1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Diễn tiến lâm sàng bệnh nhi tay chân miệng độ IIB điều trị gammaglobulin tại Bệnh viện Nhi Đồng 2

7 106 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 347,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài này được thực hiện với mục tiêu khảo sát diễn tiến lâm sàng bệnh nhi TCM độ IIb sau 24 giờ và 48 giờ điều trị gammaglobuline tại Bệnh viện Nhi đồng 2 từ tháng 6/2011 đến tháng 12/2012. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết.

Trang 1

 DIỄN TIẾN LÂM SÀNG BỆNH NHI TAY CHÂN MIỆNG ĐỘ IIB   ĐIỀU TRỊ GAMMAGLOBULIN TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 2 

Phạm Ngọc Hồng Hoanh*, Đoàn Thị Ngọc Diệp** 

TÓM TẮT 

Mở đầu: Biến chứng chính dẫn đến tử vong của bệnh tay chân miệng (TCM) ở trẻ em là tổn thương não  thân não cấp tính kết hợp với tình trạng phóng thích các cytokine tiền viêm tại não gây suy hô hấp tuần hoàn.   Mục tiêu: Khảo sát diễn tiến lâm sàng bệnh nhi TCM độ IIb sau 24 giờ và 48 giờ điều trị gammaglobuline 

tại Bệnh viện Nhi đồng 2 từ tháng 6/2011 đến tháng 12/2012. 

Phương pháp nghiên cứu: hồi cứu, mô tả loạt trường hợp 

Kết  quả:  Có  219  bệnh  nhi  TCM  độ  IIb  được  điều  trị  gammaglobulin  trong  thời  gian  nghiên  cứu.  Tuổi 

trung bình 27 ± 14 tháng, lớn nhất 9 tuổi, nhỏ nhất 3 tháng. Tỉ lệ nam:nữ 1,8:1. Thời gian trung bình từ lúc  khởi  bệnh  đến  lúc  được  chỉ  định  gammaglobulin  là  3  ngày.  Đánh  giá  vào  thời  điểm  sau  24  giờ  điều  trị  gammaglobulin, tỉ lệ cải thiện hoàn toàn là 59,8%, cải thiện một phần là 33,8%, không cải thiện là 6,4%. Có 2 

BN tử vong sau 24 giờ điều trị. Đánh giá sau 48 giờ điều trị gammaglobulin, tỉ lệ cải thiện hoàn toàn là 93,6%,  không cải thiện là 6,4%. Tỉ lệ tử vong trong mẫu nghiên cứu là 0,9%. Thời gian từ lúc bắt đầu điều trị đến lúc  cải thiện trung bình là 46 giờ, sớm nhất là sau 24 giờ, trễ nhất là sau 70 giờ. Hai bệnh nhi có tác dụng phụ đỏ da  nơi tiêm truyền thoáng qua (0,9%). Nhóm bệnh nhi có thân nhiệt cao nhất lúc nằm viện < 39,5 0 C có tỉ cải thiện  tốt hơn nhóm có nhiệt độ cao nhất lúc nằm viện ≥ 39,5 0 C. 

Kết luận: Bệnh nhi TCM độ IIb điều trị gammaglobulin có tỉ lệ cải thiện trên lâm sàng sau 48 giờ điều trị 

cao 93,6%, tỉ lệ tử vong thấp 0,9% và tác dụng phụ của thuốc chỉ có 0,9% và không có biến chứng nặng. 

Từ khóa: Gammaglobulin, điều trị bệnh tay chân miệng. 

ABSTRACT 

CLINICAL EVOLUATION OF GRADE IIB HAND FOOT   AND MOUTH DISEASE CHILDREN TREATED WITH GAMMAGLOBULIN  

AT THE CHILDREN HOSPITAL 2 HO CHI MINH CITY – VIET NAM – 2011‐2012 

Pham Ngoc Hong Hoanh, Doan Thi Ngoc Diep  

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 326 ‐ 332 

Backgrounds: The most severe complications of hand foot and mouth disease (HFMD) in children are due 

to acute brainstem encephalitis and secretion of proinflammatory cytokines in the brainstem. That causes severe  cardiorespiratory failure and death. 

Objectives:  Describing  clinincal  evoluation  after  24  and  48  hours  treated  with  intravenous 

gammaglobulin of children with stage IIB HFMD at The Children’s Hospital 2 Ho Chi Minh City Viet nam  from 6/2011 to 12/2012. 

Methods: retrospective, descriptive study of case series. 

Results: 219 patients are included. Mean of age is 27 ± 14 months (maximum of 9 years and minimum of 3 

months).  Sex  ratio  is  male:  female  =  1.8:1.  Average  duration  from  appearition  of  the  first  clinical  sign  until 

* Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới‐ TP. HCM  ** Bộ môn Nhi, ĐH Y Dược TP. Hồ Chí Minh 

Trang 2

indication of gammaglobulin is 3 days. After 24 hours of gammaglobulin intravenous perfusion, complete clinical  improvement  is  59.8%,  partial  improvement  is  33.8%,  no  improvement  is  6.4%.  After  48  hours  of  treatment  with gammaglobulin, complete improvement is 93.6%, no improvement is 6.4%. Mortality was 0.9 % (2/219).  The average of duration to have complete improvement is 46 hours with minimum is 24 hours and maximum is 

70 hours. There are 2 patients having mild side effect with local rashes (0.9 %). Improvement rate of patients with  highest temperature during hospitalisation < 39.5 0 C is significantly higher than other ones 

Conclusion: Children with stage IIB of HFMD treated by gammaglobulin have a high improvement rate 

(93.6%), lower mortality, (0.9%) and side effects are not significant. 

Keywords: Gammaglobulin, Hand, foot and mouth disease treatment  

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Bệnh TCM là một hội chứng phát ban khá 

chuyên  biệt  gây  ra  do  Enterovirus  (EV).  Tác 

nhân gây bệnh trong những trường hợp nặng 

thường gặp nhất là Enterovirus 71 (EV 71). Biến 

chứng chính dẫn đến tử vong của bệnh TCM ở 

trẻ em là do tổn thương viêm thân não cấp và 

suy hô hấp tuần hoàn. Tình trạng phóng thích 

các  cytokine  tiền  viêm  tại  não  gây  kích  hoạt 

dòng  thác  viêm  toàn  thân  dẫn  đến  hội  chứng 

đáp  ứng  viêm  toàn  thân  và  suy  hô  hấp  tuần 

hoàn thứ phát(7). 

Gammaglobulin  là  chế  phẩm  sinh  học, 

gồm các globulin miễn dịch được lấy từ huyết 

thanh  của  3.000  đến  10.000  người  cho  khỏe 

mạnh. Gammaglobulin có thể tạo ra một chuỗi 

đáp ứng miễn dịch và phòng ngừa tổn thương 

tế  bào  do  các  cytokine  viêm.  Gammaglobulin 

có khả năng ức chế các cytokine bằng cách tác 

động thụ thể Fc hoặc kháng thể đối kháng trực 

tiếp các hóa chất trung gian viêm như IL‐1, IL‐

6, IL‐8 và các INF ,  và . 

Việc  phát  hiện  sớm,  xử  lý  theo  giai  đoạn 

bệnh và sử dụng gammaglobuline truyền tĩnh 

mạch  đã  góp  phần  làm  giảm  tỉ  lệ  tử  vong  ở 

Đài  Loan(4).  Bộ  Y  tế  Việt  Nam  cũng  đã  đưa 

gammaglobuline  vào  phác  đồ  điều  trị  từ  năm 

2008.  Tuy  nhiên,  chưa  có  nghiên  cứu  thử 

nghiệm  mù  đôi  nào  đánh  giá  hiệu  quả  của 

gammaglobuline  ở  Việt  Nam  cũng  như  trên 

thế  giới  trong  bệnh  TCM.  Đánh  giá  diễn  tiến 

lâm sàng trên bệnh nhi TCM độ IIB được điều 

trị  với  gammaglobuline  có  thể  cho  thấy  được 

phần  nào  hiệu  quả  của  loại  thuốc  này  trong  điều trị bệnh TCM.  

Mục tiêu nghiên cứu 

Mục tiêu tổng quát 

Khảo  sát  diễn  tiến  lâm  sàng  bệnh  nhi  TCM 

độ  IIb  điều  trị  gammaglobuline  tại  Bệnh  viện  Nhi đồng 2 từ tháng 6/2011 đến tháng 12/2012. 

Mục tiêu chuyên biệt 

1. Xác định tỉ lệ và trung bình các đặc điểm  dịch  tễ,  lâm  sàng,  cận  lâm  sàng  bệnh  nhi  TCM 

độ  IIb  vào  thời  điểm  chỉ  định  điều  trị  gammaglobulin. 

2. Xác định tỉ lệ các đặc điểm  lâm  sàng  sau 

24 giờ và 48 giờ truyền gammaglobulin. 

3.  Xác  định  các  yếu  tố  liên  quan  đến  tình  trạng  cải  thiện  lâm  sàng  với  điều  trị  gammaglobulin. 

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Thiết kế nghiên cứu 

Hồi cứu, mô tả loạt trường hợp. 

Đối tượng nghiên cứu  

Cỡ mẫu  

    P= 0,5   Sai lầm loại I: = 0,05, z1‐  /2 =1,96  

Độ chính xác tuyệt đối: d= 0,07 

Cỡ mẫu ít nhất: 196 trường hợp   Bệnh  nhi  bệnh  TCM  được  chọn  vào  lô 

nghiên cứu nếu thỏa đủ các tiêu chí sau đây:  

2 2

2 / 1

) 1 (

d

p p z

 

Trang 3

‐  Được  chẩn  đoán  bệnh  TCM  độ  IIb  theo 

phác đồ Bộ Y tế vào thời điểm chỉ định điều trị 

gammaglobulin truyền tĩnh mạch, bao gồm  các 

tiêu chí sau đây: 

* Nhóm 1: có 1 trong các dấu hiệu sau. 

Giật mình ghi nhận lúc khám. 

Bệnh sử có giật mình ≥ 2 lần/ 30 phút. 

 Bệnh sử có giật mình, kèm 1 dấu hiệu sau: 

ngủ gà, mạch > 150 lần/ phút khi trẻ nằm yên và 

không sốt. 

 Sốt  cao  khó  hạ  ≥  390C,  không  đáp  ứng  với 

thuốc hạ sốt. 

* Nhóm 2: có 1 trong các biểu hiện sau. 

 Thất  điều  (run  chi,  run  người,  ngồi  không 

vững, đi loạng choạng). 

 Rung giật nhãn cầu, lé. 

 Yếu chi: sức cơ <4/5 hay liệt mềm cấp. 

 Liệt thần kinh sọ: nuốt sặc, thay đổi giọng 

nói,… 

‐  PCR  phết  họng  và/  hoặc  phết  trực  tràng 

dương tính với Enterovirus và/ hoặc Enterovirus 

71. 

 Tiêu chí loại ra 

‐  Có  bệnh  lý  mạn  tính,  bệnh  lý  khác  kèm 

theo 

‐ Đã sử dụng gammaglobulin trước khi nhập 

Bệnh viện Nhi đồng 2. 

‐ Cải thiện hoàn toàn hoặc chuyển độ III, độ 

IV  trước  thời  điểm  24  giờ  sau  chỉ  định 

gammaglobulin. 

Định nghĩa biến số 

Cải thiện hoàn toàn 

Thần  kinh:  không  có  bất  kỳ  biểu  hiện  thần 

kinh  bất  thường,  ngoại  trừ  triệu  chứng  yếu  chi 

và  liệt  thần  kinh  sọ  nếu  có  xuất  hiện  thì  có  thể 

chưa trở về bình thường, và 

Mạch: bình thường theo tuổi, và 

Nhiệt độ < 380C. 

Cải thiện một phần 

bình thường. 

Không cải thiện 

Tất cả triệu chứng bất thường đều chưa trở 

về  bình  thường  hoặc  xuất  hiện  thêm  triệu  chứng mới trong độ IIb, hoặc có triệu chứng ở 

độ nặng hơn. 

Đánh giá diễn tiến sau 24 giờ và sau 48 giờ  điều trị gammaglobulin 

KẾT QUẢ 

Từ tháng 6/2011 đến 12/2012 có 219 bệnh nhi  được chọn vào nghiên cứu.  

Đặc điểm dân số nghiên cứu 

Có 40 trẻ nam (63,9%) và 79 trẻ nữ (36,1%). 

Tỉ lệ nam: nữ là 1,8: 1. Tuổi trung bình 27 tháng  (27  ±  14  tháng),  lớn  tuổi  nhất  là  108  tháng  (9  tuổi), nhỏ nhất là 3 tháng tuổi. Có 106 trẻ (48,4%)  sống  tại  TP.HCM  và  113  trẻ  (51,6%)  được  chuyển  đến  từ  các  tỉnh.  Tỉ  lệ  thành  thị:  nông  thôn là 1,6:1. 

Phân độ  lúc  chỉ  định  gamaglobulin:  Có  117 

bệnh nhi độ IIb nhóm 1 (53,4%) và 102 bệnh nhi 

độ IIb nhóm 2 (46,6%). Thời gian trung bình từ  lúc khởi bệnh đến lúc điều trị gamaglobulin là 3  ngày  (2,8  ±  1  ngày).  Có  73,5%  bệnh  nhi  dùng  gamaglobulin vào ngày 2 và ngày 3 của bệnh. 

Lâm sàng lúc chỉ định gamaglobulin  

Mạch trung bình 148 lần/phút (148 ± 14 lần/  phút). Có 120/219 bệnh nhi (54,8%) có mạch bình  thường,  99  bệnh  nhi  (45,2%)  có  mạch  nhanh  nhưng dưới 170 lần/phút. 

Tất  cả  bệnh  nhi  tại  thời  điểm  chỉ  định  gamaglobulin  có  huyết  áp,  nhịp  thở,  kiểu  thở  bình thường. 

Huyết áp trung bình tại thời điểm T0 là 102  mmHg (102 ± 8 mmHg). 

Nhịp  thở  trung  bình  tại  thời  điểm  T0  là  37  lần/phút (37 ± 8 lần/phút). 

Nhiệt  độ  trung  bình  lúc  chỉ  định  gamaglobulin là 38,80C (38,8 ± 0,80C).  

Tất  cả  bệnh  nhi  đều  có  biểu  hiện  thần  kinh 

Trang 4

Đặc  điểm  cận  lâm  sàng  lúc  chỉ  định 

gamaglobulin 

(13.716  ±  4.449/mm3).  Gía  trị  thấp  nhất  là 

5.900/mm3,  cao  nhất  là  26.700/mm3.  Đường 

huyết  trung  bình  là  103  mg%  (102,8  ±  25mg%). 

Gía  trị  thấp  nhất  là  56  mg%,  cao  nhất  là  219  mg%. 

Ure  và  creatinin:  Tất  cả  bệnh  nhi  có  ure  và  creatinin trong giới hạn bình thường. 

Xquang  phổi:  có  64/219  bệnh  nhi  (29,2%)  được chụp phim phổi và tất cả các phim phổi  đều bình thường. 

Đặc  điểm  lâm  sàng  sau  truyền 

gamaglobulin 24 giờ và 48 giờ 

Có  87  bệnh  nhi  (39,7%)  được  điều  trị  1  liều 

và 132 bệnh nhi (60,3%) được điều trị với 2 liều 

gammaglobulin. 

Diễn tiến điều trị gamaglobulin (n=219) 

Sau  48  giờ  điều  trị  gamaglobulin  mẫu  nghiên cứu còn lại 217 bệnh nhi do có 2 bệnh nhi 

đã tử vong ở thời điểm T37 và T46. 

Bảng 1: Diễn tiến lâm sàng sau 24 giờ và 48 giờ điều trị gammaglobulin 

Diễn tiến

Mạch

P1 < 0,05

Huyết áp

Nhịp thở

Thân nhiệt

Trang 5

*  Kiểu  thở  bất  thường:  thở  co  lõm,  cơn 

ngưng  thở.  P1:  So  sánh  T24  và  T0,  P2:  So  sánh 

T48 và T24. 

2,3%  bệnh  nhi  vẫn  còn  biểu  hiện  thần  kinh 

cũ là do liệt mềm cấp chưa hồi phục. Các bệnh 

nhi  này  không  liệt  hoàn  toàn,  sức  cơ  dao  động 

2/5‐3/5.  Tất  cả  đều  có  diễn  tiến  tốt  và  khi  xuất 

viện  có  cải  thiện  tình  trạng  yếu  chi  với  sức  cơ 

3/5‐4/5. 

Sau  24  giờ  điều  trị  gammaglobulin  có 

131/219  bệnh  nhi  (59,8%)  cải  thiện  hoàn  toàn, 

33,8% bệnh nhi cải thiện một phần, 14 bệnh nhi 

(6,4%)  không  cải  thiện,  trong  đó  có  2  bệnh  nhi 

(0,9%) tử vong. Các bệnh nhi cải thiện một phần 

được tiếp tục liều 2 gammaglobulin và không có 

can thiệp điều trị nào khác. Các bệnh nhi không 

cải  thiện  ngoài  việc  sử  dụng  liều  2 

gammaglobulin  thì  tùy  theo  mức  độ  diễn  tiến 

trên lâm sàng mà có thêm các điều trị khác thích 

hợp  như  dịch  truyền  chống  sốc,  vận  mạch,  thở 

máy, lọc máu. 

Sau  48  giờ  điều  trị  có  205/219  bệnh  nhi 

(93,6%)  cải  thiện  hoàn  toàn  và  14  bệnh  nhi 

không  cải  thiện,  đây  là  các  bệnh  nhi  không  cải 

thiện ở thời điểm sau 24 giờ, bao gồm 2 bệnh nhi 

đã tử vong, 10 bệnh nhi sống không di chứng và 

2 bệnh nhi sống có di chứng yếu liệt chi.  

Thời  gian  từ  lúc  điều  trị  gamaglobulin  đến 

khi  cải  thiện  hoàn  toàn  là  46  giờ  (46  ±  15  giờ), 

sớm  nhất  là  sau  24  giờ,  trễ  nhất  là  sau  70  giờ 

điều trị gamaglobulin. 

Tác dụng phụ của gammaglobulin 

 2 ca đỏ da nơi tiêm truyền (0,9%). 

Tìm các yếu tố có liên quan đến tình trạng cải 

thiện điều trị với gammaglobulin 

Phân  tích  đơn  biến  7  yếu  tố  bao  gồm  thời 

gian  từ  lúc  khởi  bệnh  đến  nhập  viện  ≤  24  giờ, 

nhiệt  độ  cao  nhất  lúc  nằm  viện  <  39,50C,  giới 

tính, tuổi, phân độ lúc chỉ định gammaglobulin, 

bạch cầu máu lúc T0 và đường huyết lúc T0, có 2 

yếu  tố  liên  quan  đến  tình  trạng  cải  thiện  với 

gammaglobulin  là  thời  gian  từ  lúc  khởi  bệnh 

độ  cao  nhất  lúc  nằm  viện  <  39,50C  (2  –  test,  p=0,04). 

Phân  tích  đa  biến  hồi  quy  logistic  cho  thấy  nhiệt độ cao nhất lúc nằm viện < 39,50C là yếu tố  độc lập ảnh hưởng đến tình trạng đáp ứng với  gammaglobulin  (p<0,01).  Bệnh  nhi  có  nhiệt  độ  cao nhất lúc nằm viện < 39,50C có tỉ lệ đáp ứng  với  gammaglobulin  cao  hơn  nhóm  có  nhiệt  độ  cao nhất lúc nằm viện ≥ 39,50C. 

BÀN LUẬN  

Chúng  tôi  chọn  bệnh  nhi  TCM  độ  IIB  để 

đánh  giá  tác  dụng  của  gammaglobulin  là  vì 

điều trị ở giai đoạn này chỉ bao gồm hạ sốt, an  thần và gammaglobulin nên kết quả điều trị sẽ  không bị ảnh hưởng bởi các điều trị phức tạp  khác như vận mạch, dịch truyền, thở máy, lọc  máu  Sinh bệnh học cơ bản của bệnh TCM có  biến  chứng  là  do  vai  trò  của  các  cytokine  gây  viêm  đã  được  nhìn  nhận(7).  Gammaglobuline 

đã được chứng minh là có khả năng ức chế sản  xuất các cytokine trên thực nghiệm nuôi cấy tế  bào  thông  qua  vai  trò  thụ  thể  Fc  hoặc  kháng  thể đối kháng trực tiếp các hóa chất trung gian  viêm như IL‐1, IL‐6, IL‐8 các INF ,  và . Khi  nồng độ các chất trung gian gây viêm giảm thì  các  biểu  hiện  lâm  sàng  về  hô  hấp,  tuần  hoàn,  thân nhiệt cũng sẽ giảm theo. Nhiều tài liệu đã 

đề  cập  về  thời  gian  tác  dụng  của  gammaglobulin  là  24  đến  48  giờ  sau  truyền  tĩnh mạch(8,5). Vì vậy, chúng tôi chọn mốc thời  gian  là  24  giờ  sau  truyền  gammaglobulin  mới  quyết định đánh giá có cải thiện hay không cải 

thiện.  

Nghiên cứu của Shi Quing Zhang (2011) trên 

206 bệnh nhi TCM có biến chứng nặng cũng ghi  nhận,  nhóm  bệnh  nhi  dùng  gammaglobulin  có  thời  gian  hạ  sốt,  sự  biến  mất  các  triệu  chứng  thần  kinh,  thời  gian  nằm  viện  ngắn  hơn  nhóm  dùng manitol, ribavirin một cách có ý nghĩa(10).  

Nghiên cứu của Shih Min Wang và cộng sự  cho thấy nồng độ IFN‐gama, IL‐6, IL‐8, IL‐10 và  IL‐13  trong  huyết  thanh  của  bệnh  nhi  TCM  bị 

Trang 6

tự  động  giảm  đáng  kể  sau  điều  trị 

gammaglobulin.  Từ  đó,  tác  giả  kết  luận  rằng 

gammaglobulin có vai trò trong điều trị TCM có 

biến chứng viêm não thân não(9). 

Gammaglobulin  là  một  chế  phẩm  rất  hiếm 

khi xảy ra tác dụng phụ, thông thường nếu có là 

xảy  ra  ở  người  lớn  tuổi,  có  bệnh  phối  hợp  đi 

kèm. Thế nên nó có rất ít chống chỉ định. Trong 

219  bệnh  nhi  truyền  gammaglobulin,  chỉ  phát 

hiện  2  bệnh  nhi  (0,9%)  có  tác  dụng  phụ  đỏ  da 

nơi tiêm truyền. Chỉ số ure, creatinin trong giới 

hạn  bình  thường  sau  24  giờ  và  48  giờ  dùng 

gammaglobulin.  Điều  này  cho  thấy 

gammaglobulin  không  làm  thay  đổi  chức  năng 

thận.  Tác  giả  Ming‐Fang  Cheng  trong  nghiên 

cứu “đánh giá tác động của gammaglobulin liều 

cao ở những bệnh nhân viêm não do Enterovirus 

71” cũng ghi nhận rằng, gammaglobulin không 

làm ảnh hưởng đến chức năng thận, giảm bạch 

cầu trung tính, giảm tiểu cầu(4). 

Trong  nghiên  cứu  chúng  tôi  các  bệnh  nhi 

đã  dùng  gammaglobulin  đúng  chỉ  định, 

nhưng  vẫn  còn  6,4%  không  cải  thiện  với 

gammaglobulin và 0,9% tử vong do không cải 

thiện với gammaglobulin. Sau khi phân tích đa 

biến  chúng  tôi  ghi  nhận  bệnh  nhi  có  nhiệt  độ 

cao nhất lúc nằm viện < 39,50C có tỉ lệ cải thiện 

với  gammaglobulin  cao  hơn  nhóm  bệnh  nhi 

nhiệt  độ  cao  nhất  lúc  nằm  viện  ≥  39,50C  có  ý 

nghĩa thống kê. 

Theo các tác giả Đài Loan, bệnh TCM không 

biến  chứng  thường  không  sốt  hoặc  sốt  nhẹ, 

những trường hợp sốt cao thường liên quan đến 

biến chứng. Nghiên cứu của Chang và cộng sự 

cũng  ghi  nhận,  sốt  trên  39°C  và  kéo  dài  trên  3 

ngày  có  ý  nghĩa  tiên  lượng  biến  chứng  thần 

kinh. Đây là dấu hiệu cảnh báo phải nhập viện. 

Các  trường  hợp  có  biến  chứng,  trẻ  sốt  cao  liên 

tục và không cải thiện với thuốc hạ sốt có thể là 

do  sau  giai  đoạn  sốt  có  sự  phóng  thích  các 

cytokines  gây  hội  chứng  đáp  ứng  viêm  toàn 

thân. Đồng thời còn có sự rối loạn chức năng của 

trung  tâm  điều  hòa  thân  nhiệt  do  tổn  thương 

thân não, dẫn tới sốt cao hơn và thời gian sốt dài  hơn(3).  Những  bệnh  nhi  sốt  càng  cao  chứng  tỏ  phản ứng viêm rất mạnh, tình trạng ức chế sản  xuất  các  cytokine  của  gammaglobulin  trở  nên  kém hiệu quả làm cho nồng độ các cytokine tăng  cao  gây  nên  các  biến  chứng  nặng  về  hô  hấp,  tuần hoàn. Do đó, thông qua triệu chứng sốt có  thể  tiên  lượng  được  tình  trạng  cải  thiện  với  gammaglobulin. 

Trong nghiên cứu chứng tôi có 2 bệnh nhi  TCM  độ  IV  tử  vong.  Đặc  điểm  chung  của  2  bệnh  nhi  này  là  một  trẻ  nhập  viện  vào  ngày  thứ  nhất  và  1  trẻ  nhập  viện  vào  ngày  3  của  bệnh với biểu hiện thần kinh là giật mình, thất  điều.  Lúc  chỉ  định  gammaglobulin  là  độ  IIb,  sau  24  giờ  điều  trị  gammaglobulin  cả  2  đều  chuyển  độ  nặng  hơn.  Cả  2  BN  đều  có  sốt  cao  lên  đến  420C,  mạch  nhanh,  huyết  áp  cao.  Sau 

đó,  diễn  tiến  tới  sốc  và  tử  vong  mặc  dù  đã  được  điều  trị  tích  cực  bằng  nhiều  biện  pháp  như  thở  máy,  chống  sốc,  vận  mạch,  lọc  máu.Một bệnh nhi tử vong có phù phổi cấp và 

1 bệnh nhi tử vong không có phù phổi. 

Theo  Chang,  phù  phổi  ở  những  bệnh  nhi  TCM là do rối loạn chức năng hệ thần kinh tự  động  do  tổn  thương  thân  não,  cùng  với  sự  phóng  thích  các  cytokine  đã  kích  hoạt  “cơn  bão  giao  cảm”  gây  co  mạch  toàn  thân.  Tình  trạng co mạch này sẽ làm tăng nhịp  tim,  tăng  kháng lực mạch máu hệ thống, gây cao huyết 

áp  thoáng  qua,  giảm  cung  lượng  tim  trái,  gây 

ứ máu ở phổi thụ động và phù phổi thần kinh,  cuối cùng là suy tuần hoàn nhanh chóng, dẫn  đến tử vong(2).  

Theo  Huang,  tử  vong  ở  những  bệnh  nhi 

TCM  nhiễm  Enterovirus  71  do  sốc  cấp  tính,  rối 

loạn chức năng thất trái, không có phù phổi còn  nhanh  hơn  những  bệnh  nhi  tử  vong  do  phù  phổi thần kinh. Sinh bệnh học của rối loạn chức 

năng  thất  trái  do  nhiễm  Enterovirus  71  ác  tính 

vẫn chưa được làm rõ. Tình trạng tăng nồng độ  catecholamine  trong  máu  gây  kháng  lực  mạch  máu, rối loạn chức năng thất trái cấp. Điều trị rối 

Trang 7

loạn  chức  năng  thất  trái  sớm  có  thể  ngăn  tiến 

triển đến phù phổi và sốc(6). 

KẾT LUẬN 

Bệnh  nhi  TCM  độ  IIb  điều  trị 

gammaglobulin  có  tỉ  lệ  cải  thiện  trên  lâm  sàng 

sau 48 giờ điều trị cao 93,6%, tỉ lệ tử vong thấp 

0,9% và tác dụng phụ của thuốc chỉ có 0,9% và 

không có biến chứng nặng.  

Bệnh nhi có nhiệt độ cao nhất lúc nằm viện 

< 39,50C cải thiện với gammaglobulin cao hơn 

bệnh  nhi  có  nhiệt  độ  cao  nhất  lúc  nằm  viện  ≥ 

39,50C. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

trẻ em”. 

edema  with  hand,  foot,  mouth  disease”,  Lancet,  352:  367‐

368 

and Coxsackievirus A16 clinical illness during the Taiwan 

Enterovirus  epidemic,  1998”,  Pediatric  Infectious  Disease 

Journal, 18(12): 1092‐1096 

Reverse‐  Transcription  polymerase  chain  Reaction  and 

Encephalitis”, Lancet, 61: 18‐ 24 

USA. Available from www.cidpusa.org/P/ivig.htm 

with  fulminant  Enterovirus  71  infection”,  Clinical  Infectious Disease, 34: 1020‐1024 

Enterovirus  71  infections  of  the  central  nervous  system”,  Clinical Infectious Disease, 36: 269‐274 

neuropathies”,  Medscape  today  news,  30(4):  365‐372.  Available from www.medscape.com/viewarticle/730670_3  

intravenous  immunoglobin  in  patients  with  Enterovirus  71‐  associated  brainstem  encephalitis”,  Journal  of  Clinical  Virology, 37(1): 47‐52 

immunoglobulin  treatment  of  severe  HFMD  and  analysis 

of efficacy”, China articles. 

 

 Ngày nhận bài báo:       01/11/2013   Ngày phản biện nhận xét bài báo:   05/11/2013   Ngày bài báo được đăng:     05/01/2014 

 

Ngày đăng: 23/01/2020, 01:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w