1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tác dụng kháng ung thư của virut vắc xin sởi và quai bị dùng phối hợp trên chuột thiếu hụt miễn dịch mang khối ung thư đại trực tràng người

7 46 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 495,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết này nghiên cứu với mục đích nhằm đánh giá hiệu quả kháng ung thư của virut vắc xin sởi và quai bị dùng phối hợp trên chuột thiếu hụt miễn dịch mang khối ung thư đại trực tràng (UTĐTT) người.

Trang 1

TÁC DỤNG KHÁNG UNG THƯ CỦA VIRUT VẮC XIN SỞI VÀ

QUAI BỊ DÙNG PHỐI HỢP TRÊN CHUỘT THIẾU HỤT MIỄN DỊCH MANG KHỐI UNG THƯ ĐẠI TRỰC TRÀNG NGƯỜI

Lê Duy Cương*; Hồ Anh Sơn*; Ngô Thu Hằng*; Nguyễn Lĩnh Toàn*

TÓM TẮT

Mục tiêu: đánh giá hiệu quả kháng ung thư của virut vắc xin sởi và quai bị dùng phối hợp

trên chuột thiếu hụt miễn dịch mang khối ung thư đại trực tràng (UTĐTT) người Đối tượng và

phương pháp: virut vắc xin sởi và quai bị (MeV và MuV) được tách dòng từ vắc xin Priorix

(Hãng GlaxoSmithKline, Anh) Chuột nude (Hãng Charles River, Mỹ) 6 - 8 tuần tuổi, chia thành

4 nhóm (10 con/nhóm) được ghép u tế bào HT29 (10 6-7 tế bào/con) dưới da đùi, khi khối u có

kích thước khoảng 20 - 40 mm 3 (sau 7 - 10 ngày ghép), tiến hành tiêm virut vào khối u với liều

107 CFU/con, 2 lần/tuần, trong 3 tuần, nhóm chứng tiêm PBS Kết quả và kết luận: khối u ở

nhóm tiêm virut phát triển chậm và thời gian sống dài hơn có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) so với

nhóm chứng; nhóm tiêm phối hợp virut có kích thước u phát triển chậm và thời gian sống dài

hơn có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) so với nhóm tiêm đơn virut Như vậy, phối hợp vắc xin MeV

và MuV kháng u tế bào HT29 trên chuột nude tốt hơn so với từng loại virut

* Từ khóa: Ung thư đại trực tràng; Vắc xin virut sởi và quai bị; Tác dụng kháng ung thư

Assessing Anti-Cancer Efficacy of Measles and Mumps Virus Vaccine

Combination on Nude Mice Bearing Human Colorectal Cancer Tumors

Summary

Objectives: Evaluation of the anti-cancer effects of measles and mumps virus vaccine

combination on nude mice bearing human colorectal cancer tumor Materials and methods:

Measles and mumps virus vaccine (MeV and MuV) were separated from Priorix vaccine

(GlaxoSmithKline, UK) Nude mice (Charles River, USA), 6 - 8 weeks old, were divided into

injected by PBS Results and conclusions: The tumor size grew slowly and survival time of the

virus-treated groups was significantly long (p < 0.05) versus that of the control group The tumor

size grew slowly and survival time of the virus-treated combination group was significantly long

(p < 0.05) versus that of viral-treated single groups Thus, MeV and MuV combination virotherapy

treated colorectal tumor on nude mice was better than virus-treated single therapy

*Keywords: Colorectal cancer; Measles and mumps virus vaccine; Anti-cancer effect

* Học viện Quân y

Người phản hồi (Corresponding): Nguyễn Lĩnh Toàn (toannl@vmmu.edu.vn)

Ngày nhận bài: 03/01/2018; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 08/02/2018

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư đại trực tràng là một gánh

nặng rất lớn cho sức khỏe cộng đồng

Trên thế giới, đây là loại ung thư phổ biến

thứ ba ở nam giới và thứ hai ở nữ Ở các

nước phương Tây, hàng năm khoảng

917.000 trường hợp mắc UTĐTT, là nguyên

nhân đứng hàng thứ hai gây tử vong do

ung thư [1] Hiện nay, có nhiều phương

pháp điều trị UTĐTT, bao gồm cả các

phương pháp điều trị đích và sản phẩm

thuốc có hoạt tính sinh học như kháng

thể đặc hiệu kháng nguyên… Virotherapy

trị ung thư mới, là phương pháp biến sự

nhân lên của virut thành vũ khí tiêu diệt tế

bào ung thư mà không ảnh hưởng đến

các tế bào lành Có ít nhất 11 loại virut,

bao gồm: adenovirus, vaccinia virut,

coxsackievirut, reovirus, virut sởi (MeV),

virut quai bị (MuV)… đang được nghiên cứu

và thử nghiệm lâm sàng điều trị nhiều loại

ung thư khác nhau Hiện nay, virut Herpes

(T-VEC/Talimogene Laherparepvec) đã

được phê chuẩn điều trị bệnh nhân (BN)

bị ung thư hắc sắc tố tái phát sau điều trị

phẫu thuật ở Mỹ và các nước liên minh

châu Âu [2]

Virut vắc xin sởi và quai bị (MeV và

MuV) thuộc gia đình Paramyxoviridae có

tiềm năng ly giải tế bào u cao Chúng có

nhiều đặc điểm tự nhiên rất thích hợp để

phát triển thành tác nhân điều trị ung thư

như: tính ổn định gen cao, độ an toàn cao

đối với con người [2], kết hợp với tiềm

năng biến đổi gen tạo ra MeV và MuV tái

tổ hợp có các thuộc tính trị liệu ung thư

rất tốt Lợi thế ly giải tế bào u rất lớn

của MeV và MuV là khả năng hình thành

hợp bào, đó là sự hợp nhất tế bào bị nhiễm virut với tế bào lân cận không nhiễm virut, đây là cơ chế tạo cho chúng lây lan mà không cần giải phóng các hạt virut trưởng thành ra ngoài tế bào Sự hợp nhất các tế bào hình thành hợp bào (50 - 100 tế bào) tương quan với tiềm năng ly giải tế bào u của chúng Sự hình thành hợp bào góp phần vào hiệu quả virut gây ly giải tế bào u, làm cho virut nhân lên và hạn chế tiếp xúc với kháng thể trung hòa trong máu vật chủ Hợp bào tiết ra một lượng lớn “syncytiosome”,

đó là các túi giống như exosome biểu hiện kháng nguyên khối u (TAA) cao qua các phân tử MHC Ngoài ra, các tế bào

DC trình diện chéo TAA được tăng cường mạnh bởi glycoprotein hợp màng của MeV

và MuV Một lợi thế nữa của MuV và MeV

là protein HN và N hoạt động như một sialidase, có khả năng loại bỏ dư lượng axít sialic từ bề mặt tế bào khối u làm giảm tăng trưởng tế bào ác tính, kích hoạt các tế bào NK và bài tiết của IFN-γ [4] Tuy nhiên, đến nay chưa có nghiên cứu

in vivo đánh giá hiệu quả phối hợp vắc xin MeV và MuV điều trị UTĐTT người Do đó, chúng tôi tiến hành đề tài này nhằm:

Đánh giá hiệu quả phối hợp virut vắc xin sởi và quai bị kháng khối u tế bào dòng UTĐTT người (HT29) trên chuột nude

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

- Tế bào Vero và HT29: được nuôi cấy trong phòng thí nghiệm với môi trường nuôi cấy DMEM hay RPMI (thêm 10% foetal bovine serum, 1% glutamine và 1% kháng sinh), duy trì tế bào ở tủ ấm 370C, 5% CO2

Trang 3

- Vắc xin MeV và MuV sống, giảm độc

lực: phân lập, tăng sinh MeV và MuV

nguồn gốc từ vắc xin priorix (Hãng

GlaxoSmithKline, Anh), thực hiện tại

Trường Đại học Quốc gia Singapore

- Chuột thiếu hụt miễn dịch (nude mice):

chuột nude 6 - 8 tuần tuổi (Hãng Charles

River, Mỹ) được nuôi trong phòng sạch

2 Phương pháp nghiên cứu

* Chuẩn độ virut (TCID50):

- Nhiễm virut tế bào Vero trên đĩa

96 giếng: gieo tế bào Vero vào các giếng

trên đĩa 96 giếng với nồng độ tế bào

104 tế bào/200 l/giếng, duy trì tế bào trên đĩa 96 giếng ở tủ ấm 370C, 5% CO2

Sau 24 giờ, kiểm tra dưới kính hiển vi thấy tế bào Vero bám đáy tốt Tiến hành nhiễm virut vào các giếng theo hàng A, B,

C, D, E, F, I, tương ứng với nồng độ 10-2 đến 10-8 của stock virut, cột 11 và 12 là nhóm chứng (không nhiễm) Kiểm tra tế bào Vero nhiễm virut ở các giếng trên đĩa

96 giếng hàng ngày dưới kính hiển vi Đến ngày thứ 6 nhiễm virut, các giếng có hình ảnh nhiễm virut rõ, tiến hành nhuộm xanh methylen và tính TCID50 theo công thức:

I: Tính khoảng tỷ lệ (PD):

(% CPE ở nồng độ pha loãng có % CPE > 50%) - (50%) (% CPE ở nồng độ pha loãng có % CPE > 50%) - (% CPE ở nồng độ pha loãng có % CPE < 50%)

II: Tính (-Log) nồng độ pha loãng có % CPE > 50% (10-3 sẽ là 3)

TCID50/ml = 10I+II/ml (CPE: giếng có tế bào nhiễm virut)

Đổi chuẩn độ TCID50 sang CFU: CFU/ml = 0,7 x TCID50/ml

* Tạo khối u trên chuột nude và điều trị:

Tiêm tế bào HT29 (107 tế bào/chuột) vào dưới da đùi chuột nude Sau 7 - 10 ngày tiêm tế bào u, kích thước khối u đạt khoảng 20 - 30 mm3, chuột có khối u được chia ngẫu nhiên thành 4 nhóm (10 con/1 nhóm), 3 nhóm được điều trị bằng tiêm virut nội u lần lượt là MeV + MuV, MuV và MeV, nhóm chứng tiêm bằng dung dịch PBS Liều điều trị là 107 CFU/con, 2 lần/tuần, trong 3 tuần Dùng thước kẹp đo khối u (2 lần/tuần) Thực hiện các bước thí nghiệm trên chuột tuân theo hướng dẫn sử dụng và chăm sóc động vật thí nghiệm

Công thức tính thể tích khối u:

Chiều rộng2 (mm) x chiều dài (mm)

Thể tích khối u (mm3) =

2

Tiêm tế bào HT29 vào

đùi chuột gây u

Đo kích thước khối u ở đùi chuột

Trang 4

* Phương pháp phân tích kết quả:

Dùng các thuật toán thống kê, sử dụng phần mềm STATVIEW và SPSS

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 Kích thước u

n g à y 1 n g à y 4 n g à y 8 n g à y 1 1 n g à y 1 5 n g à y 1 8 n g à y 2 2 n g à y 2 5 n g à y 2 9

0

2 0 0 0

4 0 0 0

6 0 0 0

8 0 0 0

M e V

M u V

C o n t r o l

Thời gian sau điều trị

Kích thước u Thể tích khối u

P<0.05

Kết quả cho thấy tiêm virut đã ngăn chặn khối u phát triển, quan sát thấy rõ từ ngày thứ ba đến ngày thứ 29 sau điều trị Thể tích khối u (mm3) ở các nhóm điều trị virut tăng chậm có ý nghĩa thống kê (p < 0,05) so với nhóm chứng (ở ngày thứ 29: 1.988,7 ± 885,8; 4.790,4 ± 1.924,8; 4.655,4 ± 1.042,1 so với 9.326,7 ± 2.713,4) Thể tích khối u ở nhóm điều trị phối hợp virut tăng chậm hơn nhóm điều trị đơn virut có ý nghĩa thống kê (p < 0,05)

Thể tích khối u của hai nhóm điều trị bằng MeV và MuV khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)

2 Thời gian sống của chuột nude

M e

M u M u M e

c

tr o l 0

2 0

4 0

6 0

p<0.05

Thời gian sống trung bình

MuV+MeV MuV MeV Control

Thời gian sống trung bình (ngày)

Nhóm

Trang 5

Sau thời gian điều trị, thời gian sống

trung bình của chuột nude ở các nhóm

tiêm virut (MeV và MuV) dài hơn có ý nghĩa

thống kê so với nhóm chứng (p < 0,05)

theo dõi) ở các nhóm tiêm virut (100%;

60%; 60%) nhiều hơn có ý nghĩa thống kê

(p < 0,05) so với nhóm chứng (0%) (hình 3b)

Đặc biệt, ở nhóm tiêm phối hợp virut

có thời gian sống trung bình dài hơn và tỷ

lệ chuột còn sống nhiều hơn (sau 43 ngày

theo dõi) có nghĩa thống kê (p < 0,05) so với

nhóm tiêm đơn virut

Thời gian sống và tỷ lệ chuột chết ở

2 nhóm tiêm MeV, MuV khác biệt không

có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)

BÀN LUẬN

Với những tiến bộ của công nghệ sinh

học và hiểu biết về virut ly giải tế bào ung

thư đã thúc đẩy các nhà nghiên cứu

khám phá nhiều loài virut kháng ung thư

có hiệu quả Trong nghiên cứu này, để

đánh giá hiệu quả phối hợp vắc xin virut

MeV và MuV ly giải tế bào UTĐTT người

HT29 in vivo, chúng tôi đã ghép u tế bào

HT29 khu trú dưới da đùi chuột nude, phù

hợp cho liệu pháp điều trị tiêm virut nội u,

gia tăng khả năng virut tiếp xúc và xâm

nhập vào khối u

Số lượng thụ cảm thể được chứng

minh là yếu tố quan trọng quyết định đến

tính lây nhiễm hay hiệu quả lan truyền của

virut vào các tế bào u đích [5] Sử dụng

nhiều loại tế bào biểu hiện từ thấp đến

cao mức thụ thể CD46, đã xác định khả

năng lây nhiễm virut sởi tăng lên theo

số lượng thụ cảm thể Hợp bào ít ở mức

thụ cảm thể biểu hiện thấp và đòi hỏi mức tới hạn thụ cảm thể CD46 để tạo hợp bào lớn hơn, gây tổn thương phá hủy tế bào đáng kể [5] Chúng ta đã biết thụ cảm thể CD46, Nectin-4 của virut sởi và thụ cảm thể MuV-JL của virut quai bị Ngoài ra, axít sialic có nhiều ở tế bào ác tính làm cho chúng lây nhiễm tế bào ung thư có tính chọn lọc cao hơn Tế bào ung thư biểu hiện mức cao CD46, Nectin-4 hay axít sialic nhằm bảo vệ chúng khỏi hoạt động ly giải tế bào qua con đường bổ thể [5] Mức độ phong phú của thụ cảm thể xác định tính đặc hiệu và hiệu quả lây nhiễm của virut vào tế bào u Tính đặc hiệu khối u đối với virut có thể xảy ra ở mức nội bào sau khi virut xâm nhập vào

tế bào, virut có thể tận dụng được các yếu tố khiếm khuyết gen (interferon, kích hoạt Ras, p53, Rb) chỉ có duy nhất ở tế bào khối u, làm cho chúng có tính chọn lọc tế bào khối u và không xảy ra ở các tế bào bình thường [5] Trong khi đó, nhiều tài liệu cho thấy virut ly giải tế bào khối u tận dụng được những khiếm khuyết gen trong tế bào khối u để khuếch đại bộ gen của chúng và tăng biểu hiện bộ gen đó Tuy nhiên, vẫn chưa rõ phạm vi mà MeV

và MuV tận dụng con đường khiếm khuyết gen để ly giải tế bào u như thế nào, cần có nhiều nghiên cứu sâu hơn về vấn

đề này

Nghiên cứu của chúng tôi cũng cho thấy virut MeV và MuV có tác dụng làm chậm phát triển khối u tế bào HT29 trên đùi chuột nude bắt đầu vào ngày thứ ba

sau khi tiêm virut (hình 2) Khả năng virut

lây lan tạo ra hoạt động kháng u là do virut nhân lên trong tế bào đích và “bắt kịp” với

Trang 6

quá trình tăng sinh tế bào u, hầu hết các

khối u được điều trị bằng MeV và MuV

cho thấy giảm và không phát triển kích

thước Kết quả của chúng tôi phù hợp với

những nghiên cứu khác sử dụng vắc xin

virut sởi và quai bị sống giảm độc lực

điều trị ung thư [6, 7] Bên cạch đó, việc

phân chia liều lượng, với liều 107 PFU

virut và liệu trình điều trị như vậy là cần

thiết để tăng khả năng ly giải tế bào khối

u của virut [6, 7] Chúng tôi cũng thấy

tiêm nội u tạo ra lây nhiễm sớm virut vào

các tế bào khối u và lây lan virut có giới

hạn trong khối u đã làm tăng khả năng ly

giải tế bào khối u Tiêm virut nội u nhiều

lần hiệu quả hơn so với tiêm tổng liều duy

nhất [6, 7] Kết quả này rất có giá trị định

hướng phương pháp phối hợp MeV và

MuV tiêm nội u điều trị ung thư cho các

nghiên cứu trong tương lai

Điểm nổi bật của nghiên cứu này là

việc phối hợp hai vắc xin MeV và MuV

điều trị khối u tế bào HT29 trên chuột

nude rất có hiệu quả MeV và MuV sống,

giảm độc lực đã cộng hưởng cơ chế hoạt

động kháng ung thư Nhiều nghiên cứu

trước đây đã chứng minh hoạt tính của virut

quai bị (chủng Urabe) trên hơn 290 BN bị

các khối u ác tính khác nhau BN được

điều trị với nồng độ lên đến 108-9 PFU virut

theo các đường tiêm khác nhau (nội u,

trong phúc mạc hoặc tiêm tĩnh mạch) [8]

Một nghiên cứu khác về MuV với kết quả

lâm sàng rất ít độc tính, khối u đáp ứng

điều trị từng phần hoặc thoái lui toàn bộ

ở 37/90 BN [9] và cổ trướng mất đi ở

26/37 BN Mặc dù dữ liệu lâm sàng rất

đáng khích lệ, nhưng các nhà nghiên cứu

vẫn chưa thực hiện thử nghiệm lâm sàng

MuV ly giải tế bào u rộng rãi Có thể do lo

ngại về độ an toàn khi sử dụng Chủng Urabe của MuV gây ra các biến chứng trên hệ thần kinh trung ương với tần suất lên đến 1% tiêm chủng vắc xin, tiêm trong não khỉ đuôi sóc gây viêm não và viêm màng não [10] Nghiên cứu của chúng tôi

sử dụng 107 PFU virut vắc xin quai bị hoặc sởi để điều trị khối u ở chuột nude, liều này cao gấp 103 lần so với liều thông thường (103-4 PFU) được sử dụng để tiêm chủng Chúng ta đã có rất nhiều kinh nghiệm sử dụng vắc xin đơn hoặc phối hợp trong chương trình chủng ngừa bệnh sởi, Rubella… với hồ sơ an toàn của hai loại vắc xin này trên hàng triệu trẻ em Tuy nhiên, cần có đánh giá tác dụng phụ

và độc tính của những virut này khi dùng liều cao điều trị ung thư

KẾT LUẬN

Kết quả của chúng tôi đã chứng minh dùng phối hợp virut vắc xin MeV và MuV rất có hiệu quả kháng khối u tế bào đại tràng HT29 trên chuột nude Khối u phát triển chậm, thời gian sống của chuột mang khối u ở nhóm tiêm phối hợp virut dài hơn đáng kể so với nhóm tiêm đơn virut

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Mathers C, Boschi-Pinto C Global

burden of cancer in the year 2000: Version 1 estimates Geneva: World Health Organization

2006

2 FDA FDA approves first-of-its-kind

product for the treatment of melanoma 2015

3 Fielding A.K Measles as a potential

oncolytic virus Rev Med Virol 2005,15 (2), pp.135-142

Trang 7

4 Cohen M, Elkabets M, Perlmutter M,

Porgador A, Voronov E, Apte R.N et al

Sialylation of 3methylcholanthrene-induced

fibrosarcoma determines antitumor immune

responses during immunoediting J Immunol

2010, 185, pp.5869-5878 [PubMed: 20956342]

5 Olga V Matveeva, Zong S Guo,

Svetlana A Shabalina, Peter M Chumakov

Oncolysis by paramyxovirutes: Multiple

mechanisms contribute to therapeutic efficiency

Mol Ther Oncolytics 2015

6 Rae Myers et al Oncolytic activities of

approved mumps and measles vaccines for

therapy of ovarian cancer Cancer Gene

Therapy 2005, 12, pp.593-599

7 Arun Ammayappan, Stephen J Russell, Mark J Federspiel Recombinant mumps virut

as a cancer therapeutic agent Molecular Therapy - Oncolytics 2016, 3, p.16019

8 Shimizu Y, Hasumi K, Okudaira Y et al

Immunotherapy of advanced gynecologic cancer patients utilizing mumps virut Cancer Detect Prev 1988, 12, pp.487-495

9 Asada T Treatment of human cancer

with mumps virut Cancer 1974, 34,

pp.1907-1928

10 Saika S, Kidokoro M, Aoki A et al

Neurovirulence of mumps virut: Intraspinal inoculation test in marmosets Biologicals

2004, 32, pp.147-152

Ngày đăng: 23/01/2020, 01:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w