1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ đích propofol tại não lên an thần, áp lực nội sọ và áp lực tưới máu não trong chấn thương sọ não nặng

6 75 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 455,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của bài viết nhằm đánh giá ảnh hưởng của nồng độ đích propofol tại não lên mức độ an thần, ALNS và áp lực tưới máu não khi thở máy và khi có can thiệp hút NKQ trong CTSN nặng. Mời các bạn cùng tham khảo tài liệu.

Trang 1

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA NỒNG ĐỘ ĐÍCH PROPOFOL TẠI

NÃO LÊN AN THẦN, ÁP LỰC NỘI SỌ VÀ ÁP LỰC TƯỚI MÁU NÃO

TRONG CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO NẶNG

Lê Bá Long*; Nguyễn Quốc Kính*

TÓM TẮT

Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng, tiến cứu, cắt ngang trên 20 bệnh nhân (BN) chấn thương sọ não (CTSN) nặng phải thở máy trong 2 ngày đầu điều trị, với tổng số lần quan sát 320 lần, ở 2 trạng thái: khi thở máy và khi có can thiệp hút nội khí quản (NKQ) BN được an thần bằng TCI propofol với nồng độ đích tại não (Ce) thích hợp, Ce khởi đầu 1 µg/ml, dò liều (mỗi lần tăng 0,2 µg/ml) đến khi

BN nằm yên thở theo máy Tăng Ce propofol (mỗi lần 0,5 µg/ml) để BN không kích thích khi hút NKQ Kết quả: Ce propofol cần thiết để BN nằm yên thở theo máy và không kích thích khi hút NKQ

tương ứng 1,21 ± 0,19 và 2,18 ± 0,18 µg/ml Ce propofol tối ưu để áp lực nội sọ (ALNS) giảm

nhiều nhất và áp lực tưới máu não (ALTMN) tăng nhiều nhất khi BN nằm yên thở theo máy (1,2 µg/m)l Ce propofol tối ưu để ALNS tăng ít nhất và ALTMN giảm ít nhất khi hút NKQ BN không kích thích là 2,2 µg/ml Mức độ an thần: SAS (2 - 3 điểm), GCSC (6 - 7 điểm), HS (11 - 12 điểm), CPOT (1 - 2 điểm) khi BN nằm yên thở theo máy; SAS (1 - 2 điểm), GCSC (5 - 6 điểm),

HS (12 - 13 điểm), CPOT (0 - 1 điểm) BN không kích thích khi hút NKQ

* Từ khóa: Chấn thương sọ não nặng; Nồng độ đích propofol; Áp lực nội sọ; Áp lực tưới máu não

the effects of propofol concentrations on target level of sedation, intracranial pressure and

cerebral perfusion pressure in severe

traumatic brain injury SUMMARY

The clinical trial study, prospective, cross-sectional stuy was carried out on 20 patients with severe traumatic brain injury must have breathing machine in the first 2 days of treatment, with the total number of observations of 320 times, in two states: when breathing machine and when endotracheal suctioning intervention Patients were sedated by TCI propofol with target concentration

in the brain appropriate, starting Ce 1 µg/ml, search dose (per increase 0.2 µg/ml) until the patients lay quietly breathing machine Increased Ce propofol (per increase 0.5 µg/ml) for patients not stimulated when endotracheal suctioning

Results: Ce propofol is necessary to patients lay quietly breathing machine and does not stimulate when endotracheal suctioning , respectively 1.21 ± 0.19 and 2.18 ± 0.18 µg/ml Ce propofol optimal

to reduce intracranial pressure most, and cerebral perfusion pressure increased the most, when patients lay quietly breathing machine was 1.2 µg/ml Ce propofol optimal to intracranial pressure increased at least, and decreased cerebral perfusion pressure at least when tracheal suctioning,

* Bệnh viện Việt Đức

Người phản hồi: (Corresponding): Nguyễn Quốc Kinh (nguyenquockinh@yahoo.com)

Ngày nhận bài: 25/12/2013; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 17/1/2014

Ngày bài báo được đăng: 21/1/2014

Trang 2

patients no stimulation was 2.2 µg/ml The level of sedation: SAS (2 - 3 points), GCSC (6 - 7 points),

HS (11 - 12 points), CPOT (1 - 2 points) when patients lay quietly breathing machine; SAS (1 - 2 points), GCSC (5 - 6 points), HS (12 - 13 points), CPOT (0 - 1 points) patients not stimulated when endotracheal suctioning

Key words: Severe traumatic brain injury; Target level of sedation; Intracranial pressure; Cerebral perfusion pressure

ĐẶT VẤN ĐỀ

Chấn thương sọ não là nguyên nhân

chủ yếu dẫn đến tử vong và tàn phế do

chấn thương xảy ra ở tất cả các quốc gia

trên thế giới, đặc biệt ở lứa tuổi thành niên

và nam giới, gây hậu quả nặng nề về kinh tế

và xã hội CTSN nặng gây tăng ALNS Tăng

ALNS là nguyên nhân chính gây tử vong

sớm và để lại những di chứng nặng nề,

ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của

người bệnh sau chấn thương Theo dõi và

kiểm soát tốt ALNS sẽ cải thiện đáng kể

tiên lượng của CTSN nặng An thần trong

CTSN nặng được sử dụng với mục đích

chính là điều trị giảm ALNS, hạn chế tăng

ALNS khi can thiệp như hút NKQ, thay đổi

tư thế Đối với CTSN nặng, thuốc an thần

dùng để giảm ALNS, nhanh hết tác dụng khi

ngừng để đánh giá tri giác và ít ảnh hưởng

đến huyết động Nghiên cứu của chúng tôi

chọn propofol Đã có các nghiên cứu về

nồng độ đích tại não (Ce) của propofol đối

với bệnh lý khác cho thấy có sự tương quan

nghịch và chặt với BIS [1, 7] Vấn đề đặt ra là

Ce propofol có giúp gì trong việc đánh giá,

điều chỉnh mức độ an thần và giảm ALNS

trong CTSN nặng hay không? Vì vậy, chúng

tôi tiến hành nghiên cứu đề tài với mục tiêu:

Đánh giá ảnh hưởng của nồng độ đích

propofol tại não lên mức độ an thần, ALNS

và áp lực tưới máu não khi thở máy và khi

có can thiệp hút NKQ trong CTSN nặng

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

BN CTSN nặng (Glassgow ≤ 8 điểm), tuổi từ 16 - 60, thở máy chỉ huy trong 2 ngày đầu điều trị và không chống chỉ định với propofol Loại trừ những BN mê sâu, Glasgow

3 điểm, đa chấn thương, bệnh lý thần kinh phối hợp, nghiện ma túy

2 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng, tiến cứu, cắt ngang trên 20 BN, với tổng số lần quan sát 320 lần

* Phương pháp tiến hành:

Tất cả BN chọn vào nghiên cứu đều được thở máy và điều trị theo phác đồ để đạt đích điều trị BN đều được giảm đau bằng fentanyl 50 µg tiêm tĩnh mạch, duy trì

1 µg/kg/giờ bằng bơm tiêm điện riêng An thần bằng TCI propofol theo phác đồ nghiên cứu trong 2 ngày đầu Khởi đầu truyền tĩnh mạch TCI propofol với liều Ce 1 µg/ml, nếu

BN vẫn chưa thở theo máy, tăng Ce lên 0,2 µg/ml cứ mỗi 2 phút/lần đến khi BN thở theo máy Duy trì TCI propofol với liều đã

dò được Khi hút NKQ: tăng Ce propofol lên thêm 0,5 µg/ml cho đến khi BN hết kích thích trên lâm sàng (với các test kích thích) mới tiến hành thủ thuật Sau khi hút NKQ, giảm liều propofol về Ce trước khi can thiệp

* Thu thập số liệu: theo dõi các thông số

ALNS, ALTMN, mạch, huyết áp, PVC, mức

độ an thần theo: SAS (với 7 mức độ theo

Trang 3

an thần, kích động) [9], GCSC (với 4 tiêu

chí: mắt, đáp ứng với động tác chăm sóc,

ho, thở) [3], HS (với 3 tiêu chí: tình trạng

chung, dung nạp máy thở, đáp ứng khi hút

NKQ) [6], CPOT (với 4 tiêu chí: nét mặt, cử

động cơ thể, căng cơ, dung nạp máy thở)

[4] Các thời điểm lấy số liệu khi không hút

NKQ mỗi lần cách nhau 3 giờ, khi hút NKQ

mỗi lần cách nhau 3 giờ Xử lý số liệu bằng

phần mềm SPSS 16.0

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

Bảng 1: Đặc điểm chung của đối tượng

nghiên cứu

Tuổi (năm)

X ± SD (min-max)

29,9 ± 12,6 (16 - 60) Điểm Glasgow

X ± SD (min-max)

6,15 ± 0,70 (4 - 8)

BN nam nhiều hơn nữ Độ tuổi trung

bình của nhóm nghiên cứu tương đối trẻ

(29,9 ± 12,6 tuổi), điểm Glasgow trung bình

6,15 ± 0,7

Bảng 2: Ce propofol cần thiết để BN nằm

yên thở theo máy

(µg/ml)

(n = 20)

(n = 320)

n (%) Cộng dồn

n (%)

n (%) Cộng dồn

n (%)

1 7

(35,0)

7 (35,0)

108 (33,8)

108 (33,8) 1,2 6

(30,0)

13 (65,0)

98 (30,6)

206 (64,4) 1,4 6

(30,0)

19 (95,0)

98 (30,6)

304 (95,0)

(5,0)

20 (100)

16 (5,0)

320 (100)

Ce propofol cần thiết để BN nằm yên thở

theo máy trung bình 1,21 ± 0,19 µg/ml 35%

BN thở theo máy với Ce propofol ban đầu (1 mg/ml), 65% phải Ce propofol để thở theo máy Kết quả này cao hơn nghiên cứu của McMurray (0,98 µg/ml đối với BN có tổn thương não) [8] và cao hơn của Nguyễn Thanh Bảo có mức Ce để BN nằm yên thở theo máy còn ý thức là 1,15 ± 0,26 µg/ml [2]

Biểu đồ 1: Thay đổi ALNS, ALTMN tại Ce

propofol cần thiết để BN nằm yên thở

theo máy

Thay đổi tối ưu nhất tương ứng với Ce 1,2 µg/ml, khi đó ALNS giảm nhiều nhất và ALTMN tăng nhiều nhất Đối với những BN CTSN nặng có tăng ALNS, an thần sâu sẽ làm giảm và hạn chế tăng đột ngột quá mức của ALNS Như vậy, an thần rất cần thiết trong điều trị CTSN Nhưng an thần với mức nào, với liều lượng bao nhiêu là đủ?

Khi an thần quá mức sẽ làm huyết áp trung bình giảm nhiều, dẫn đến giảm ALTMN nhiều

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy khi an thần BN ở mức Ce propofol 1,2 µg/ml, mức ALNS giảm nhiều nhất và mức ALTMN tăng nhiều nhất: đây chính là Ce tối ưu

17,3 ± 2,9 13,2 ± 1,9 16,4 ± 3,7 15,4 ± 1,8 72,2 ± 4,2 74,3 ± 3,9 72,3 ± 5,1 72,7 ± 3,9

0 10 20 30 40 50 60 70 80 90

Ce (µg/ml)

Trang 4

Bảng 3: Mức độ an thần khi BN nằm yên thở theo máy

SAS (điểm)

n (%)

GCSC (điểm)

n (%)

HS (điểm)

n (%)

CPOT (điểm)

n (%)

Khi duy trì Ce hợp lý, BN nằm yên thở theo máy, trên lâm sàng mức độ an thần đánh

giá theo bảng điểm đạt ở mức: SAS (2 - 3 điểm), GCSC (6 - 7 điểm), HS (11 - 12 điểm),

CPOT (1 - 2 điểm) Hiện nay, chưa có nhiều nghiên cứu đưa ra đánh giá về tiêu chí này,

nên chúng tôi chưa đưa ra bàn luận thỏa đáng Tuy nhiên, các mức độ này cũng giống với

khuyến cáo của Hiệp hội Chăm sóc Y tế Quốc tế cho BN thở máy điều khiển ở các đơn vị

chăm sóc đặc biệt [5, 10]

Bảng 4: Ce cần thiết của propofol để BN không kích thích khi can thiệp

(µg/ml)

Ce propofol tại não cần thiết để BN không kích thích khi can thiệp trung bình 2,18 ± 0,18

µg/ml, thấp nhất 1,9 µg/ml, cao nhất 2,6 µg/ml

Trang 5

Biểu đồ 2: Liên quan giữa thay đổi ALNS, ALTMN với Ce propofol khi can thiệp hút NKQ

Trước mỗi lần tiến hành can thiệp hút

NKQ cho BN, chúng tôi sẽ tăng liều an thần

propofol lên nồng độ đích tại não thích hợp

mà BN không kích thích Điều này rất có ý

nghĩa trong điều trị CTSN nặng Thực tế lâm

sàng cho thấy nếu BN kích thích khi can thiệp

hút NKQ hay bất kể một thủ thuật nào đó,

ALNS tăng lên rất cao, nhanh và giảm về gần giá trị trước khi can thiệp rất khó khăn Để BN nằm yên không kích thích, Ce propofol cần thiết là 2,18 ± 0,18 µg/ml Tại mức Ce propofol 2,2 µg/ml, có sự thay đổi tối ưu nhất,

có ý nghĩa nhất cho BN CTSN nặng: ALNS tăng ít nhất và ALTMN giảm ít nhất [5, 10]

Bảng 5: Mức độ an thần khi hút NKQ (BN không kích thích)

SAS (điểm)

n (%)

GCSC (điểm)

n (%)

HS (điểm)

n (%)

CPOT (điểm)

(%)

Tăng Ce với liều hợp lý (ngay trước khi hút NKQ) để BN không kích thích khi hút NKQ,

trên lâm sàng mức độ an thần đánh giá theo bảng điểm đạt mức: SAS (1 - 2 điểm), GCSC

(5 - 6 điểm), HS (12 - 13 điểm), CPOT (0 - 1 điểm)

7,8 ± 1,6

5,1 ± 0,9 5,0 ± 1,2

4,7 ± 1,4 5,2 ± 1,5

0 2 4 6 8 10 12

Ce (µg/ml)

Trang 6

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Hoàng Văn Bách Nghiên cứu điều chỉnh

độ mê theo điện não số hóa bằng nồng độ đích

tại não hoặc nồng độ phế nang tối thiểu của

thuốc mê Luận án Tiến sỹ Y học 2012

2 Nguyễn Thanh Bảo Đánh giá hiệu quả của

an thần bằng propofol có kiểm soát nồng độ đích

để rút NKQ sau mổ tim hở Luận văn Thạc sỹ Y

học 2009

3 Aziziz A.MSc, Tadrisi S.D.MSc et al

Validity and reliability of Glasgow Coma Scanle

modified by Palma & Cook (GCSC) in adult

patients hospitalized in intensive care unit Iranian

Journal of Critical Care Nursing 2009, Vol 2,

Issue 2, pp.75-79

4 Céline Gélinas, RN, PhD et al Validation of

the critical-care pain observation tool in adult

patients Am J Crit Care 2006, Vol 15, No 4,

pp.420-427

5 Clinical practice guidelines for the sustained

use of sedatives and analgesics in the critically ill

adult Society of Critical Care Medicine Crit Care

Med 2002, Vol 30, No 1

6 Harris E, O'DonnellC, Macmillan RR, et al

Use of propofol infusion for sedation of patients undergoing haemofiltration-assessment of the effect of haemofiltration on the level of sedation

on blood propofol concentration J Drug 1991, Dev, 4 (suppl 3), pp.37-39

7 Irwin, M, Hui, T, Milne, S, & Kenny G Propofol

effective concentration 50 and its relationship to bispectral index Anaesthesia 2002, 57 (3), pp.242-248

8 McMurray T J, J R Johnston, K R Milligan, I

S Grant, S J Mackenzie Propofol sedation

using diprifusor target-controlled infusion in adult intensive care unit patients Anaesthesia 2004,

59, pp.636-641

9 Riker R, Fraser GL Monitoring sedation,

agitation, analgesia, and delirium in critically ill adult patients Crit Care Clin 2001, 17, pp.1-21

10 S Rinaldi et al Sedation monitoring in

ICU Current Anaesthesia & Critical Care 2006, 07/31, article in press

Ngày đăng: 23/01/2020, 00:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w