1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Kết quả nội soi tạo hình bể thận niệu quản bằng đường qua phúc mạc so với đường sau phúc mạc ở bệnh nhân hẹp phần nối bể thận - niệu quản

3 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 345,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu nhằm so sánh kết quả nội soi tạo hình bể thận niệu bằng đường qua phúc mạc và đường sau phúc mạc ở bệnh nhân hẹp phần nối bể thận niệu quản tại bệnh viện nhi Trung Ương từ tháng 09/2007-04/2011. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết.

Trang 1

Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 3 * 2011 Nghiên cứu Y học

KẾT QUẢ NỘI SOI TẠO HÌNH BỂ THẬN NIỆU QUẢN

BẰNG ĐƯỜNG QUA PHÚC MẠC SO VỚI ĐƯỜNG SAU PHÚC MẠC

Ở BỆNH NHÂN HẸP PHẦN NỐI BỂ THẬN- NIỆU QUẢN

Nguyễn Duy Việt*, Nguyễn Thanh Liêm*, Lê Anh Dũng*

TÓM TẮT

Mục tiêu: So sánh kết quả nội soi tạo hình bể thận niệu bằng đường qua phúc mạc và đường sau phúc mạc

ở bệnh nhân hẹp phần nối bể thận niệu quản tại bệnh viện nhi Trung Ương từ tháng 09/2007 – 04/2011

Đối tượng phương pháp nghiên cứu: Tiến hành nghiên cứu mô tả 38 trường hợp được chẩn đoán là thận

ứ nước do hẹp phần nối bể thận niệu quản, được chia thành 2 nhóm Nhóm nội soi tạo hình bể thận niệu quản qua đường phúc mạc, gồm 17 bệnh nhân và nhóm nội soi tạo hình bể thận niệu quản đường sau phúc mạc, gồm

21 bệnh nhân

Kết quả: Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm về thời gian mổ (p = 0,04); thời gian mổ

trung bình của nhóm nội soi đường qua phúc mạc là 142 phút (từ 115 – 180 phút); đường sau phúc mạc là

112 phút (từ 80 – 180 phút) Phân bố tuổi của 2 nhóm không có khác biệt, tuổi trung bình của nhóm nội soi qua phúc mạc là 7,7 tuổi (từ 6 – 11 tuổi); nhóm nội soi đường sau phúc mạc là 7,6 tuổi (từ 4 – 15 tuổi) Thời gian nằm viện không thấy khác biệt, thời gian nằm viện của nhóm nội soi qua đường phúc mạc là 3,5 ngày (từ 2 – 5 ngày) trong khi đó nhóm nội soi đường sau phúc mạc là 2,9 ngày (từ 2 – 5 ngày) Nhóm nội

soi qua mạc có 2 trường hợp chuyển mổ mở

Kết luận: Kết quả nghiên cứu cho thấy thời gian mổ của nhóm phẫu thuật sau phúc mạc ngắn hơn nhóm

phẫu thuật qua phúc mạc (p = 0,04), thời gian nằm viện ngắn hơn và nguy cơ làm tổn thương tạng trong khi phẫu thuật thấp hơn

Từ khóa: Tạo hình bể thận niệu quản, nội soi qua phúc mạc, nội soi sau phúc mạc

ABSTRACT

OUTCOMES OF TRANSPERITONEAL LAPAROSCOPIC VERSUS RETROPERITONEOSCOPIC

PYELOPLASTY FOR URETEROPELVIC JUNCTION SYNDROME IN CHILDREN

Nguyen Duy Viet, Nguyen Thanh Liem, Le Anh Dung

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 3 - 2011: 135 - 137

Objective: To compare the outcomes of laparoscopic versus retroperitoneoscopic pyeloplasty for ureteropelvic junction syndrome in children in National Children’s Hospital from 09/2007 to 04 /2011

Methods: This descriptive study of medical records of 38 patients with ureteropelvic junction syndrome,

underwent transperitoneal laparoscopic pyeloplasty or retroperitoneoscopic pyeloplasty Group I consisted of 17 patients underwent laparoscopic pyeloplasty and group II consisted of 21 patients underwent

retroperitoneoscopic pyeloplasty

Results: Mean operative time for retroperitoneoscpoic pyeloplasty was significantly shorter than

laparoscopic pyeloplasty (112 versus 142, p = 0.04) No difference was observed between the 2 group in patient age and hospital stay, mean age of laparoscopic approach was 7.7 years (range 6 – 11 years) and mean age of retroperitoneoscpoic approach was 7.6 years (range 4 – 15 years) Mean hospital stay was 3.5 days (range 2 – 5

* Bệnh viện Nhi Trung Ương

Tác giả liên lạc: BS Nguyễn Duy Việt, ĐT: 0904999427, Email: vietnhi10@yahoo.com.vn

Trang 2

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 3 * 2011

Chuyên Đề Ngoại Nhi 136

days) in group I and group II was 2.9 days (range 2 – 5 days) Transperitoneal group had 2 cases, were required

to conversion to open surgery

Conclusions: The study showed that mean operative time of retroperitoneoscpoic pyeloplasty was

significantly shorter than transperitoneal laparoscopic pyeloplasy (p=0.04), hospital stay was shorter and lower risks of organs trauma during operation

Key words: Pyeloplasty, transperitoneal laparoscopy, retroperitoneoscopy

ĐẶT VẤN ĐỀ

Phẫu thuật nội soi tạo hình bể thận niệu

quản điều trị những trường hợp thận ứ nước

do hẹp phần nối bể thận – niệu quản đã được

tiển hành và phát triển từ đầu năm 1990 và cho

tới ngày nay nó nhanh chóng được chấp nhận

một như một kỹ thuật để điều trị thận ứ nước

do hẹp phần nối bể thận – niệu quản(4) Năm

1993 tác giả Schuessler và cộng sự lần đầu tiên

tiến hành nội tạo hình phần nối bể thận – niệu

quản bằng đường qua phúc mạc cho 5 trường

hợp(5) Năm 1996 tác giả Janetschek và cộng sự

thông báo đầu tiên tiến hành nội soi tạo hình

phần nối bể thận- niệu quản bằng đường ngoài

phúc mạc cho 16 trường hợp(3) Và từ những

kết quả ban đầu được thông báo, đến nay đã

có nhiều tác giả tiến hành nội soi tạo hình bể

thận – niệu quản bằng đường qua phúc mạc và

đường ngoài phúc mạc Tuy nhiên còn ít

những nghiên cứu so sánh kết quả của 2 kỹ

thuật này bởi vậy chúng tôi tiến hành so sánh

kết quả nội soi tạo hình bể thận niệu quản

bằng đường qua phúc mạc và đường ngoài

phúc mạc

Mục tiêu nghiên cứu

So sánh kết quả nội soi tạo hình bể thận niệu

bằng đường qua phúc mạc và đường sau phúc

mạc ở bệnh nhân hẹp phần nối bể thận niệu

quản tại Bệnh viện nhi Trung Ương từ tháng

09/2007 – 04/2011

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Những bệnh nhân được chẩn đoán thận ứ

nước do hẹp phần nối bể thận – niệu quản và

được phẫu thuật nội soi bằng đường qua phúc

mạc và đường sau phúc mạc từ 09/2007 đến

04/2011

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả

Tất cả các trường hợp được soi bàng quang

và đặt sonde JJ vào bể thận - niệu quản bên bị hẹp ngay trước khi phẫu thuật

Phẫu thuật, chúng tôi sử dụng kỹ thuật nội soi tạo hình bể thân – niệu quản bằng đường qua phúc mạc và đường ngoài phúc mạc như đã

mô tả trong y văn Ở giai đoạn đầu chúng tôi tiến hành phẫu thuật bằng đường qua phúc mạc cho 17 trường hợp sau đó chúng tôi chuyển sang phẫu thuật bằng đường ngoài phúc mạc cho 21 trường hợp

Phân tích thống kê: T – tests, với p < 0,05 là

có ý nghĩa thống kê

KẾT QUẢ

Có 38 bệnh nhân được phẫu thuật bao gồm

8 nữ và 30 nam Có 17 bệnh nhân được phẫu thuật tạo hình bể thận – niệu quản bằng đường phúc mạc và 21 trường hợp được phẫu thuật qua đường nội soi ngoài phúc mạc Tuổi trung bình của nhóm phẫu thuật qua đường phúc mạc

là 7,7 tuổi (từ 6 - 11 tuổi) và của nhóm phẫu thuật đường ngoài phúc mạc là 7,6 tuổi (từ 4 –

15 tuổi), không có sự khác biệt có ý nghĩa thống

kê (với p = 0,88) Thời gian mổ trung bình của nhóm phẫu thuật qua đường phúc mạc là 142 phút (từ 115 – 180 phút); đường sau phúc mạc

là 112 phút (từ 80 – 180 phút), có sự khác biệt

có ý nghĩa thông kê (với p = 0,04) Thời gian nằm viện trung bình của nhóm phẫu thuật qua đường phúc mạc là 3,5 ngày (từ 2 – 5 ngày), nhóm phẫu thuật đường sau phúc mạc là 2,9 ngày (từ 2 – 5 ngày), không có sự khác biệt có

ý nghĩa thống kê (p = 0,33) Nhóm phẫu thuật qua đường phúc mạc có 2 trường hợp chuyển

Trang 3

Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 15 * Phụ bản của Số 3 * 2011 Nghiên cứu Y học

mổ mở, tỷ lệ phẫu thuật nội soi thành công của

nhóm này là 15/17 (0,88%), trong đó có 1

trường hợp vì không đặt được sonde JJ và 1

trường hợp do đoạn hẹp dài nên chúng tôi

không thể tiến hành làm miệng nối bằng nội

soi được Ở nhóm phẫu thuật ngoài phúc mạc

không có trường hợp nào phải chuyển mổ mở,

tỷ lệ thành công là 100%

BÀN LUẬN

Phẫu thuật nội soi trở thành một lựa chọn

cho tạo hình bể thận – niệu quản, phục hồi sau

mổ nhanh và giảm tỷ lệ biến chứng Nội soi

ngoài phúc mạc có những lợi ích như: Không

phải phẫu tích đại tràng và giảm nguy cơ tổn

thương các tạng trong mổ hoặc sau đó hình

thành sự dính sau mổ ở trong ổ bụng; không

có nguy cơ thoát nước tiểu vào ổ bụng trong

mổ Bên cạnh đó nội sau phúc mạc cho phẫu

thuật viên can thiệp trực tiếp phần nối bể thận

– niệu quản(1,2)

Trong nghiên cứu của chúng tôi, giai đoạn

đầu chúng tôi nội soi tạo hình bể thận niệu quản

bằng đường qua phúc mạc; sau đó chúng tôi

phẫu thuật đường ngoài phúc mạc Chúng tôi

tiến hành so sánh một số tham số của 2 phương

pháp Nhóm phẫu thuật đường qua phúc mạc

có 2 trường hợp phải chuyển mổ mở, nguyên

nhân là do 1 trường hợp không đặt được sonde

JJ và trường hợp thứ 2 là do đoạn hẹp dài nên

không thể tiến hành tạo miếng nối bằng nội soi

Nhóm ngoài phúc mạc không có trường hợp

nào phải chuyển mổ mở

Thời gian mổ trung bình ở 2 nhóm có khác biệt có ý nghĩa thống kê, nhóm ngoài phúc mạc

có thời gian mổ trung bình là 112 phút ngắn hơn nhóm phẫu thuật qua phúc mạc với thời gian

mổ là 142 phút, chúng tôi nhận thấy nội soi ngoài phúc mạc có thể tiếp cận trực tiếp phần nối bể thận niệu quản, không phải phẫu tích đại tràng và do đó đây cũng có thể là một yếu tố giảm thời gian phẫu thuật

Tuổi phẫu thuật trung bình và thời gian nằm viện của 2 nhóm không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê

KẾT LUẬN

Kết quả nghiên cứu cho thấy thời gian mổ của nhóm phẫu thuật sau phúc mạc ngắn hơn nhóm phẫu thuật qua phúc mạc (p = 0,04), thời gian nằm viện ngắn hơn và nguy cơ làm tổn thương tạng trong khi phẫu thuật thấp hơn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Laparoscopic pyeloplasty: comparison between retroperitoneoscopic and transperitoneal approach Urology.;76:877-81

Retroperitoneal access for transperitoneal laparoscopy in patients at high risk for intra-abdominal scarring J Endourol, 13: 567-570

and retroperitoneoscopic repair of ureteropelvic junction obstruction Urology, 47: 311-316

dismembered pyeloplasty for ureteropelvic junction obstruction: Experience with 142 cases in hight-volume center J Endourology, 9: 1431-1434

Laparoscopic dismembered pyeloplasty J Urol, 150:

1795-1799

Ngày đăng: 23/01/2020, 00:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w