đàn bị tăng12,9%.Năm 2005, tính chung giá trị sản xuất của tồn ngành nơngnghiệp tăng 4,9%, Giá trị tăng thêm của tồn ngành tăng 4,0% (3)Khu vực dịch vụ tăng khá, nhất là thương mại nội địatăng trưởng mạnh Tổng mức lưu chuyển hàng hĩa bán lẻ vàdoanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2005, ước đạt 475,381 tỷ đồng,tăng 20,5% so với năm 2004(năm 2004 tăng trưởng 18,2%) Kim ngạch xuất khẩu trong năm 2005 đạt trên 32,233 tỷUSD, tăng 21,6% so với năm 2004,trong đĩ xuất khẩu của doanhnghiệp FDI (khơng kể dầu thơ)ước tăng 26,2% và chiếm 34,5%tổng kim ngạch xuất khẩu.Nếu tính cả dầu thơ thì xuất khẩu củadoanh nghiệp FDI ước tính tăng 27,8% so với năm 2004.Các thịtrường xuất khẩu lớn như MỸ, EU, NHẬT cĩ tốc độ tăng trưởngkhá cao, các DN đã chủ động tìm kiếm thị trường, chuyển hướngkịp thời sang thị trường khác khi gặp khĩ khăn đặc biệt hàng thủysản
Năm 2005,kim ngạch nhập khẩu đạt trên 36,881 tỷ USD, tăng15,4% so với năm 2004, trong DN FDI nhập khẩu đạt 13,687 tỷ USD,tăng 23,5%.Nhập siêu năm 2005 ước ở mức 4,65tỷ USD ,bằng 14,4%
so với tổng kim ngạch nhập khẩu, thấp hơn mức nhập siêu của năm
2004 cả về kim ngạch và tỷ lệ
(4) Năm 2005, vốn đầu tư xã hội ước tính tăng 18,5% sovới thực hiện năm 2004 và vượt mức kế hoạch đặt ra (kế hoạchđặt ra 300 nghìn tỷ đồng) đạt 39,9% GDP.Nguồn vốn đầu tư đãđược tập trung vào mục tiêu phát triển kinh tế để nâng cao hiệuquả sản xuất ,phát huy lợi thế của từng vùng từng ngành.Thu hút vốn ODA cĩ biến chuyển tích cực.Tại hội nghị CG tổchức 12.2005 các nhà tài trợ đã cam kết hỗ trợ Việt Nam 3,747 tỷUSD ,tăng 300 triệu USD so với năm 2004.Giải ngân ODA cả năm
2005 ước đạt 1,723 tỷ USD,ước đạt mức kế hoạch và tăng 15,4so vớinăm 2004
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngồi tiếp tục tăng khá Năm 2005tổng vốn cấp phép mới và vốn đăng ký thêm ước đạt 5,835 tỷ USD,tăng 45,2% so với năm 2004; vốn nước ngồi thực hiện ước đạt 3,300
tỷ USD, tăng 15,8% so với năm 2004
(5)Thu ngân sách tăng khá, hoạt động tiền tệ đáp ứng đượcnhu cầu tín dụng phục vụ SXKD
Thu ngân sách nhà nước so với dự tốn,tổng ngân sáchnhà nước năm 2005 ước tăng 15%,trong đĩ thu nội địa tăng 9,2%,thu từ dầu thơ tăng 46,1%, thu từ hoạt động xuất nhập khẩu bằngmức dự tốn, thu từ diện trợ khơng hồn lại tăng 10% Chi ngânsách nhà nước năm 2005 ước bằng 4,86%GDP
-Hoạt động du lịch gia tăng, nhất là du khách quốc tế.Tính chung cả năm 2005 số khách quốc tế đến VN đạt trên 3,46triệu lượt người, tăng 18,4% so với năm 2004
Tính chung cả năm 2005, hoạt động vận tải hàng hĩa vàkhách hàng tăng khá ước đạt 324,2 triệu tấn hàng háo vận chuyển
và 81 tỷ tấn luân chuyển so với năm 2004; vận tải hành khách đạt
1267 triệu lượt người và 53,2 tỷ hành khách luân chuyển, tăng7,5% Về lượt khách và 11,8% về lượt hành khách luân chuyển Hoạt động bưu chính viễn thơng tiếp tục phát triển ổnđịnh.Tính chung cả năm 2005, đã phát triển thêm 5,3 triệu thuêbao điện thoại,nâng tổng số thuê bao điện thoại trên tồn mạngnăm 2005 đạt hơn gần 15,6 triệu máy.đạt mực độ thuê bao 18,8máy /100 dân xã cĩ điện thoại Trong năm 2005 tồn nghành bưuchính viễn thơng đạt khoảng 37.900 tỷ đồng, tăng 13,5% so vớinăm 2004
Hoạt động tiền tệ phương tiện thanh tốn đến cuối tháng
12 ước tăng 3,1% so với cuối tháng 11; tính chung cả năm2005;nguồn vốn huy động cả năm 2005 ước tăng 20% so vớinăm;nguồn vốn huy động cả năm 2005 ước tăng 23,1% so vớinăm 2004, cao hơn so với tốc độ tăng trưởng năm 2004, dư nợ chovay tồn nền kinh tế cả năm 2005 ước tăng 19% so với năm
2004, giảm đáng kể so với tốc độ tăng trưởng cùng kỳ nămtrước(cùng kỳ năm trước tăng 26,2%)
Ơng Jordan Ryan, trưởng đại diện chương trình phat triểnLịên Hiệp Quốc (UNDP)tại Việt Nam,đã nhận định trong năm
2005, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong pháttriển kinh tế
1.2 Hạn chế:
Trang 33
Trang 34Trong lĩnh vực kinh tế,hạn chế lớn nhất là sức cạnh tranh của nền
kinh tế vẫn cịn yếu, chất lượng tăng trưởng chưa thật cao và bền
vững
Về cơng nghiệp, mặc dù giá trị sản xuất tồn nghành cơng
nghiệp đạt ở mức cao, nhưng tốc độ tăng giá trị gia tăng đạt
10,6%, khơng tương ứng với tăng giá trị sản xuất và thấp hơn mức
kế hoạch 11%, chi phí sản xuất sản phẩm cịn ở mức cao, sức cạnh
tranh yếu so với các nước trong khu vực.Chưa xây dựng được 1
nghành cơng nghiệp phụ trợ cho các khu cơng nghiệp,nhất là các
doanh nghiệp cĩ vốn đầu tư nước ngồi dẫn dến nhập khẩu làm
tăng chi phí sản xuất và khơng chủ động được trong sản xuất kinh
doanh.Việc định hướng đầu tư vào các nghành cơng nghiệp chủ
lực cho sự phát triển nền kinh tế VN trong xu thế hội nhập kinh tế
quốc tế vẫn chưa được xác định rõ ràng để làm căn cứ cho việc
đầu tư phát triển
Kim ngạch xuất khẩu tăng cao,trong đĩ yếu tố gia tăng của 1
số mặt hàng Tính riêng do tăng giá dầu thơ,kim ngạch xuất khẩu
tăng 2,1 tỷ USD,tương đương với 7,9% tốc độ tăng trưởng, nếu
loại trừ yếu tố tăng giá dầu thơ thì tổng kim ngạch xuất khẩu của
cả nước năm 2005 tăng 13,6% so với năm 2004
Trong đầu tư xây dựng cơ bản vẫn cịn dàn trải, thất thốt
nhiều tỷ đồng, song vẫn chưa cĩ giải pháp khắc phục hiệu quả
1.3 Điểm yếu:
Một trong những vấn đề hiện nay là việc huy động vốn
thơng qua phát hành trái phiếu đang chững lại Nguyên nhân chính
là do lãi suất huy động của trái phiếu chính phủ tương đối
thấp:trái phiếu loại 3 năm và 5 năm mới phát hành gần đây nhất
chỉ cĩ lãi suất tương ứng là 8,15% va 8,75% trong khi các ngân
hàng thương mại trả đến 9,5%/năm cho các khoản tiền gửi cĩ thời
hạn ba năm Ngồi ra TPHCM và HÀ NỘI cũng phát hành trái
phiếu xây dựng cơ sở hạ tầng đã tạo thêm sức cạnh tranh đối với
trái phiếu chính phủ.Tốc độ giải ngân nguồn vốn đã huy động
cũng rất chậm, theo dự đốn, chỉ cĩ 16.000 tỷ đồng,tương đương
với với 75% mức dự kiến sẽ được giải ngân hết hạn năm 2005
Tốc độ giải ngân chậm chạp chủ yếu là do các thủ tục giải phĩng
mặt bằng và đầu tư quá phức tạp, cộng thêm những yếu kém trong
cơng tác giám sát
Thứ hai là vấn đề lạm phát.Báo cáo WB-VN cho rằng
những biến động do cung đẩy lạm phát tăng nhanh trong năm
2004 vẫn chưa hồn tồn dịu xuống, thậm chí cịn lặp lại trong
năm 2005 Trong đĩ phải kể đến những cú sĩc như dịch cúm gia
cầm bùng phát, thời tiết xấu, và giá của các mặt hàng nhập khẩu
chủ yếu như xăng, dầu, phân bĩn, xi măng, và thép tăng cao “ các
tuyên bố của ngân hàng nhà nước VN khá miễn cưỡng trong việc
thắt chặt chính sách tiền tệ để kiềm chế lạm phát do biến động về
cung gây ra bởi chính sách này cĩ thể kìm hãm sản xuất và tăng
trưởng “-bản báo cáo nhận định
Về mặt tín dụng, báo cáo cho rằng quan ngại chủ yếu là ở
chất lượng tín dụng Những tháng gần đây, ngân hàng nhà nước đã
đặc biệt cảnh báo về những rủi ro liên quan tới các khoản đầu tư vào
bất động sản Với tình hình đĩng băng của các giao dịch bất động sản,
nhiều người đã tỏ ra lo ngại về khả năng chủa các chủ đầu tư xây
dựng trong việc hồn trả các khoản vay.Ngân hàng nhà nước nhấn
mạnh về rủi ro liên quan tới tình trạng “chạy đua lãi suất” giữa các
ngân hàng để thu hút tiền gửi Vì lãi suất cao sẽ đẩy lãi suất cho vay
lên theo, việc đánh giá năng lực trả nợ cũa người đi vay lại càng cần
được quan tâm chú trọng hơn”báo cáo viết và nhận định”Rất khĩ chất
lượng tín dụng và cho mãi đến gần đây các ngân hàng vẫn được yêu
cầu báo cáo tình hình nợ xâu căn cứ theo các tiêu chuẩn lỏng lẻo và sơ
xài hơn nhiều so với các tiểu chuẩn quốc tế cơng nhận”
2 Định hướng phát triển kinh tế năm 2006:
2.1 Dự báo nền kinh tế tồn cầu tác động đến tăng trưởng kinh tế
Việt Nam:
Nền kinh tế tồn cầu vẫn tiếp tục tăng trưởng,nhưng sẽ trải qua
cuộc suy thối nhẹ trong năm 2006 Đĩ là nhận định của hơn 50 nhà
nghiên cứu kinh tế hàng đầu thế giới tham gia cơng trình nghiên cứu
dự báo tình hình kinh tế thế giới
Theo dự báo của ngân hàng thế giới (WB),tăng trưởng của các
nước đang phát triển sẽ đạt 5,9% trong năm 2006, với Đơng Nam Á
và khu vực Châu Á Thái Bình Dương sẽ đạt 7,8%,trong khi tỷ lệ tăng
trưởng tại Nam Á là 6,9%,tại Châu Mỹ La Tinh và Caribe là 4,5% và
tại vùng phụ cận Châu Phi là 4,6%
OECD khẳng định trong thời gain tới, nhìn chung mức tăng
trưởng trên tồn cầu vẫn đặc biệt mạnh mẽ, kích thích giá dầu và giá
trên thị trường hàng hĩa tăng mạnh Theo OECD, các nguy cơ đối với
nền kinh tế tồn cầu trong năm 2005-2006 sẽ là giá dầu cao, sự mấtcân đối như thâm hụt tài khoản vãng lai của Mỹ
Quỹ tiền tệ quốc tế IMF cho rằng nền kinh tế tồn cầu trong năm
2006 cĩ thể là 1 cơ hội phát triển lớn đối với các nền kinh tế trên khắpthế giới với tốc độ tăng trưởng tăng nhẹ so với năm 2005 IMF kêugọi các nước đang phát triển tận dụng các điều kiện tài chính lànhmạnh hiện nay để tăng cường nền tảng phát triển kinh tế của mình vìlãi suất dài hạn thấp đang tác động tích cực đến nền kinh tế đang pháttriển trong năm 2005 cĩ thể nhanh chống tay đổi
WB dự báo giá dầu trung bình 53,6 USD/thùng trên thị trườngnăm 2005 sẽ tăng lên,đạt 56 USD/thùng trong năm 2006,cao hơn 37,7USD so với năm ngối IMF cũng cảnh báo cĩ khả năng giá dầu tiếptục năm 2006 cĩ thể ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế thế giối Cácyếu tố khác cĩ nguy cơ đe dọa nền kinh tế thế giới cịn cĩ sự xuốnggiá thất thường của đồng dơla Mỹ, giảm giá bất động sản Điều này sẽtác động đến sự tăng trưởng kinh tế Việt Nam, nếu biết tận dụng cơhội và hạn chế nguy cơ thì nền kinh tế Việt Nam sẽ tiếp tục tăngtrưởng
2.2.Năm 2006,đối với Việt Nam nền kinh tế sẽ đứng trước những vận hội-thách thức mới do mơi trường kinh tế quốc tế và trong nước mang lại ,cần phải tận dụng triệt để các cơ hội phát
triển kinh tế nhằm đạt được các mục tiêu sau:
Tốc độ tăng trưởng GDP là 8%
Kim ngạch xuất khẩu tăng 16%
Tổng số vốn đầu tư xã hội đạt mức 38,6%GDP
Chỉ số giá tiêu duàng tăng dưới 8%
Tạo việc làm mới cho 1,6 triện người
Để thực hiện các mục tiêu trên, năm 2006 cần tập trung vào cácnhĩm giải pháp sau?
Một, tổ chức tốt việc giao kế hoạch và dự tốn ngân sách nhànước của các cấp nghành cho các đơn vị, các bộ các nghành, tổngcơng ty 91, địa phương cần bố trí theo cơ cấu được giao, đúngmục tiêu kế hoạch, khơng bố trí dàn trải, phân tán Các dự án khởicơng mới phải cĩ đầy đủ thủ tục theo quy định đầu tư, thiết kế kỷthuật và tổng dự tốn được duyệt Ưu tiên bố trí đủ vốn đối ứngcho dự án ODA
Cần tập trung chỉ đạo nhằm cải thiện mạnh mẽ mơi trườngđầu tư và sản xuất kinh doanh, nhất là tháo gỡ các khĩ khăn, giảmchi phí sản xuất hạ giá thành nhằm tạo điều kiện thật sự thuận lợi
để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP 8% trong năm 2006
-Bình ổn giá cả các sản phẩm hàng háo chủ yếu cung cấpđầu vào cho SXKD như giá xăng dầu,điện ,than,xi măng,thép.ổngiá cả các sản phẩm hàng hĩa thiết yếu cho đời sống của dân cưnhư lương thực ,thực phẩm,thuốc chữa bệnh
-Đẩy mạnh cổ phần hĩa doanh nghiệp nhà nước để tạo lậpquyền tự chủ tối đa cho doanh nghiệp, gắn lợi ích kinh tế củangười lao động với kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
cổ phần hĩa Tăng cường vai trị của người lao động trong việcsoạn thảo, hực thi chiến lược và kiểm tra, kiểm sốt hiệu quả hoạtđộng SXKD
Hai, tiếp tục hồn thiện mơi trường hợp tác kinh doanh thơngthống cho khu vực kinh tế quốc doanh, để huy động tối đa nguồnlực cho đẩy nhanh phát triển kinh tế
-Cần huy động tối đa cho nguồn lực đầu tư phát triển đồngthời tập trung nâng cao hiệu quả đầu tư, chống thất thốt, lãng phí,đầu tư dàn trải, nợ động vốn đầu tư xây dựng cơ bản
-Tiếp tục duy trì ổn định kinh tế vĩ mơ, ổn định thị trường vàmơi trường kinh doanh theo chiều hướng ngày càng tích cực -Rà sốt, loại bỏ những thủ tục hành chính khơng phù hợp,thực hiện quy chế 1cừa tại cơ quan hành chính; thực hiện cơngkhai, minh bạch, tơn trọng dân chủ; tăng cường tính hiệu quả vàtính minh bạch của cơ chế, chính sách nhà nước
Ba, tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu, kiềm chế nhập siêu, thơng quađẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng Việt Nam cĩ thếmạnh và cĩ thị trường xuất khẩu như các mặt hàng dệt may,giàydép, túi sách, cao su, xe đạp, phụ tùng các mặt hàng đồ gỗ Xácđịnh giải pháp đồng bộ để khai thác các nguồn nguyên liệu trongnước phục vụ cho sản xuất hàng hĩa, kể cả hàng xuất khẩu, ĩpphần làm giảm giá thành sản xuất và giảm dần sự lệ thuộc vànguồn liệu nhập khẩu
3 Quan hệ thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ sau khi BTA có hiệu lực:
Ngay sau khi Hiệp định Thương mại song phương ViệtNam - Hoa Kỳ (BTA) cĩ hiệu lực vào cuối năm 2001, quan hệthương mại giữa hai nước đã cĩ bước phát triển vượt bậc cũngnhư những cơ hội mở ra trong tương lai trong quan hệ thươngmại hai nước
Trang 34
Trang 35Kim ngạch thương mại hai chiều đạt tốc độ tăng trưởng
đầy ấn tượng kể từ khi BTA cĩ hiệu lực, đạt khoảng 6 tỷ USD
vào năm 2004, đưa Hoa Kỳ trở thành thị trường xuất khẩu lớn
nhất của Việt Nam Với việc dỡ bỏ các hàng rào thương mại
theo quy định của BTA, hoạt động thương mại sẽ đĩng gĩp to
lớn vào thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hai nước
Việt Nam cần phải đảm bảo sẽ thực hiện đúng những cam
kết trong Hiệp định bằng cách thi hành các điều khoản và quy
định về hải quan, thủ tục hành chính, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
và quyền thương mại Việt Nam cũng cần chú trọng thực hiện
các cam kết về mở cửa thị trường đối với khu vực dịch vụ như
đã đề ra trong Hiệp định, đồng thời phải nâng cao tính minh
bạch của chính sách Điều này là rất quan trọng, nếu Việt Nam
muốn thu hút các nhà đầu tư Xét một cách tổng thể, tơi tin rằng,
việc thực hiện BTA cĩ ý nghĩa to lớn đối với sự hợp tác giữa hai
nước trong lĩnh vực này
Theo ơng, Việt Nam cĩ phải là một địa điểm tốt để đầu tư
và kinh doanh khơng? Những lĩnh vực nào đem lại cơ hội đầu tư
tốt nhất cho các nhà đầu tư Hoa Kỳ?
Là một động lực của khu vực, với dân số hơn 82 triệu
người và một nền kinh tế đang tăng trưởng ở giai đoạn đầu
nhưng với tốc độ bền vững, Việt Nam cĩ nhiều điểm hấp dẫn và
một tương lai đầy hứa hẹn đối với các thương nhân và các nhà
đầu tư Tuy nhiên, nhiều trong số các tiềm năng này vẫn chưa
được khai thác, hoặc mới chỉ bắt đầu được khai thác Theo
thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam, đầu tư trực tiếp
của các cơng ty Hoa Kỳ vào Việt Nam tính đến đầu năm 2005
mới chỉ đạt khoảng 1,3 tỷ USD Nếu tính cả lượng đầu tư của
các chi nhánh cơng ty Hoa Kỳ trong khu vực, thì tổng vốn đầu
tư của Hoa Kỳ vào Việt Nam khoảng 2,5 tỷ USD, song chỉ
chiếm một phần nhỏ trong tổng số trên 46 tỷ USD vốn đầu tư
nước ngồi vào Việt Nam Các thương nhân Hoa Kỳ đang làm
ăn ổn định tại Việt Nam, trong khi các nhà đầu tư Hoa Kỳ vẫn
chưa thực sự bị cuốn hút vào Việt Nam Tơi cho rằng, trong
tương lai, mơi trường đầu tư tại Việt Nam sẽ ngày càng hấp dẫn,
khi đĩ lợi ích của việc đầu tư vào đây ngày càng tăng và các rủi
ro sẽ giảm dần
Cĩ rất nhiều ngành mở ra cơ hội đầu tư cho các cơng ty
Hoa Kỳ, từ chế biến thức ăn chăn nuơi, sản xuất năng lượng,
cơng nghệ thơng tin cho đến sản xuất phương tiện đi lại Các
cơng ty của Hoa Kỳ tỏ ra cĩ sức cạnh tranh cao nhất trong lĩnh
vực dịch vụ, bao gồm các dịch vụ chuyên mơn, dịch vụ ngân
hàng - tài chính, dịch vụ mơi trường và dịch vụ viễn thơng Tốc
độ tăng trưởng nhanh và bền vững của Việt Nam đang tạo ra các
cơ hội đầu tư trong nhiều ngành Cộng đồng doanh nghiệp Hoa
Kỳ đang quan sát một cách cẩn trọng những cơ hội đầu tư tại
Việt Nam để cĩ thể tiến hành đầu tư vào những lĩnh vực mang
lại lợi nhuận cao và rủi ro thấp
4 Chưa thoả mãn với BTA:
Trịn 4 năm sau ngày Hiệp định Thương mại song phương
Việt - Mỹ (BTA) cĩ hiệu lực, cĩ ý kiến cho rằng, BTA mang lại
nhiều lợi ích hơn cho VN Nhưng khơng ít người nhận định VN
vẫn chưa thể tận dụng hết lợi thế của mình trong mối giao
thương với đối tác này
Trong quan niệm của ơng Jeff Puchalski, Chủ tịch Phịng
Thương mại Mỹ tại VN (Amcham), BTA mang lại nhiều lợi ích
cho VN hơn là cho phía Mỹ Theo ơng, kể từ khi BTA cĩ hiệu
lực từ tháng 12/2001 đến nay, thâm hụt thương mại giữa hai bên
đã bắt đầu xuất hiện và lớn hơn mức dự kiến của cả hai nước
vào thời gian BTA được ký kết Ơng Jeff lấy ví dụ, năm 2005,
VN xuất khẩu sang Mỹ gần 7 tỷ USD trong khi nhập khẩu từ
Mỹ chỉ vỏn vẹn chưa tới 2 tỷ USD Theo ơng nguyên nhân một
phần là những rào cản đối với hàng hĩa và dịch vụ của Mỹ vào
VN, đặc biệt là những hạn chế của VN về các quyền thương mại
và phân phối
VN cần cĩ lộ trình để thực hiện cam kết
VN là một thị trường mở và khơng cĩ bất kỳ một sự phân
biệt đối xử nào với hàng hĩa của Mỹ Song, nhìn chung, sức
mua của thị trường VN đối với hàng tiêu dùng cịn thấp, thunhập của người dân lại cĩ một khoảng cách quá xa với cơng dân
Mỹ Hàng của Mỹ xuất khẩu sang VN phần lớn là hàng cao cấpnên sức tiêu thụ khơng được cao như mong đợi cũng là điều dễhiểu
Thêm vào đĩ, với quy mơ thị trường của VN cịn nhỏ nhưhiện nay, doanh nghiệp Mỹ, đặc biệt là các doanh nghiệp lớncũng chưa thực sự thấy hấp dẫn khi tới đầu tư tại VN Trước khi
ký BTA, VN cũng kỳ vọng là hiệp định lịch sử này sẽ thu hútnhiều hơn những cơng nghệ nguồn từ Mỹ, nhưng đến nay điều
đĩ vẫn cịn khá xa vời
Mỹ là một thị trường rộng lớn và khơng phải là thị trườngđĩng Đặc thù của cơ cấu xuất nhập khẩu của Mỹ là luơn luơnnhập siêu từ những đối tác lớn Trên thực tế, cĩ những nướcxuất siêu vào Mỹ hằng năm lên tới hàng trăm tỷ USD VN xuấtvào Mỹ với tốc độ khá nhanh và nhiều hơn chiều ngược lại Tuynhiên, trong khi đối với VN con số này là đáng kể thì với Mỹ,xuất khẩu của VN trong cán cân nhập khẩu của nước này chỉchiếm một con số cực kỳ khiêm tốn là 0,3-0,4% Con số này chothấy, dù VN xuất siêu cũng vẫn chưa đụng chạm gì tới lợi íchcủa Mỹ
Quy mơ buơn bán hai chiều cịn cĩ thể lớn hơn nữa
Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của VN sang Mỹ rất cao,song các chuyên gia cho rằng, khả năng xuất khẩu của VN sang
Mỹ vẫn cịn cĩ thể lớn hơn nữa Cho tới nay, sự thiếu hụt lớnnhất của phía các doanh nghiệp VN là chưa thiết lập được tốtmối quan hệ với các tập đồn thương mại lớn, các mạng phânphối hàng hĩa chủ chốt của Mỹ, chẳng hạn như với Wal-Mart,một đại gia lớn trong hệ thống phân phối ở Mỹ Tập đồn này cĩhàng trăm siêu thị lớn trên khắp nước Mỹ nên nếu VN "bắt mối"được thì cơ hội xâm nhập sâu vào thị trường Mỹ sẽ lớn hơn rấtnhiều và "bộ mặt xuất khẩu" sẽ được cải thiện đáng kể Năm ngối, khi xem xét đánh giá việc thực thi BTA, nhiều
ý kiến phản ánh về tình trạng xuất khẩu của VN sang Mỹ giảmsút Năm nay cũng vậy, khơng ít người đặt ra mối nghi ngại vềlợi ích thực sự của BTA khi thấy xuất khẩu của VN sang Mỹgiảm hơn so với năm ngối
Mỹ cĩ rất nhiều cơ hội để đầu tư vào những lĩnh vực quantrọng của VN trong thời gian tới Chẳng hạn như vừa qua, BộCơng nghiệp đề ra mục tiêu đến năm 2010 sẽ xây dựng mới cácnguồn điện với tổng cơng suất khoảng trên 12.000 MW Để thựchiện được mục tiêu này, ngành điện khuyến khích khu vực kinh
tế tư nhân bao gồm cả đầu tư nước ngồi vào các dự án đầu tưphát triển ngành điện Như vậy, ngay trong lĩnh vực này, cácdoanh nghiệp Mỹ cũng cĩ rất nhiều cơ hội Trong tương lai, khi
VN cĩ một mơi trường kinh doanh tốt hơn, đặc biệt là khi LuậtĐầu tư mới, Luật Doanh nghiệp mới được thực hiện thì cáccơng ty Mỹ sẽ quan tâm hơn đến thị trường VN
VN sẽ gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), khi
đĩ việc thực hiện các cam kết trong BTA sẽ trở nên thuận lợihơn Vào WTO cũng cĩ nghĩa là Quy chế tối huệ quốc giữa VN
và Mỹ sẽ trở thành một quy chế vĩnh viễn chứ khơng phải bịxem xét hằng năm như hiện nay Hàng rào quota đối với hàngdệt may - một mặt hàng xuất khẩu chiến lược của VN - cũng sẽđược dỡ bỏ "Quota dù cĩ cho nhiều đến mấy thì vẫn là một hạnchế Đối với những người nhập khẩu, chúng ta phải hiểu rằng,
họ khơng việc gì phải cố gắng để lấy vài triệu sản phẩm ở VNtrong khi hồn tồn cĩ thể nhập một cách dễ dàng từ những thịtrường phi hạn ngạch khác", bà Lan nĩi thêm
5 Hoa kỳ trở thành nhà đầu tư lớn nhất tại Việt Nam:
Sau khi Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA)
cĩ hiệu lực tháng 12.2001, quan hệ thương mại giữa hai nước đãtăng ngoạn mục Hoa Kỳ hiện đã trở thành thị trường xuất khẩulớn nhất của Việt Nam
Trang 35
Trang 36Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) thì trước đây Hoa
Kỳ chưa từng lọt vào danh sách 10 nhà đầu tư trực tiếp vào Việt
Nam lớn nhất Tuy nhiên, theo báo cáo về tác động của BTA đối
với đầu tư trực tiếp Hoa Kỳ vào Việt Nam do Bộ KH-ĐT và Dự
án Star-Việt Nam (*) thực hiện vừa cơng bố ngày 20.2, Hoa Kỳ
đã trở thành quốc gia cĩ vốn đầu tư lớn nhất tại Việt Nam
Phĩ cục trưởng Cục Đầu tư nước ngồi - Bộ KH-ĐT ơng
Nguyễn Anh Tuấn cho biết: "Nếu tính cả việc đầu tư qua một
nước thứ 3 thì vốn thực hiện của đầu tư trực tiếp từ Hoa Kỳ vào
Việt Nam cao hơn gấp 3,5 lần so với cách tính hiện nay của ta
Điều đĩ cho thấy tác động của BTA là rất thực tế" Theo Bộ
KH-ĐT, tính đến hết năm 2004, Hoa Kỳ xếp thứ 11 trong tổng
số 75 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam; với 215
dự án, 1,3 tỉ USD vốn đăng ký Tuy nhiên, theo báo cáo của
nhĩm nghiên cứu tác động của BTA đối với đầu tư trực tiếp của
Hoa Kỳ tại Việt Nam thực hiện trong năm 2005, cơng bố vào
ngày 20.2, tổng vốn thực hiện đầu tư trực tiếp Hoa Kỳ vào Việt
Nam, kể cả đầu tư qua nước thứ ba giai đoạn 1998-2004 là 2,6 tỉ
USD, cao hơn nhiều so với con số thống kê của Bộ KH-ĐT là
730 triệu USD Cũng theo nghiên cứu này thì Hoa Kỳ là nhà đầu
tư lớn nhất vào Việt Nam năm 2004 với số vốn thực hiện là 531
triệu USD, chứ khơng phải là Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan
hay Singapore
Các chuyên gia cho rằng đánh giá đầu tư trực tiếp của Hoa
Kỳ vào Việt Nam mà khơng tính đến khoản đầu tư qua nước thứ
3 là chưa đầy đủ Ơng Steve Parker - Giám đốc dự án Star - Việt
Nam nhận xét: "Các cơng ty Hoa Kỳ đầu tư vào Việt Nam chủ
yếu thơng qua các cơng ty con của họ đặt tại Singapore hoặc
Hồng kơng vì một số lý do Trong đĩ, lý do quan trọng là luật
thuế Hoa Kỳ khuyến khích các cơng ty Hoa Kỳ đầu tư từ các
cơng ty con ở nước ngồi Hơn nữa, việc quản lý và điều hành
thơng qua một chi nhánh khu vực sẽ thuận lợi hơn " Những
thương hiệu quen thuộc của Mỹ như Coca Cola hay Procter &
Gamble lại đầu tư từ Singapore, hay Exxonmobil lại đầu tư từ
Hồng kơng Thống kê cho thấy, lượng vốn đầu tư của các cơng
ty Hoa Kỳ theo diện này cao hơn nhiều so với đầu tư trực tiếp từ
chính quốc
Theo cách tính này, từ năm 1988 đến năm 2004, tổng vốn
đăng ký ban đầu của các cơng ty Hoa Kỳ vào Việt Nam là 2,6 tỉ
USD, gấp đơi so với cách tính khơng kể đến đầu tư qua nước
thứ 3 Nhĩm nghiên cứu cũng nhấn mạnh từ năm 2001 đến
2004, vốn đầu tư thực hiện của các cơng ty Hoa Kỳ, kể cả qua
nước thứ 3, tăng bình quân 27%/năm Riêng trong 2 năm 2003
và 2004, lượng vốn này đã tăng gấp 2 lần những năm trước Kết
quả nghiên cứu cũng cho thấy năm 2003, đầu tư của Hoa Kỳ, kể
cả qua nước thứ 3, vọt lên đứng thứ 2 sau Nhật Bản và đến năm
2004 vọt lên đứng đầu bảng xếp hạng
Vốn đầu tư thực hiện của Hoa Kỳ giai đoạn 2000 - 2004:
Năm 2000: 196 triệu USD; 2001: 258 triệu USD; 2002:
169 triệu USD; 2003: 449 triệu USD; 2004: 531 triệu USD
VI Những cơ hội và thách thức đối với hoạt động thương mại
của Việt Nam trong tiến trình thực thi nội dung thương mại
Hoa Kỳ muốn quan hệ lâu dài với Việt Nam
(TTXVN) - Nghị sĩ Paul Gillmor, Chủ tịch Tiểu ban
Mơi trường-Nguyên liệu thuộc Uỷ ban Năng lượng-Thương mại
Hạ viện Hoa Kỳ, cho biết mục đích của Hoa Kỳ là muốn quan
hệ lâu dài với Việt Nam đồng thời bày tỏ mong muốn hai bên
sớm đạt được thỏa thuận về việc Việt Nam gia nhập Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO)
Chiều 17/1, phát biểu khi gặp Chủ tịch Quốc hộiNguyễn Văn An, ơng Gillmor bày tỏ ấn tượng về sự phát triểncủa Việt Nam trong chuyến thăm cách đây 4 năm; nêu rõ mụcđích chuyến thăm này của đồn là trao đổi các biện pháp nhằmtăng cường quan hệ, hợp tác giữa Quốc hội hai nước cũng nhưgiữa Hoa Kỳ và Việt Nam
Ơng đánh giá việc phát triển quan hệ giữa hai nước
là cực kỳ quan trọng; tỏ sự hài lịng về những kết quả đạt đượctrong quan hệ hai nước qua 10 năm thiết lập quan hệ ngoại giao
và 5 năm thực hiện Hiệp định thương mại Ơng nĩi thêm rằngviệc hai bên đang đàm phán về vấn đề Việt Nam gia nhập WTO
cĩ tầm quan trọng rất lớn đối với cả hai nước
Chủ tịch Nguyễn Văn An khẳng định quan hệ ViệtNam và Hoa Kỳ thời gian qua đã cĩ những bước phát triển tíchcực và tin tưởng trong năm nay, việc Tổng thống George Bushsang thăm Việt Nam và dự Hội nghị cấp cao APEC sẽ là sự kiệnquan trọng đánh đấu bước phát triển mới giữa Việt Nam và HoaKỳ
Chủ tịch đánh giá cao vai trị, vị trí của Quốc hội vàtiếng nĩi của nhân dân Hoa Kỳ sẽ gĩp phần quan trọng thức đẩyquan hệ hai nước trong thời kỳ mới, cho rằng trong tương laicần thiết phải tăng cường các cuộc xúc cấp cao và các cấp nhằmtạo sự hiểu biết, xây dựng lịng tin làm cơ sở cho quan hệ, hợptác phát triển giữa hai nước
Ơng Gillmor và nhiều thành viên trong đồn cảm ơn Chính phủ
và nhân dân Việt Nam đã hỗ trợ tìm kiếm những người Mỹ mấttích trong chiến tranh; ủng hộ những nạn nhân trong cơn bãoKatrina, nĩi rằng Hoa Kỳ mong muốn hỗ trợ, phát triển quan hệvới Việt Nam khơng chỉ về kinh tế-thương mại và nhiều lĩnhvực khác
Sáng cùng ngày, tại Văn phịng Quốc hội, Đồn đạibiểu Quốc hội Việt Nam do Chủ nhiệm Uỷ ban Đối ngoại củaQuốc hội Vũ Mão làm trưởng đồn đã hội đàm với đồn Hạnghị sĩ Hoa Kỳ do ơng P Gillmor làm trưởng đồn
Hai bên đã thảo luận, trao đổi ý kiến về nhiều vấn đềquan trọng trong quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ; nhất trí đặttrọng tâm vào việc phát triển quan hệ lâu dài, tốt đẹp trongtương lai khơng chỉ về kinh tế và cả nhiều mặt khác./
Hiệp định sẽ tạo điều kiện mở rộng trao đổi thươngmại và tăng cường quan hệ hợp tác, đầu tư giữa hai nước Hiệpđịnh này khơng chỉ bảo đảm lợi ích của hai nước Việt Nam vàHoa Kỳ mà cịn là một đĩng gĩp tích cực cho hồ bình, ổn định,hợp tác để phát triển ở khu vực và trên thế giới Việc ký kết vàthực hiện Hiệp định là phù hợp với đường lối đổi mới của Đảng
và Nhà nước, gĩp phần vào cơng cuộc cơng nghiệp hố, hiện đạihố đất nước, xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ, theođịnh hướng Xã hội Chủ nghĩa Để đạt được yêu cầu đĩ, cácngành, các cấp và các doanh nghiệp cần ra sức phát huy tối đanội lực, cải tiến quản lý, tiếp thu thành tựu khoa học kỹ thuật,nhằm nâng cao hiệu quả của nền kinh tế và khả năng cạnh tranhcủa hàng hố Việt Nam Tơi mong rằng hai Bên sẽ cố gắng đểHiệp định thực thi cĩ hiệu quả, mang lại lợi ích thiết thực cho cảhai nước./
Là một đối tác kinh tế tương đối mới, Việt Nammang đến những triển vọng đầy hứa hẹn cho sự hợp tác ngàycàng rộng mở với Hoa Kỳ Dân số của Việt Nam đơng, trẻ, khánăng động, đồng thời cĩ một nền tảng giáo dục khá tốt Đượckhích lệ bởi những thành cơng mà Hiệp định Thương mại đã đạtđược, Hoa Kỳ đang tích cực tăng cường hỗ trợ Việt Nam gianhập Tổ chức Thương mại Thế giới vào cuối năm nay Chúng tahồn tồn cĩ cơ sở để tin rằng, thương mại hai chiều giữa hainước sẽ tiếp tục phát triển và ngày càng cĩ nhiều nhà đầu tư củaHoa Kỳ muốn khai phá những cơ hội làm ăn tại Việt Nam
Cĩ rất nhiều ngành mở ra cơ hội đầu tư cho các cơng
ty Hoa Kỳ, từ chế biến thức ăn chăn nuơi, sản xuất năng lượng,
Trang 36
Trang 37cơng nghệ thơng tin cho đến sản xuất phương tiện đi lại Các
cơng ty của Hoa Kỳ tỏ ra cĩ sức cạnh tranh cao nhất trong lĩnh
vực dịch vụ, bao gồm các dịch vụ chuyên mơn, dịch vụ ngân
hàng - tài chính, dịch vụ mơi trường và dịch vụ viễn thơng Tốc
độ tăng trưởng nhanh và bền vững của Việt Nam đang tạo ra các
cơ hội đầu tư trong nhiều ngành
Hiệp định thể hiện sự nổ lực cải cách trong kinh tếViệt Nam trong qua trình hội nhập nền kinh tế quốc tế, tạonền tảng cho Việt Nam gia nhập tổ chúc WTO
2 Thách thức:
Để thu hút được đầu tư từ Hoa Kỳ thì Chính phủ Việt Namphải giảm thiểu chi phí đầu tư Khi xem xét các khả năng đầu tư,các cơng ty Hoa Kỳ luơn cân nhắc tới những chi phí mà họ phải chi trả cho tệ quan liêu, các khoản thuế và phí khơng thể dự tính trước,những thủ tục, luật lệ phiền hà khi xin cấp giấy phép và tệ tham nhũng Việt Nam vẫn bị coi là một địa điểm đầu tư tương đối đắt và cĩ nhiều rủi
ro hơn so với các nước khác trong khu vực do những tiêu cực nĩi trên vẫn tồn tại phổ biến hơn
Khi quan hệ thương mại giữa hai nước phát triển thì khơng thể tránh khỏi việc nảy sinh những vấn đề về thương mại
VN là một thị trường mở và khơng cĩ bất kỳ một sự phân biệt đối xử nào với hàng hĩa của Mỹ Song, nhìn chung, sức mua của thị trường
VN đối với hàng tiêu dùng cịn thấp, thu nhập của người dân lại cĩ một khoảng cách quá xa với cơng dân Mỹ Hàng của Mỹ xuất khẩu sang VNphần lớn là hàng cao cấp nên sức tiêu thụ khơng được cao như mong đợi
Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của VN sang Mỹ rất cao, song các chuyên gia cho rằng, khả năng xuất khẩu của VN sang Mỹ vẫn cịn cĩ thểlớn hơn nữa Cho tới nay, sự thiếu hụt lớn nhất của phía các doanh nghiệp VN là chưa thiết lập được tốt mối quan hệ với các tập đồn thương mạilớn, các mạng phân phối hàng hĩa chủ chốt của Mỹ
Việt Nam là một nước đang phát triển ở trình độ thấp, đang trong quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế và đang hội nhập với nền kinh tế khuvực và thế giới
C PHẦN KẾT LUẬNHiệp định thương mại Việt Mỹ là một bước tiến lịch sử trong quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, mang lại cho thương mại ViệtMỹ các điều kiện tương đương mà Hoa kỳ đang áp dụng cho các quốc gia khác Hiệp định này sẽ tạo ra nhiều cơ hội thương mại cho các công tyHoa Kỳ tiến hành kinh doanh và xuất khẩu tại Việt Nam, tiếp cận được thị trường non trẻ luôn phát triển ở nhiều lĩnh vực của Việt Nam Và ViệtNam cũng có điều kiện tiếp cận với một nền kinh tế hùng mạnh của thế giới, điều này sẽ đem lại nhiều cơ hội và thách thức cho nền kinh tế ViệtNam, đặc biệt là nền thương mại Việt Nam Hiệp định thể hiện sự nổ lực cải cách trong kinh tế Việt Nam trong qua trình hội nhập nền kinh tếquốc tế, tạo nền tảng cho Việt Nam gia nhập tổ chúc WTO
Trang 37
Trang 38HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT MỸ
(BẢN 2)
I VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ RA ĐỜI CỦA HIỆP ĐỊNH
THƯƠNG MẠI VIỆT – MỸ
Ngày 03/02/1994, Chính phủ Hoa Kỳ công bố
bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam
Quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Mỹ được
thiết lập ngày 12/7/1995 Trong quãng thời gian đó,
quan hệ giữa hai nước ngày càng được cải thiện và có
sự phát triển đáng khích lệ
Từ tháng 09/1996 đến ngày 03/07/2000, hai
Bên Việt Nam và Hoa Kỳ tiến hành 11 vòng đàm phán
để soạn thảo nội dung của Hiệp định Thương mại song
phương
Từ sự hợp tác ban đầu còn nhỏ lẻ, bó hẹp
trong vấn đề nhân đạo, quan hệ hai nước đã mở rộng
sang các lĩnh vực chính trị, kinh tế, giáo dục, y tế, khoa
học - công nghệ , và cả những lĩnh vực chưa từng có
trong lịch sử quan hệ hai nước, như tiếp xúc quốc
phòng, chống khủng bố, ma túy, tội phạm xuyên quốc
gia
Gần đây, hai bên đang trao đổi những biện
pháp nhằm đưa quan hệ lên bước phát triển mới, hướng
tới xây dựng mối quan hệ hợp tác ổn định và lâu dài
Trong quan hệ hai nước, hợp tác kinh tế,
thương mại luôn là lĩnh vực trọng tâm và cũng là lĩnh
vực đạt nhiều kết quả tích cực nhất Hiệp định
Thương mại Việt - Mỹ được ký kết vào 03/7/2000,
tháng 11/2001, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam
thông qua Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ Ngày
11/12/2001 hiệp định có hiệu lực đã tạo cơ sở pháp lý
quan trọng cho việc thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế
-thương mại và đầu tư giữa hai nước
Ngoài ra, hai bên đã ký một loạt thỏa thuận và
hiệp định kinh tế như Hiệp định Dệt may (2003), Hiệp
định Hàng không (2003), Thư Thỏa thuận về Sáng kiến
cạnh tranh Việt Nam, Thỏa thuận về hệ thống cấp visa
điện tử cho hàng dệt may xuất khẩu sang Mỹ và đang
trao đổi, đàm phán tiến tới ký kết Hiệp định khung về
Hợp tác kinh tế - kỹ thuật, Hiệp định Hàng hải, Bản ghi
nhớ về Hợp tác nông nghiệp
II VAI TRÒ CỦA HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT MỸ
SO VỚI CÁC HIỆP ĐỊNH KHÁC
Trong số các hiệp định thương mại song
phương đã ký thì Hiệp định thương mại Việt Mỹ có ảnh
hưởng lớn nhất đối với nền kinh tế Việt Nam vì:
- Mỹ là nước có nền kinh tế và thương mại lớn
nhất thế giới: Mỹ chiếm gần 50% sản lượng
công nghiệp, gần 20% trị giá xuất nhập khẩu
của thế giới Mỗi na8mMỹ xuất khẩu gần 900
tỷ USD, nhập khẩu gần 1300 tỷ USD Năm
2001 GDP của Mỹ lên gần 10.000 tỷ USD cho
nên ký hiệp định với Mỹ mở ra thị trường thuận
lợi có dung lượng lớn, cho hoạt động xuất khẩu
của Việt Nam
- Nước Mỹ có vai trò nòng cốt, chi phối sự hoạt
động của các định chế tài chính và thương mại
quốc tế như IMF, WTO, WB, ADB… cho nên ký
hiệp định thương mại với Mỹ tạo ra khả năng
tăng cường sự ảnh hưởng thuận lợi của các tổ
chức trên với nền kinh tế của Việt Nam và giúp
đầy nhanh tiến trình hội nhập của nước ta với
khu vực và thế giới
- Hiệp định thương mại Việt - Mỹ được soạn thảo
dựa trên các tiêu chuẩn nội dung của Tổ chức
thương mại thế giới (WTO) giành cho các nước
kém phát triển, cho nên ký được hiệp định
thương mại với Mỹ là một bước tiếp quan trọng
giúp cho Việt Nam sớm gia nhập tổ chức WTO
- Dưới sự ảnh hưởng của Hiệp định thương mạiViệt Mỹ, hệ thống pháp lý điều tiết nền kinh tế
và thương mại của Việt Nam sẽ thay đổi theohướng: đầy đủ, minh bạch, tiếp cận với cácchuẩn mực chung quốc tế để tạo ra môi trườngkinh doanh bình đẳng, thuận lợi cho các doanhnghiệp thuộc các khu vực kinh tế phát triển
- Từ sau khi Hiệp định thương mại Việt - Mỹ cóhiệu lực (11/12/2002) thuế nhập khẩu hànghóa từ Việt Nam vào Mỹ giản từ 30-40% tạođiều kiện nâng cao tính cạnh tranh về giá chohàng hóa của Việt Nam trên thị trường này
- Môi trường đầu tư Việt nam hấp dẫn hơn vì:tính bình đẳng, rõ ràng, không phân biệt đối
xử và hàng hóa của các doanh nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài sản xuất tại Việt Nam đưavào thị trường Mỹ cũng được hưởng quy chếtối huệ quốc
So sánh quan hệ thương mại Việt Mỹ trước và sau khi ký Hiệp định với quan hệ thương mại Việt Nam - EU
Quan hệ thương mại Việt Mỹ Quan hệ thương mại Việt Nam - EU
Cộng đồng ngườiViệt ở khu vực nàyrất lớn với con sốtrên
dưới 1.000.000người
Cộng đồng ngườiViệt ở khu vực nàykhá lớn với con sốtrên
dưới 500.000 ngườiluôn luôn hướng vềViệt Nam và muốn
có đóng góp để xâydựng quê hương
- Xuất khẩu của Việt Nam vào Mỹ:
Trước năm 1994không đáng kể Từnăm 1994, sau khi
Mỹ bỏ lệnh cấmvận, xuất khẩu củaViệt Nam vào Mỹđạt 94,9 triệu USD,đứng thứ 9 trongcác nước và vùnglãnh thổ trên thếgiới nhập khẩu từViệt Nam (sau NhậtBản, Singapore,Trung Quốc, ĐàiLoan, Hồng Kông,Pháp, Đức, TháiLan)
Từ năm 1995, saukhi quan hệ ngoạigiao giữa 2 nướcđược thiết lập, xuấtkhẩu của Việt Namvào Mỹ đứng thứ 8,đạt 199 triệu USD(vượt qua Thái Lan
và Pháp) Đến năm
2000 đứng thứ 6,đạt 821,30 triệuUSD (vượt qua Đức,Hồng Kông, HànQuốc)
Từ năm 2001, saukhi Hiệp định
Xuất khẩu của Việt Nam vào EU
Sáu tháng đầu năm
2000, Việt Nam xuấtkhẩu sang EU đạtkhoảng 1.400 triệuUSD Những mặthàng chủ yếu ViệtNam xuất khẩu sang
EU bao gồm hàng dệt may, giày dép, thủy sản, cà- phê, thủ công mỹ nghệ
Năm 2003, tổng kimngạch xuất khẩu của ViệtNam sang EU đạt hơn 3,8
tỷ USD, tăng 25 lần sovới năm 1990 Có 5 mặthàng chủ lực là giầy dép1,6 tỷ USD, dệt may 537triệu USD, cà phê và chè
Trang 38
Trang 39Thương mại song
phương Việt - Mỹ
được ký kết, năm
2000 xuất khẩu của
Việt Nam vào Mỹ
của Việt Nam
Việt Nam hiện là 1
trong hơn 30 nước
- Đầu tư trực
tiếp của Mỹ
vào Việt Nam:
Tính đến cuốitháng 5 năm
2005, đầu tưtrực tiếp của
Mỹ vào Việt
Nam có 276
dự án, với tổng
số vốn đăng kýđạt 1.861 triệu USD,
đứng thứ 9trong các nước
và vùng lãnhthổ đầu tư vàoViệt Nam (sauSingapore, Đài
Quốc, NhậtBản, quần đảoVirgin thuộc
Kông, Pháp, HàLan), trong đó
Chính sách đầu tưnước ngoài vànhững điều kiện vậtchất, nhất là hạ tầng
cơ sở của Việt Nam,ngày càng tốt hơn
đã và đang tạo môitrường thuận lợi đểthu hút đầu tư nướcngoài, trong đó cócác
nước EU Tổng sốvốn đăng ký đầu tưcủa EU vào ViệtNam tính đến nayđạt tới 5.380 triệuUSD với 322 dự ánđược cấp giấy phép
án đang hoạt độngtại Việt Nam
31/12/2003, cácdoanh nghiệp EU đãđầu tư gần 2,3 tỷUSD trên tổng vốnđăng ký hơn 5,8 tỷUSD vào 369 dự án
Trong đó, đứng đầu
là các doanh nghiệpPháp với 134 dự án,trị giá hơn 2,1 tỷUSD, thứ 2 là cácdoanh nghiệp HàLan với 51 dự án, trịgiá hơn 2 tỷ USD.Đầu tư của EU tậptrung chủ yếu vàocác ngành côngnghiệp như dầu khí,điện, nước, xâydựng cơ sở hạ tầng,chế biến nông sảnthực phẩm, viễnthông, dịch vụ tàichính, ngân hàng Các dự án đầu tưcủa EU nhìn chunghoạt động có hiệuquả và đóng góptích cực vào sự pháttriển kinh tế - xã hộicủa Việt Nam, đạtmức doanh thu 2,3
tỷ USD, thu hút hơn23.000 lao động ViệtNam Tuy vậy, sovới tiềm năng vàvốn đầu tư ra nướcngoài của EU, thì sốvốn họ đầu tư vàoViệt Nam còn quánhỏ bé Đây cũng làđiều mà các nhàhoạch định chínhsách và giới doanhnghiệp của ViệtNam phải suy nghĩlàm sao thu hútđược thêm đầu tưcủa các nước EUtrong thời gian tới
Du lịch Việt Mỹ:
-Khách Mỹ đến Việt
Nam năm 1995,
đứng thứ 5 sau ĐàiLoan, Nhật Bản,Pháp và TrungQuốc Năm 2000đứng thứ 4 sauTrung Quốc, ĐàiLoan, Nhật Bản Từnăm 2001 đứng thứ
2 sau Trung Quốc
Năm 2004 gấp trên4,7 lần năm 2001,bình quân 1 nămtăng 18,9%, caogấp đôi tốc độchung 5 tháng đầunăm 2005, lượngkhách Mỹ đến ViệtNam đạt trên 134,2nghìn lượt người,tăng 14,2% so vớicùng kỳ năm 2004
- Du lịch Việt Nam
- EU
Quan hệ du lịch giữaViệt Nam và EUcũng có nhiều nétnổi bật thông quanhững dự án hỗ trợngành du lịch ViệtNam, góp phần hấpdẫn một lượngkhách Châu Âu đáng
kể vào du lịch và tìmhiểu thị trường đầu
tư, kinh doanh vàbuôn bán ở ViệtNam Đây cũng làmột tiềm năng lớnnếu chúng ta biếtkhai thác sẽ đónggóp không nhỏ cho
sự phát triển cácmối quan hệ hợp táckhác, trước hết là vềchính trị, kinh tế,thương mại và đầutư
Tiếp tục mở rộnghợp tác trên cáclĩnh vực chuyênngành, nhân đạo,
Văn hóa, giáo dục đào tạo, sự hợp tácgiữa Việt Nam và EUngày càng được mở
-Trang 39
Trang 40song song với việc
tăng cường hơn nữa
sự trao đổi về văn
hóa, quan hệ giữa
nhân dân hai nước
rộng và đi vào chiềusâu Trong nhữngnăm từ 1996 đến
1999, EU tài trợ chochương trình "liênkết các trường đạihọc khoa học và kỹthuật" do cơ quanđại học của khối cácnước có sử dụngtiếng Pháp (AUF) tổchức Tiếp đó là dự
án "hỗ trợ Bộ Giáodục và Đào tạo" với
3 hợp phần chính là
hỗ trợ về thể chế, vềquản lý và về sưphạm nhằm tăngcường hiệu quả của
mô hình giảng dạy,trước hết là trongcác trường tiểu học
Ngoài ra, hàng trămsinh viên, nghiêncứu sinh và côngnhân kỹ thuật củaViệt Nam sang họctập, nghiên cứuhoặc thực tập tạicác trường đại học,học viện, các cơ sởcông nghiệp tại cácnước EU theochương trình hợp tácngắn hạn hoặc dàihạn giữa hai bên
Trong năm
1998-1999, cuộc triển lãmnghệ thuật "ViệtNam ở thế kỷ XX" đãđược tổ chức thànhcông ở Brussels (Bỉ)
và Palermo (Italy)góp phần nâng caohình ảnh về đấtnước và con ngườiViệt Nam với mộtnền văn hóa phongphú, đậm đà bảnsắc dân tộc, nhưungcũng rất gần gũi vớinhững giá trị nhânvăn chung của nhânloại Nhiều hoạtđộng văn hóa, vănnghệ khác cũngđược phối hợp tổchức giữa các đốitác Việt Nam và EU
Sự hợp tác tronglĩnh vực văn hóa,giáo dục - đào tạo
có ý nghĩa lớn trongquan hệ giữa ViệtNam và EU, và đang
có nền kinh tế thị trường
Sự công nhận này tạothêm điều kiện thuận lợitrong quan hệ hợp táckinh tế, thương mại vàđầu tư giữa Việt Nam và
EU
Quan hệ hai nướcViệt Mỹ đã đạt đượcnhững bước pháttriển nhất định,nhưng vẫn chưatương xứng với tiềmnăng hai nước Vìvậy, trong thời giantới, Chính phủ hainước cần tiếp tụckhuyến khích việctrao đổi các đoànđại biểu chínhquyền, quốc hội;
Nâng cấp các cuộcđối thoại về các vấn
đề hai bên cùngquan tâm, thực hiệntốt các hiệp định,thỏa thuận kinh tế
đã có và tiến tớihoàn tất việc ký kếtthêm một số hiệpđịnh mới
Quan hệ Việt Nam với
EU đã chuyển từ hìnhthái mang tính chất chínhtrị - ngoại giao là chủ yếusang một hình thái hợptác năng động, vừa songphương, vừa đa phương;
từ tiếp nhận viện trợ làchủ yếu chuyển dần sanghợp tác kinh tế, thươngmại, đầu tư, khoa học -
kỹ thuật trên cơ sở haibên đều có lợi Quan hệhợp tác Việt Nam - EUlại có thêm điều kiện đểphát triển khi sự hợp tácASEAN - EU và hợp tác
á - Âu (ASEM) đượcquan tâm thúc đẩy vớinhiều sáng kiến và các dự
án hợp tác phong phú, đadạng và đan xen lẫn nhau
III NỘI DUNG CHÍNH CỦA HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI VIỆT MỸ
Gồm 7 chương, là một văn bản đồ sộ, chứa đựngnhiều điều và kèm theo các phụ lục
Chương 1: Thương mại hàng hóa
Gồm 9 điều khoản và kèm theo cácphụ lục A, B, C, D, E
Chương 2: Quyền sở hữu trí tuệ
Gồm 18 điều khỏan
Chương 3: Thương mại dịch vụ
Gồm 11 điều khoản và kèm theo các phụ lục F,G
Chương 4 Phát triển quan hệ đầu tư
Gồm 15 điều và kèm theo các Phụ lục H, I, cácvăn bản bổ sung
Chương 5: Tạo điều kiện thuận lợi cho kinh doanh
Chỉ bao gồm 3 điều khoản
Chương 6: Các quy định liên quan tới tính minh bạch , công khai và quyền khiếu kiện
Chương 7: Những điều khoản chung.
Bao gồm 7 điều khoản
Nội dung cốt lõi của Hiệp định thương mại Việt Mỹ
Hiệp định chứa đựng 4 nội dung cơ bản sau:
1 Về thương mại hàng hóa
Ngay lập tức và vô điều kiện, hai Bên Mỹ vàViệt Nam dành cho nhau quy chế tối huệ quốc trongquan hệ thương mại với nhau
Trong thương mại hàng hóa, các doanh nghiệpViệt nam có quyền tham gia ngay lập tức phân phốihàng hóa tại Mỹ nếu ta có khả năng Còn các doanhnghiệp Mỹ theo lộ trình về thời gian có quyền tổ chứcphân phối hàng hóa tại Việt Nam
Hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đưa vào thịtrường Mỹ được giảm thuế nhập khẩu bình quân từ 30%
- 40% Và hàng hóa của Mỹ đưa vào Việt Nam cũngđược hưởng quy chế tối huệ quốc
2 Về bản quyền và tài sản trí tuệ
Trang 40