1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hiệu quả của việc sử dụng phương pháp săn sóc răng miệng bằng bàn chải trong phòng ngừa viêm phổi bệnh viện trên bệnh nhân chấn thương sọ não

9 110 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 452,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu và mục tiêu của đề tài trình bày về: Săn sóc răng miệng (SSRM) là một trong những biện pháp quan trọng để ngăn ngừa viêm phổi bệnh viện (VPBV). Mục tiêu nghiên cứu nhằm so sánh hiệu quả giữa kỹ thuật SSRM bằng gạc với kỹ thuật SSRM bằng bàn chải trong việc phòng ngừa VPBV trên người bệnh chấn thương sọ não.

Trang 1

HIỆU QUẢ CỦA VIỆC SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP SĂN SÓC RĂNG MIỆNG BẰNG BÀN CHẢI TRONG PHÒNG NGỪA VIÊM PHỔI BỆNH VIỆN

TRÊN BỆNH NHÂN CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO

Nguyễn Thị Ngọc Huệ*, Lê Thị Anh Thư**

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Săn sóc răng miệng (SSRM) là một trong những biện pháp quan trọng để ngăn ngừa viêm phổi bệnh viện (VPBV) Mục tiêu nghiên cứu nhằm so sánh hiệu quả giữa kỹ thuật SSRM bằng gạc với kỹ thuật

SSRM bằng bàn chải trong việc phòng ngừa VPBV trên ng ời bệnh chấn th ơng sọ não

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu so sánh ngẫu nhiên giữa hai nhóm SSRM bằng bàn chải và SSRM

bằng gòn gạc trên bệnh nhân chấn th ơng sọ não có đặt nội khí quản tại bệnh viện Chợ Rẫy

Kết quả: Tổng số 310 bệnh nhân vào nghiên cứu (155 đ ợc SSRM bằng bàn chải và 155 SSRM bằng gòn

gạc) Tỉ lệ VPBV ở nhóm SSRM bằng gạc 9% (14/ 155 ng ời bệnh) giảm xuống còn 2,6% (4/155 ng ời bệnh) ở nhóm SSRM bằng bàn chải (P = 0,015)

Kết luận: Với cơ chế loại bỏ mảng bám răng và kích thích lợi và n ớu răng hơn là gạc, SSRM bằng bàn chải

đánh răng có hiệu quả hơn bằng gòn gạc Ph ơng pháp SSRM do đó là quy trình cần thiết cho bệnh nhân trong giai đoạn hồi sức cấp cứu, là ph ơng pháp cần thay thế cho ph ơng pháp SSRM bằng gạc ngày một lần đang

đ ợc áp dụng

Từ khóa: Viêm phổi bệnh viện, chăm sóc răng miệng

ABSTRACT

EFFECTIVENESS OF ORAL CARE BY TOOTH BRUSH IN PREVENTING HEALTHCARE-

ASSOCIATED PNEUMONIA IN PATIENTS WITH HEAD TRAUMA

Nguyen Thi Ngoc Hue, Le Thi Anh Thu

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 4 - 2011: 600 - 608

Introduction: Oral care is one of important methods to prevent nosocomial pneumonia The aim of the study is to compare the effectiveness of oral care by toothbrush with oral care by cleasing swap in preventing nosocomial pneumonia in head truma patients with endotracheotomy

Methods: Randomized controlled trial (RCT) was conducted between two groups of patients: oral care by

toothbrush and by swap

Results: 310 patients was admitted to the study: 155 patients cared by toothbrush and 155 cared by swap

The incidence of nosocomial pneumonia was 9% (14/155 patients) in oral care by cleansing swab group reduced significant to 2.6% (4/155 patients) in oral care by tooth brush (P = 0.015)

Conclusions: Oral care by tooth brush was more effective than swabs in plaque removal and gingival

stimulation in reducing nosocomial pneumonia Oral care by tooth brush therefore is essential for Neuro ICU patients during their stay in the Neuro ICU and should be a replacement for the once a day current oral care using swabs

* Khoa Hồi Sức Ngoại thần kinh, BV Chợ Rẫy

** Trưởng khoa Kiểm soát Nhiễm Khuẩn, BV Chợ Rẫy

Tác giả liên lạc: ĐD Nguyễn Thị Ngọc Huệ, ĐT: 0909817080, Email: huenguyenmaster2008@yahoo.com

Trang 2

Key words: Nosocomial pneumonia, oral care

ĐẶT VẤN ĐỀ

Viêm phổi bệnh viện (VPBV) hiện đang là

vấn đề được đặc biệt quan tâm vì nó làm gia

tăng mức độ nặng của bệnh tật, kéo dài thời gian

nằm viện, tăng chi phí điều trị, tăng tỷ lệ tử

vong(6) Ở Châu Âu, VPBV chiếm khoảng 46,9%

trong các nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) tại các

khoa Hồi Sức(5), và theo hệ thống giám sát nhiễm

khuẩn bệnh viện Hoa Kỳ (NNIS), VPBV khoảng

31% trong các NKBV(12) Tỷ lệ tử vong VPBV

chiếm tỷ lệ từ 54% đến 71% và tác nhân thường

do vi khuẩn Pseudomonas hoặc Acinetobacter(3,6)

Ngoài ra, VPBV ảnh hưởng làm tăng thời gian

nằm viện từ 5 – 7 ngày, tăng chi phí điều trị lên

từ 5,800 đến 40 000 USD cho một trường hợp(3)

Tại Việt Nam, kết quả điều tra toàn quốc

năm 2005 trên 19 bệnh viện toàn quốc cho thấy

VPBV chiếm tỉ lệ cao nhất trong số các NKBV

khác: 55,4% trong tổng số các NKBV (BYT,

2005) Theo 24 nghiên cứu ở các bệnh viện trong

toàn quốc, tỉ lệ VPBV dao động từ 21-75% trong

tổng số các NKBV Tỉ lệ viêm phổi liên quan đến

thở máy đặc biệt cao trong nhóm bệnh nhân

nằm tại khoa Hồi sức cấp cứu (HSCC)

(43-63,5/1000MT-ngày)(7,10,15) Nghiên cứu tại BV Chợ

Rẫy và BV Bạch Mai cho thấy VPBV là nguyên

nhân gây tử vong hàng đầu trong số các loại

NKBV (30-70%), kéo dài thời gian nằm viện

thêm 6-13 ngày, và tăng viện phí từ 15 đến 23

triệu đồng cho một trường hợp(8,9)

Có nhiều nghiên cứu cũng như các biện

pháp ngăn ngừa VPBV Săn sóc răng miệng

(SSRM) cũng là một trong những biện pháp

ngăn ngừa VPBV, với mục đích làm sạch các

dịch tiết ứ đọng vùng hầu họng, ngăn chặn các

nguy cơ nhiễm khuẩn đường hô hấp trên dẫn

đến VPBV Nghiên cứu điều dưỡng tại Trường

Đại Học Điều dưỡng Tel Aviv (Israel) chứng

minh rằng chỉ cần đánh răng cho BN, kể cả các

BN mất tri giác, mỗi ngày 3 lần, số người bị viêm

phổi đã giảm một nữa (1,4) Nghiên cứu khác

chứng minh rằng SSRM bao gồm đánh răng kết

hợp cho bệnh nhân nằm đầu cao 300, xoay trở,

có thể giảm thiểu và ngăn chặn viêm phổi bệnh viện do thở máy từ 4,3% đến 0%(2,13)

Khoa Hồi Sức Ngoại Thần Kinh (HSNTK) Bệnh viện Chợ Rẫy (BVCR) lượng bệnh nhân ngày càng nhiều (3000 BN năm 2008) là nơi điều trị và chăm sóc các BN trong tình trạng cấp cứu, chấn thương sọ não nặng, hôn mê (Glasgow coma score < 9), sau phẫu thuật u não, các chấn thương sọ não như: máu tụ dưới màng cứng, máu tụ ngoài màng cứng… Các bệnh nhân ở đây hoàn toàn phụ thuộc vào sự chăm sóc của Bác sỹ và Điều Dưỡng, với nhiều can thiệp xâm lấn trên người bệnh như: đặt nội khí quản, thở oxygen, thở máy, hút đàm, được nuôi ăn qua ống thông dạ dày, sẽ tạo điều kiện dễ dàng cho

vi khuẩn xâm nhập vùng hầu họng và phát triển nhanh chóng do vệ sinh răng miệng kém Qua khảo sát 186 bệnh nhân điều trị tại khoa HSNTK của bệnh viện Chợ Rẫy, mặc dù đã dùng các biện pháp can thiệp như rửa tay nhanh tại giường, huấn luyện nhân viên mang găng, xử lý tốt các y dụng cụ đường hô hấp, SSRM bằng gạc mỗi 8 giờ, tỷ lệ VPBV là 22% (Khoa chống nhiễm khuẩn BVCR tháng 04/2003)

Tại Việt Nam, gần đây chưa ghi nhận đề tài nghiên cứu nào về SSRM làm giảm viêm phổi bệnh viện được công bố Vì vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện xây dựng quy trình chuẩn hóa SSRM tại khoa và nghiên cứu SSRM bằng bàn chải trên BN có đặt NKQ, có thông khí hổ trợ với mục đích nhằm giảm tỷ lệ VPBV tại khoa Hồi Sức Ngoại Thần kinh bệnh viện Chợ Rẫy

Mục tiêu của nghiên cứu

So sánh hiệu quả giữa kỹ thuật SSRM bằng gạc với kỹ thuật SSRM bằng bàn chải trong việc phòng ngừa viêm phổi bệnh viện trên người bệnh chấn thương sọ não có đặt nội khí quản tại khoa Hồi Sức Ngoại Thần kinh Bệnh viện Chợ Rẫy

Các mục tiêu chuyên biệt bao gồm

1 Xác định tỷ lệ VPBV và các yếu tố nguy cơ viêm phổi trong nhóm bệnh nhân săn sóc răng

Trang 3

miệng bằng gạc

2 Xác định tỷ lệ VPBV và các yếu tố nguy cơ

viêm phổi trong nhóm bệnh nhân săn sóc răng

miệng bằng bàn chải

3 Xây dựng quy trình SSRM được chuẩn

hóa tại khoa Hồi sức Ngoại thần kinh

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu so sánh ngẫu nhiên mở giữa hai

nhóm SSRM khác nhau

Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân cả hai giới, từ 18- 65 tuổi, chấn

thương sọ não nặng, Glasglow 4 đến 8 điểm có

đặt nội khí quản (thở máy hoặc không thở máy)

nhập khoa Hồi Sức ngoại thần kinh bệnh viện

Chợ Rẫy từ tháng 3/2010 đến tháng 6/2010 Loại

trừ các trường hợp đã được chẩn đoán viêm

phổi trước khi vào khoa HSNTK, bệnh nhân đa

thương, có mở khí quản, bệnh nhân lưu ở khoa

Hồi sức Ngoại thần kinh dưới 48 giờ hoặc tiên

lượng sẽ tử vong trong vòng 48 giờ

Mô tả kỹ thuật SSRM bằng bàn chải

Sử dụng bàn chải làm sạch răng miệng, thực

hiện 2 lần trong ngày lúc 8 giờ sáng và 20 giờ tối

+ Rửa tay và mang găng sạch

+ Đánh giá tình trạng răng miệng

+ Cho BN nằm nghiêng về phía ĐD, choàng

khăn qua cổ BN

+ Kiểm tra áp lực bóng chèn, âm phế bào hai

bên phổi, vị trí ống NKQ

+ Chải răng, nướu răng, lưỡi nhẹ nhàng với

bàn chải Nếu BN không có răng, vẫn phải làm

sạch nướu răng và lưỡi một cách nhẹ nhàng với

bàn chải Nếu BN có đặt airway (tube mayo), lấy

ra rửa sạch hoặc thay ống khác sau khi hoàn tất

kỹ thuật SSRM

+ Dùng ống tiêm 10ml hoặc 20ml bơm nước

vào khóe miệng phía trên, đặt ống hút vào khóe

miệng phía dưới để hút hết nước

+ Kiểm tra lại âm phế bào hai bên phổi, cố

định ống NKQ đúng vị trí

+ Dùng khăn khô lau miệng

+ Thoa chất trơn lên môi nếu môi khô

+ Cho BN nằm lại tiện nghi

+ Dọn dẹp dụng cụ, rửa tay

+ Ghi hồ sơ

Phương pháp thu thập dữ kiện

BN được chọn vào một trong hai nhóm theo phương pháp bốc thăm ngẫu nhiên đã được chuẩn bị sẳn trong phong bì dán kín Phong bì

đã ghi sẵn phương pháp SSRM: bằng gạc hoặc bằng bàn chải

- Sử dụng phiếu điều tra, đánh giá bệnh theo tiêu chuẩn của trung tâm kiểm soát bệnh tật Hoa

Kỳ (CDC) (Phụ lục 3)

- Dữ kiện được thu thập qua khám lâm sàng, xem hồ sơ bệnh án và ghi lại trong một mẫu điều tra Các dữ kiện bao gồm: đặc điểm bệnh nhân, thông tin lâm sàng, các can thiệp trên bệnh nhân, kháng sinh sử dụng, kháng sinh đồ Đánh giá VPBV theo định nghĩa của CDC

Phân tích thống kê

Số liệu được phân tích bằng phần mềm SPSS 13.0 Các biến định tính được trình bày dưới dạng tỉ lệ, phần trăm Các biến số định lượng có phân phối chuẩn được trình bày dưới dạng trung bình ± độ lệch chuẩn Kiểm định mối tương quan giữa các biến định tính bằng phép kiểm Chi bình phương (có hiệu chỉnh theo Exact’s Fisher) Phân tích đa biến các yếu tố nguy cơ bằng phương pháp hồi quy tuyến tính Mọi sự khác biệt được xem là có ý nghĩa thống

kê khi p < 0,05; với khoảng tin cậy 95%

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tổng số bệnh nhân tham gia vào nghiên cứu

là 310 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn nghiên cứu và được theo dõi chăm sóc đầy đủ trong khoảng thời gian từ 01/03/2010 đến 18/06/2010 Bệnh nhân được chia ngẫu nhiên thành 2 nhóm: Nhóm chứng (nhóm được SSRM bằng gạc): 155 bệnh nhân và nhóm can thiệp (nhóm được SSRM bằng bàn chải): 155 bệnh nhân

Trang 4

Đặc điểm nhóm nghiên cứu

Đặc điểm nhân khẩu, xã hội học tương đồng

nhau giữa hai nhóm Tuổi trung bình của nhóm

nghiên cứu là 37,9 ± 13,6, nhóm SSRM bằng gạc

là 36,7 ± 13,3 và nhóm SSRM bằng bàn chải là

39,1 ± 13,9 Tỉ lệ nam/nữ là 4,8/1, nhóm can thiệp

bệnh nhân nam chiếm 83,2%, bệnh nhân nữ

chiếm 16,8%, nhóm chứng có 82% bệnh nhân

nam, 18% bệnh nhân nữ Không có sự khác biệt

về tuổi giới giữa 2 nhóm nghiên cứu (p = 0,12)

Bệnh nhân cư trú tại thành thị chiếm 20,3%, còn

lại 79,7% đến từ các tỉnh lân cận Trong nhóm

SSRM bằng gạc có 17,4% bệnh nhân cư trú tại

thành thị, 82,6% bệnh nhân cư trú tại các tỉnh lân

cận, trong nhóm SSRM bằng bàn chải bệnh nhân

cư trú tại thành thị chiếm 23,2%, bệnh nhân cư

trú tại các tỉnh là 76,8% Không có sự khác biệt

về nơi cư trú giữa 2 nhóm (p=0,204) (Bảng 1)

100% bệnh nhân tham gia nghiên cứu đều bị

hôn mê và suy hô hấp Điểm Glasgow trung

bình của bệnh nhân là 5,74 ± 0,9 Trong đó,

nhóm bệnh nhân SSRM bằng gạc có điểm

Glasgow trung bình là 5,59 ± 0,9, nhóm SSRM

bằng bàn chải là 5,74 ± 0,9 Không có sự khác

biệt về điểm Glasgow giữa nhóm chứng và

nhóm can thiệp (p=0,14) Có 59% bệnh nhân

được phẫu thuật thần kinh, trong đó nhóm

SSRM bàn chải chiếm 5,7%, nhóm SSRM bằng

gạc chiếm 61,3% Sự khác biệt không có ý nghĩa

thống kê giữa 2 nhóm (p=0,41)

Bảng 1: Đặc điểm xã hội học, lâm sàng của bệnh

nhân giữa nhóm SSRM bằng gạc và bàn chải

Tuổi trung bình (năm) 36,7 ± 13,3 39,1 ± 13,9 0,12

Giới:

- Thành phố 17,4% 23,2%

Địa chỉ:

Glasgow trung bình (điểm) 5,59 ± 0.86 5,74 ± 0.82 0,14

Phẫu thuật

thần kinh - Không 38.7% 43,2% 0,42

Tần suất viêm phổi bệnh viện

Trong tổng số 310 bệnh nhân tham gia vào

nghiên cứu, có 18 BN bị VPBV chiếm tỷ lệ 5,8%

Trong đó có 14 BN trong nhóm SSRM bằng gạc chiếm tỷ lệ 9% và 4 BN trong nhóm SSRM bằng bàn chải chiếm tỷ lệ 2,6% Qua phân tích thấy, nhóm SSRM bằng gạc có nguy cơ VPBV tăng cao gấp 1,6 lần so với nhóm SSRM bằng bàn chải với khoảng tin cậy (1,22 – 2,12) Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p= 0,015 (Bảng 2)

Bảng 2: Tỷ lệ Viêm phổi bệnh viện giữa hai nhóm

SSRM bằng gạc (n=155)

SSRM bàn chải

Khoảng

VPBV 14 (9,0%) 4 (2,6%) 1,61 1,22 – 2,12 0,015

Dữ kiện vi sinh

18 bệnh nhân bị VPBV được tiến hành cấy vi khuẩn trong đàm Vi khuẩn phân lập được gồm

Acinetobacter sp 9 trường hợp (50%), Klebsiella sp

5 trường hợp (27,8%) và Staphylococcus aureus 4

trường hợp (22,2%) Các vi khuẩn này đều đa

kháng thuốc: Acinetobacter baumannii kháng

100% với Ceftazidime, Amikacin, Cefedime, Ceftriaxone, Trimethoprim, Ciprofloxacin

Klebsiella sp kháng 100% với Gentamicin,

Ampicillin và Trimethoprim Staphylococcus

aureus đề kháng 100% với Gentamicine,

Erythromycine, Clindamycin, Azithromycin, Oxacillin và Ciprofloxacin, nhưng còn nhạy với Vancomycine

Tình hình sử dụng kháng sinh

100% BN đều có điều trị kháng sinh, bao gồm nhóm cephalosporins thế hệ thứ ba (52,70%), nhóm aminoglycosides (36,35%), nhóm fluoroquinolon (4,52%), nhóm beta-lactam (4,34%), nhóm cephalosporins thế hệ thứ tư (0,87%), nhóm glycopeptid (0,70%), nhóm phenicol (0,35%) và nhóm metronidazol (0,17%) BN sử dụng 1 loại kháng sinh chiếm 24% (74 BN), BN sử dụng phối hợp 2 loại thuốc kháng sinh chiếm 68% (212 BN), phối hợp 3 loại kháng sinh chiếm 7% (20 BN), phối hợp 4 loại kháng sinh chiếm 1% (4 BN) (Bảng 3) Hầu hết kháng sinh được sử dụng theo đường tiêm tĩnh mạch (59%), tiếp theo là đường truyền tĩnh mạch (34%) và tiêm bắp chiếm tỷ lệ nhỏ nhất (7%) (Biểu đồ 1)

Trang 5

Biểu đồ 1: Phân bố sự phối hợp kháng sinh

Bảng 3: Tình hình sử dụng kháng sinh

Tình hình sử dụng kháng

sinh

Số trường hợp

sử dụng kháng sinh

Tỷ lệ (%)

Cephalosporins thế hệ thứ ba 303 52,7

Cephalosporins thế hệ thứ tư 5 0,8

Khảo sát yếu tố nguy cơ viêm phổi bệnh

viện

Qua phân tích đơn biến các yếu tố nguy cơ

ảnh hưởng tới VPBV cho thấy các yếu tố nguy

cơ VPBV bao gồm: Bệnh nhân bị đặt lại nội khí

quản: RR=7,81, khoảng tin cậy 95% (3,17 – 19,17)

(p < 0,001); bệnh nhân có thở máy: RR = 1,11

khoảng tin cậy 95% (1,06 – 1,2) (p<0,001); bệnh

nhân bị đặt lại ống cho ăn RR = 21,28, khoảng tin

cậy 95% (10,8 – 41,9) (p<0,001) Các yếu tố khác như giới, có phẫu thuật thần kinh, có đặt tĩnh mạch trung tâm, thở oxy, và bóp bóng khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm Qua phân tích đa biến, 3 yếu tố: đặt lại NKQ, thở máy, đặt lại ống cho ăn có ảnh hưởng đến VPBV với RR lần lượt: 1,95 (P = 0,027); 3,64 (P =0,026)

và 17,44 (P = < 0,001) (Bảng 4) Phân tích các yếu tố nguy cơ VPBV theo nhóm SSRM cho thấy trong nhóm SSRM bằng gạc, các yếu tố bao gồm bệnh nhân bị đặt lại nội khí quản RR= 8,.1 (p < 0,001), bệnh nhân có thở máy RR=1.2 lần (p<0,001), bệnh nhân bị đặt lại ống cho ăn RR=18,4 lần (p<0,001) Phân tích các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng tới VPBV trong nhóm SSRM bằng bàn chải cho thấy chỉ có đặt lại nội khí quản có ảnh hưởng tới VPBV với RR = 12,5 (p= 0,004) Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p

= 0,004 (Bảng 5)

Bảng 4: Yếu tố nguy cơ viêm phổi bệnh viện

Viêm phổi bệnh viện Yếu tố

Không (n = 292)

Có (n = 18)

Yếu tố nguy

RR

Khoảng tin cậy 95%

P

+ Nam 240 (82,2) 16

(88,9) + Nữ 52 (17,8) 2 (11,1) Phẫu thuật

thần kinh

171(58,6) 12

(66,7)

1,39 0,53 – 3,6 0,49 Đặt lại nội

khí quản

41 (14,0) 11

(61,1)

7,81 3,17 –

19,17

< 0,001 Tĩnh mạch

trung tâm

8 (2,7) 1 (5,6) 1,06 0,84 – 1,34 0,49

Trang 6

Viêm phổi bệnh

viện Yếu tố

Không

(n = 292)

Có (n = 18)

Yếu tố nguy

RR

Khoảng tin cậy 95%

P

Thở oxy 267 (91,4) 18 (100) 1,02 0,94 – 1,11 0,66

Có hút

đàm

292 (100) 18 (100)

Thở máy 163 (55,8) 18 (100) 1,11 1,06 – 1,17< 0,001

Bóp bóng 4 (1,4) 0 0,94 0,91 – 0,97 0,62

Nuôi ăn

qua ống 292 (100) 18 (100)

Đặt lại ống

cho ăn 2 (0,7) 7 (38,9) 21,28 10,81 – 41,89 < 0,001

Bảng 5: Yếu tố nguy cơ viêm phổi bệnh viện so sánh

giửa hai nhóm SSRM

Nhóm SSRM bằng

gạc

Nhóm SSRM bằng bàn chải Yếu tố

RR (KTC

RR (KTC

Đặt lại nội khí

quản

0,9 (0,86 – 0,95)

< 0,001 12,5 (1,35 –

116,6)

0,004

Tỉnh mạch

trung tâm

0,9 (0,86 – 0,95)

0,75 6,1 (0,71 – 52,5) 0,07

Thở oxy 1,3 (0,18 –

9,15)

0.79 1,3 (0,18 – 9,15) 0,56

Thở máy 1,2 (1,08 –

1,28)

0,001 1,0 (1,01 – 1,09) 0,08

Bóp bóng 0,9 (0,86 –

0,95)

0,75 1,0 (0,95 – 0,99) 0,78

Đặt lại ống

cho ăn

18,4 (8,52 –

39,64)

< 0,001 1,0 (0,95 – 1,00) 0.87

So sánh các thông số giữa nhóm SSRM

bằng gạc và SSRM bàn chải

Thời gian thở máy (ngày) của nhóm SSRM

bàn chải giảm có ý nghĩa so với nhóm SSRM

bằng gạc: 5,94 ± 2,93 ngày so với 6,98 ± 3,10 ngày

ở nhóm SSRM bằng gạc (p = 0,018) Tuy nhiên,

không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa

hai nhóm về tử vong Tỉ lệ tử vong trong nhóm

SSRM bằng gạc là 3,2%, nhóm SSRM bằng bàn

chải là 3,8% (p=0,8) Thời gian sử dụng kháng

sinh, lưu ống ăn, thở máy có ngắn hơn ở nhóm

SSRM bằng bàn chải nhưng sự khác biệt không

có ý nghĩa thống kê Thời gian sử dụng kháng

sinh giữa nhóm SSRM bằng gạc (7,61 ±

2,87ngày) và nhóm SSRM bằng bàn chải (7,51 ±

2,96 ngày) với p = 0,77, thời gian lưu ống thông

cho ăn của nhóm chứng là 8,22 ± 4,02 ngày không khác biệt với nhóm can thiệp là 7,75 ±

3,44 ngày (p = 0,27) (Bảng 6)

Bảng 6: Các thông số theo dõi giữa hai nhóm

gạc

SSRM bàn

Thời gian thở Oxy (ngày) 4,31 ± 2,55 4,7 ± 2,68 0,21 Thời gian đặt nội khí

quản (ngày)

8,18 ± 3,96 7,58 ± 3,11 0,14 Thời gian lưu tĩnh mạch

trung tâm

Thời gian thở máy (ngày) 6,98 ± 3,10 5,94 ± 2,93 0,018 Thời gian bóp bóng

(ngày)

Thời gian sử dụng kháng sinh (ngày)

7,61 ± 2,87 7,51 ± 2,96 0,77 Thời gian hút đàm (ngày) 8,21 ± 4,03 7,74 ± 3,44 0,27 Thời gian lưu ống cho ăn

(ngày)

8,22 ± 4,02 7,75 ± 3,44 0,27 Thời gian nằm khoa

HSNTK (ngày)

8,22 ± 4,02 7,75 ± 3,44 0,27

BÀN LUẬN

Bệnh nhân nhập viện vào khoa HSNTK thường là những bệnh nhân tai nạn giao thông, tai nạn lao động Chấn thương sọ não kèm theo biến chứng VPBV sẽ làm kéo dài thời gian điều trị và giảm khả năng cống hiến, giảm sức lao động do đó sẽ là gánh nặng cho gia đình và xã hội Tất cả bệnh nhân trong nghiên cứu này đều bị chấn thương sọ não nặng, có suy hô hấp và hôn mê với Glasgow trung bình là 5 Việc chỉ định đặt nội khí quản trong trường hợp này là cần thiết để tăng thông khí nhằm mục đích làm giảm tình trạng phù não, tình trạng tăng áp lực nội sọ, tránh các biến chứng tụt não là nguyên nhân tử vong

trong phần lớn các chấn thương sọ não

Viêm phổi bệnh viện là loại nhiễm khuẩn bệnh viện thường gặp nhất tại các khoa hồi sức, chủ yếu xảy ra trên bệnh nhân có đặt nội khí quản hoặc có thông khí hỗ trợ Kết quả của nghiên cứu này cho thấy tỷ lệ VPBV tại khoa Hồi sức ngoại thần kinh BVCR là 5,8%, thấp hơn

so với những nghiên cứu khác cũng được thực hiện tại khoa Hồi sức ngoại thần kinh BVCR năm 2003 (Thái thị Kim Nga: 22%; Đặng thị Vân

Trang 7

Trang: 21,4%)(14) với cùng tiêu chuẩn chẩn đoán

VPBV như nghiên cứu của chúng tôi Nhiều

nghiên cứu đã chứng minh các can thiệp điều

dưỡng như tăng cường SSRM, xoay trở bệnh

nhân, cho bệnh nhân nằm đầu cao (nếu không

có chống chỉ định), thường xuyên rửa tay, có thể

giảm thiểu và ngăn chặn sự xuất hiện của

VPBV(1,5,13) Nghiên cứu của chúng tôi thực hiện

sau tám năm thực hiện các biện pháp can thiệp

có hiệu quả nhằm phòng ngừa VPBV

Đặc biệt trong nghiên cứu này lần đầu tiên

chúng tôi áp dụng SSRM bàn chải trên bệnh

nhân có đặt nội khí quản, kết hợp cho bệnh

nhân nằm đầu cao 300 và kết quả đã chứng minh

hiệu quả của việc áp dụng kỹ thuật này Tỷ lệ

VPBV trong nhóm SSRM bằng gạc tăng cao gấp

1.61 lần (RR= 1,61) so với nhóm SSRM bằng bàn

chải, khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,015)

SSRM cần thực hiện để chăm sóc miệng cho

những bệnh nhân không thể tự chăm sóc riêng

cho mình SSRM bằng gạc có hiệu quả cho sự

kích thích của mô màng nhầy nhưng không hiệu

quả trong việc lấy đi các mảng bám vào răng và

nhiều khả năng không làm giảm nguy cơ VPBV

Các mảng bám ở răng không thể loại bỏ bằng

cách lau sạch và đó cũng chính là nguyên nhân

chính nhiễm khuẩn răng miệng SSRM bằng

cách đánh răng là một cách hiệu quả hơn để

ngăn chặn VPBV, bởi vì nó loại bỏ các mảng

bám ở răng, các biến chứng liên quan như sự lan

truyền của các vi khuẩn gây bệnh viêm phổi(1,2,4)

Bàn chải đánh răng có hiệu quả hơn trong loại

bỏ mảng bám và kích thích lợi và nướu răng hơn

là gạc Bàn chải đánh răng trẻ em thường được

coi là công cụ tốt nhất cho việc chăm sóc răng

miệng trong những BN có đặt nội khí quản và

cải thiện chất lượng chăm sóc răng miệng cho

những bệnh nhân này Nghiên cứu của Field,

Lorrain B thực hiện kỹ thuật SSRM bàn chải kết

hợp với can thiệp phòng ngừa nhiễm khuẩn

bệnh viện cho thấy tỷ lệ VPBV giảm từ 4,3%

xuống 0%(4) Theo Trung tâm kiểm soát bệnh tật

Hoa Kỳ (CDC) chăm sóc răng miệng toàn diện

và liên tục được ghi nhận quan trọng trong công

tác phòng chống VPBV Một nghiên cứu khác của Similarly, Simmons- Trau và cộng sự thực hiện quy trình chăm sóc bệnh nhân thở máy tập trung nằm đầu cao, xoay trở bệnh nhân và SSRM mỗi hai giờ đã làm giảm 33% VPBV(13)

Trong nghiên cứu chúng tôi vi khuẩn Gram

âm chiếm 77,7% so với 22,2% vi khuẩn Gram

dương Vi khuẩn Acinetobacter sp là cầu trực

trùng gram (-), chiếm nhiều nhất trong nghiên cứu của chúng tôi 50% Loại vi khuẩn này thường trú trong tự nhiên ở nước và đất Một

vài chủng Acinetobacter có thể tồn tại trong môi

trường khô hạn nhiều tuần lễ, đặc tính này giúp lây nhiễm qua bề mặt trong bệnh viện(6) Các bệnh nhân nằm ở phòng hồi sức cấp cứu thường mất đi lớp fibronectin ở vùng hầu họng để bảo

vệ không cho vi khuẩn Gram âm bám dính vào gây bệnh, vì thế vi khuẩn Gram âm có điều kiện

để phát triển hơn và gây VPBV Do đó, việc SSRM là rất cần thiệt để loại trù vi khuẩn ở vùng hầu họng, giảm tỉ lệ VPBV Việc áp dụng qui trình SSRM bàn chải đã giúp giảm tỷ lệ VPBV xuống còn 2,6% so với nhóm SSRM bằng gạc là 9% Điều này chứng minh hiệu quả rõ rệt của công tác SSRM bằng bàn chải

- Thời gian SSRM 2 lần trong ngày là tiêu chuẩn tối thiểu cho một người hoạt động chế độ

ăn uống bình thường (Hiệp Hội Nha Khoa Mỹ) Tần số SSRM trên BN có đặt nội khí quản đang còn bàn luận Theo Day và Jenkins số lần dựa vào cá yếu tố nguy cơ của BN(2) trong khi đó Trenter và cộng sự khuyên nên thực hiện từ 2 giờ đến 4 giờ tùy theo tình trạng BN(6) Theo Barnason và cộng sự đề xuất đánh răng mỗi 12 giờ có hiệu quả trên BN có đặt nội khí quản, nhưng cũng đề nghị nghiên cứu chi tiết hơn trong lĩnh vục này(6) Hiệp hội nha khoa Anh (2009) cũng khuyến cáo duy trì SSRM tối thiểu 2 lần trong ngày làm giảm các yếu tố gây bệnh đường hô hấp

- Việc đánh giá tình trạng răng miệng nên thực hiện sớm từ khi BN nhập khoa Hiệu quả SSRM có giá trị về phương diện lâm sàng, nhưng thực hiện cũng cần phải dựa vào sự

Trang 8

đánh giá thích hợp Đánh giá ban đầu bao

gồm: tiền sử về vấn đề răng miệng, tuổi, tình

trạng dinh dưỡng, các tình trạng răng miệng

hiện tại (phẫu thuật miệng, vết thương, răng

giả), chế độ điều trị hiện tại như: đặt nội khí

quản, ống cho ăn qua đường miệng, ống

mayo Sự đánh giá không đúng cũng như

không có thông tin đầy đủ dẫn tới chọn dụng

cụ và kỹ thuật SSRM không phù hợp

- Sử dụng gòn, gạc làm vệ sinh răng miệng

như trước đây vẫn được chấp nhận, nhưng ngày

nay nhiều nghiên cứu đã chứng minh gòn, gạc

không loại bỏ các mảng bám bề mặt răng cũng

như không làm sạch vệ sinh vùng răng miệng

Do đó, nếu thực hiện bằng gòn gạc phải thực

hiện mổi 2- 4 giờ(11)

- Sử dụng bàn chải và kem đánh răng là

phương pháp nên thực hiện cho tất cả BN Tuy

nhiên, bàn chải đánh răng người lớn không thể

sử dụng được cho BN có đặt NKQ Sử dụng bàn

chải đánh răng trẻ em có ưu thế nhỏ, đủ để loại

bỏ mảng bám mà không ảnh hưởng đến các ống

đặt ở miệng, lông mềm của nó giảm tiềm năng

đối với chấn thương và chảy máu

- Nước súc miệng có thuốc sát khuẩn cũng

đã được chứng minh có hiệu quả trong CSRM(11)

Chlohexidine được xem là dung dịch sát khuẩn

chọn lựa trong SSRM và có hiệu quả phòng

VPBV nhưng chưa có trên thị trường Việt nam

Một vấn đề đặt ra trong CSRM là liệu việc

đánh răng cho bệnh nhân hôn mê có an toàn

Qua ngiên cứu này chúng tôi không ghi nhận

trường hợp nào có gây ra tác dụng phụ khi

SSRM bằng bàn chải Một số điểm cần chúy ý

khi dùng bàn chải là áp lực bóng chèn NKQ

phải được kiểm tra với áp kế và duy trì trong

khoảng 15-25cmH2O Áp lực bóng chèn NKQ

25cmH2O là mức an toàn tối thiểu ngăn chặn các

dịch tiết từ miệng hầu di chuyển xuống hệ hô

hấp Ngoài ra, nó cũng có tác dụng ngăn chặn sự

trào ngược của dịch dạ dày dẫn đến viêm phổi

hít Nâng cao đầu giường 300- 400 đặc biệt trong

quá trình cho BN ăn, đánh răng cũng cần thiết

nhằm phòng ngừa trào ngược của dịch dạ dày

dẫn đến viêm phổi hít

Tóm lại, bên cạnh các biện pháp can thiệp nhằm phòng VPBV, SSRM bằng bàn chải là một biện pháp lựa chọn để nhằm làm giảm viêm phổi bệnh viện Với quy trình SSRM bằng bàn chải trên bệnh nhân có đặt NKQ này chúng tôi đã thành công trong làm giảm VPBV, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc và kỹ năng thực hành Điều Dưỡng Từ kết quả trên, chúng tôi đề nghị:

- Đánh giá tình trạng răng miệng cho BN được thực hiện ngay sau khi BN nhập khoa Hồi sức và theo dõi hằng ngày

- Tùy theo điều kiện từng khoa hồi sức, bệnh viện nên áp dụng kỹ thuật SSRM bàn chải cho

BN các khoa Hồi sức nhằm làm giảm tỷ lệ VPBV

- Số lần SSRM bằng bàn chải hiện còn đang tranh luận và có thể phụ thuộc vào tình trạng

BN Tuy nhiên cần duy trì SSRM bàn chải mỗi 12 giờ trên BN có đặt NKQ cho đến khi nghiên cứu sâu hơn trong lĩnh vực này

- SSRM bằng gạc không hiệu quả trong việc lấy các mảng bám ở răng SSRM bằng bàn chải mềm, nhỏ có tác dụng lấy các mảng bám và thích hợp đối với BN có đặt NKQ

- Cập nhật kiến thức và kỹ năng thực hành SSRM bằng bàn chải cho Điều Dưỡng thường xuyên thông qua các lớp đào tạo nâng cao Trong các lớp đào tạo cần cung cấp các chứng

cứ để giúp ĐD hiểu được những thay đổi đang thực hiện

TÀI LIỆU THAM KHẢO

hygiene as a critical nursing activity in the intensive care unit” Intensive and Critical Care Nursing, 22: 318-328

Intensive Crit Care Nurs; 9: 246-252

Gibert C (1993), “Nosocomial pneumonia in ventilated patients: a cohort study evaluating attributable mortality and hospital stay” Am J Med, 94: 281–288

of ventilator-associated pneumonia in the Neurologic intensive care unit” The Journal of Neuroscience Nursing

Quarterly, 29(2), 108-114

Trang 9

for Disease Control and Prevention MMWR Recomm Rep

1997; 46 (RR-1): 1-79

thở máy: tiền cứu và các yếu tố nguy cơ” Thời sự Y Dược

học, tr 240- 243

biện pháp phòng ngừa Báo cáo Hội nghị Điều Dưỡng về

chông nhiễm khuẩn bệnh viện

Thanh Vân (2005) "Đánh giá tình hình viêm phổi tại Bệnh

viện Chợ Rẫy" Tạp Chí y học thực hành số 518, p 47

10 Nguyễn Thị Ngọc Bé (2004) Khảo sát tác nhân gây viêm phổi

mắc phải tại bệnh viện Chợ Rẫy Luận văn thạc sỹ y học, Đại

học Y Dược TP Hồ Chí Minh, tr 1-68

11 Ransier A, Epstein JB, Lunn R, Spinelli J (1995) A combined

analysis of toothbrush, foam brush and a

chlorhexidine-soaked foam brush in maintaining oral hygiene Cancer Nursing, 18(5), 393-396

12 Richards MJ, Edwards JR, Culver DH, Gaynes RP (2000)

“Nosocomial infections in combined medical-surgical intensive care units in the United States” Infect Control Hosp Epidemiol 21:510–515

13 Simmons-Trau D, et al (2004) “Reducing VAP with 6 Sigma” Nurs Manage, 35(6): 41-5

14 Thái Thị Kim Nga (2003) “Đánh giá viêm phổi bệnh viện tại khoa Săn Sóc đặc biệt ngoại thần kinh bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 2 đến tháng 4/ 2003” Báo cáo tại hội thảo: Điều Dưỡng trong công tác chống nhiễm khuẩn bệnh viện Bệnh Viện Chợ Rẫy TP.HCM, tr 69-79

15 Vương Thị Nguyên Thảo (2004) Khảo sát tình hình viêm phỗi bệnh viện tại khoa Săn sóc bệnh viện Chợ Rẫy Luận án thạc sỹ y học, Đại học Y dược TP.HCM, tr 1- 68

Ngày đăng: 23/01/2020, 00:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w