1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu hình ảnh chụp cắt lớp điện toán của di căn phổi từ ung thư tuyến giáp dạng biệt hoá

5 70 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 383,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung bài viết nghiên cứu về các đặc điểm hình ảnh và giá trị chẩn đoán di căn phổi từ ung thư tuyến giáp dạng biệt hóa của chụp cắt lớp điện toán (CT). Nghiên cứu tiến hành trên 57 bệnh nhân ung thư tuyến giáp dạng biệt hóa đã phẫu thuật cắt giáp toàn phần hoặc gần toàn phần có hình ảnh di căn phổi trên xạ hình toàn thân sau điều trị I‐131 và có chụp XQ, CT ngực.

Trang 1

CỦA DI CĂN PHỔI TỪ UNG THƯ TUYẾN GIÁP DẠNG BIỆT HOÁ 

Phạm Văn Triều* 

TÓM TẮT 

Mở đầu: Ung thư tuyến giáp dạng biệt hóa chiếm 90% ung thư tuyến giáp với thời gian sống thêm 10 năm 

từ 80‐95%. Phổi là vị trí di căn xa thường gặp nhất có tiên lượng tốt nếu được phát hiện sớm và điều trị đúng. 

X quang quy ước (XQ) có độ nhạy thấp và khi thấy hình ảnh di căn phổi thì thời gian sống thêm 10 năm chỉ còn 

15%. Mục tiêu: Nghiên cứu các đặc điểm hình ảnh và giá trị chẩn đoán di căn phổi từ ung thư tuyến giáp dạng 

biệt hóa của chụp cắt lớp điện toán (CT). 

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang trên 57 bệnh nhân ung 

thư tuyến giáp dạng biệt hóa đã phẫu thuật cắt giáp toàn phần hoặc gần toàn phần có hình ảnh di căn phổi trên 

xạ hình toàn thân sau điều trị I‐131 và có chụp XQ, CT ngực.  

Kết quả: Tuổi trung bình 36 ± 13(16‐66 tuổi), tỉ số nam/nữ: 1/1,26, ung thư tuyến giáp dạng nhú chiếm 

96%, dạng nang chiếm 4%. Trên CT, chỉ gặp tổn thương dạng nốt phổi. Di căn phổi với dạng nhiều nốt nhỏ  chiếm 75%, phân bố tại thuỳ dưới chiếm 96%, nằm vùng ngoại vi dưới màng phổi chiếm 96%. Độ nhạy của CT  84,2% so với XQ là 21,1%. 

Kết luận: CT là phương tiện chẩn đoán hình ảnh không xâm lấn, có tính khả thi trong điều kiện hiện tại có 

độ nhạy cao hơn so với XQ trong việc phát hiện di căn phổi từ ung thư tuyến giáp dạng biệt hóa. Do đó, CT nên  được chỉ định rộng rãi để phát hiện sớm di căn phổi nhằm có kế hoạch điều trị thích hợp, giảm tỉ lệ tử vong và cải  thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh.  

Từ khoá: ung thư tuyến giáp dạng biệt hoá, di căn phổi, chụp cắt lớp điện toán, I‐131  

ABSTRACT 

STUDY ON COMPUTER TOMOGRAPHY IMAGING OF PULMONARY METASTASIS FROM 

DIFFERENTIATED THYROID CARCINOMA  

Pham Van Trieu* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2013: 522 ‐ 526 

Background Differentiated thyroid carcinoma (DTC) is accounting for 90% of thyroid carcinoma (DTC) 

which  has  80‐90  %  of  10  year  survival  rate.  Lung  is  one  of  the  most  metastasis  site  of  DTC.  Pulmonary  metastases from DTC has favorable prognosis when it is early detected and correctly treated. Conventional chest  X‐ray is not enough sensitive to detect pulmonary metastasis. When pulmonary metastases were showed on chest  X‐ray, 10 year survival rate is only 15%. 

Objectives:  Study  of  imaging  characteristic  and  clinical  values  of  Computerized  Tomography  (CT)  in 

detecting pulmonary metastases from differentiated thyroid carcinoma.  

Method: prospective cross‐ sectional study was perform at Cho Ray hospital in 57 patients post‐total or near 

thyroidectomy who have I‐131 lung uptake on post‐treatment whole body scan. Chest X‐ray, CT was evaluated 

in all of these patient.  

Results:  Mean  age  was  36 ±  13  (16‐66),  male/female  ratio  was  1/1.26,  papillary  thyroid  carcinoma  was 

* Khoa Y Học hạt nhân ‐ BV Chợ Rẫy 

Tác giả liên lạc: BS. Phạm Văn Triều    DĐ: 0989514360   Email: phamvantrieu@yahoo.com 

Trang 2

96%,  follicular  thyroid  carcinoma  was  4%.  Lung  nodule  was  only  lesion  on  CT.  Pulmonary  metastases  with  located lung lower lobe, peripheral sub‐pleural, small nodules have high frequency. Sensitivity of chest X‐ray and 

CT was 21,1% and 84,2% respectively.  

Conclusion:  CT  is  non‐invasive,  feasible,  high  sensitivity  method  for  detection  of  pulmonary  metastasis 

from  differentiated  thyroid  carcinoma.  CT  should  be  indicated  for  lung  metastasis  screening  so  that  we  have  appropriate treatment plans to reduce mortality, improve quality of life (QOL) of differentiated thyroid carcinoma  patients.  

Keywords: differentiated thyroid carcinoma, lung metastasis, Computerized Tomography, I‐131 

MỞ ĐẦU 

Ung  thư  tuyến  giáp  (UTTG)  dạng  biệt  hóa 

(bao  gồm  dạng  nhú  và  dạng  nang)  chiếm 

khoảng 85‐90% UTTG, có khả năng hấp thu Iod, 

tiên lượng tốt với thời gian sống thêm 10 năm từ 

80‐95%(5).  UTTG  dạng  biệt  hóa  khi  được  chẩn 

đoán thì phẫu thuật là phương pháp được chọn 

đầu tiên. Đối với nhóm bệnh nhân có kích thước 

bướu >1,5cm, xâm lấn vỏ bao, di căn hạch cổ, di 

căn xa thì phẫu thuật kết hợp với điều trị bằng I‐

131 và Levothyroxin là sự phối hợp đa mô thức 

chuẩn  hiện  nay(3).  Điều  trị  I‐131  nhằm  phá  huỷ 

mô giáp còn lại và mô ung thư làm giảm tỉ lệ tái 

phát, di căn xa, cải thiện chất lượng cuộc sống và 

tạo điều kiện thuận lợi trong việc theo dõi bệnh. 

XQ được sử dụng để phát hiện di căn phổi 

(DCP) từ nhiều loại ung thư khác không riêng 

gì UTTG. Tuy nhiên, XQ có độ nhạy thấp khó 

phát hiện các nốt nhỏ và nhất là khi thấy được 

rõ ràng hình ảnh DCP trên XQ, thời gian sống 

thêm 10 năm chỉ còn khoảng 15%(2). Hiện nay, 

có nhiều phương tiện hiện đại để đánh giá và 

theo dõi DCP từ UTTG dạng biệt hóa trong đó 

phải kể đến CT, một kỹ thuật khá phổ biến tại 

Việt  Nam,  có  khả  năng  phát  hiện  các  tổn 

thương  phổi  có  kích  thước  rất  nhỏ  mà  XQ 

không thể phát hiện được. 

Sử dụng phương pháp chẩn đoán hình ảnh 

không xâm lấn, có tính khả thi trong điều kiện 

thực  tế,  nhằm  phát  hiện  sớm  các  tổn  thương 

DCP  từ  UTTG  dạng  biệt  hóa  để  có  kế  hoạch 

điều trị thích hợp nhằm giảm tỉ lệ tử vong, kéo 

dài thời gian sống thêm cho bệnh nhân là thật 

sự cần thiết.  

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  Đối tượng nghiên cứu 

Gồm  57  bệnh  nhân  (BN)  UTTG  dạng  biệt  hóa đã được phẫu thuật cắt giáp toàn phần hoặc  gần  toàn  phần,  có  hình  ảnh  DCP  trên  xạ  hình  toàn  thân  sau  điều  trị  I‐131  (RxWBS).  Các  BN  này hiện đang được theo dõi tại khoa Y học hạt  nhân Bệnh viện Chợ Rẫy 

Tiêu chuẩn chọn bệnh 

‐ BN đã được phẫu thuật cắt giáp toàn phần  hoặc gần toàn phần, có kết quả mô bệnh học là  UTTG dạng nhú hoặc dạng nang 

‐ Có hình ảnh DCP trên RxWBS 

‐ Chụp XQ, CT ngực tại Bệnh viện Chợ Rẫy 

‐ Tuổi >15 

Tiêu chuẩn loại trừ  

Viêm  hô  hấp  trước,  trong  và  sau  điều  trị  I‐

131. 

Phương pháp nghiên cứu 

Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang 

Thời gian và địa điểm nghiên cứu 

Từ đầu 01/2010 đến cuối 5/2011 (#17 tháng),  tại khoa Y học hạt nhân Bệnh Viện Chợ Rẫy 

Thuốc phóng xạ và thiết bị nghiên cứu 

Dung dịch NaI (I‐131) (Egis, Hungari)  Máy SPECT/CT SymbiaT6 (Siemens, Đức) 

Quy trình kỹ thuật 

Tất cả 57 BN nghiên cứu đều thực hiện theo  quy trình điều trị I‐131 của Khoa Y học hạt nhân  Bệnh viện Chợ Rẫy, trong đó:  

Trang 3

quy) trước điều trị I‐131 

+  Chụp  RxWBS  (thường  quy)  trên  máy 

SPECT/CT vào thời điểm 4‐7 ngày sau điều trị I‐

131 với các thông số ghi hình như sau: BN nằm 

ngửa  với  chân  và  hai  tay  duỗi  thẳng  theo  thân 

người.  Chụp  ở  hai  tư  thế  trước  và  sau  bằng 

Colimator  song  song,  mức  năng  lượng  cao,  tốc 

độ  quét  10cm/  phút.  Chẩn  đoán  DCP  trên 

RxWBS khi có sự đồng thuận của cả 2 BS Y học 

hạt nhân có hơn 10 năm kinh nghiệm trong điều 

trị UTTG bằng I‐131. Chụp CT ngực không cản 

quang  cho  tất  cả  BN  có  hình  ảnh  DCP  trên 

RxWBS  trong  cùng  1  ngày  với  RxWBS  với  các 

thông  số  ghi  hình  CT  như  sau:  Kv  =120,  mAs 

=70, pitch =1, colimation = 6, 2,5mm. Khảo sát từ 

đỉnh phổi đến đáy phổi ở tư thế BN nằm ngửa 

hai tay giơ thẳng qua khỏi đầu, khảo sát ở thì hít 

vào  hết  sức  và  nín  thở.  Hình  ảnh  tái  tạo  ở  mặt 

cắt trục và mặt cắt trán, cửa sổ phổi (Kernel B80 

very  shape)  và  trung  thất  (Kernel  B31),  độ  dày 

lát cắt 5mm.  

Một số tiêu chuẩn đánh giá trên CT 

Tổn  thương  nhu  mô  phổi  đơn  thuần:  cần 

đánh giá các đặc điểm 

‐ Vị trí tổn thương: theo phổi (phổi trái, phổi 

phải), theo phân thuỳ phổi (thuỳ trên, thuỳ giữa, 

thuỳ  dưới),  theo  phân  vùng  phổi  (vùng  ngoại 

biên  1/3  ngoài  phế  trường,  vùng  trung  tâm  2/3 

trong phế trường) 

‐ Kích thước tổn thương: nốt nhỏ (≤ 10mm), 

nốt  lớn  (10‐30mm),  khối  mờ  (>30mm)  hoặc  các 

tổn thương khác như dày vách liên thuỳ…(10) 

‐ Đóng vôi trong tổn thương 

‐ Dạng tổn thương:  

+ Dạng 1 nốt (có thể nốt nhỏ, hoặc nốt lớn) 

+ Dạng nhiều nốt nhỏ (bao gồm dạng hạt kê 

với kích thước <3mm) 

+ Dạng nhiều nốt lớn 

+  Dạng  hỗn  hợp  gồm  nhiều  nốt  có  kích 

thước khác nhau: nốt nhỏ và nốt lớn có thể có 

cả khối mờ. 

Tổn thương nhu mô phổi kết hợp với các tổn  thương  khác  như:  hạch  trung  thất,  tràn  dịch  màng phổi, tổn thương thành ngực… 

Xử lý số liệu 

Sử dụng phần mềm SPSS 19.0. Sự khác biệt 

có nghĩa thống kê khi p<0,05 

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 

Trong  thời  gian  từ  tháng  1/2010  đến  tháng  5/2011  chúng  tôi  đã  khảo  sát  CT  cho  57  trường  hợp  UTTG  dạng  biệt  hóa,  trong  đó  dạng  nhú  chiếm 96%, dạng nang 4%, có 16 BN nam và 41 

BN nữ. Tuổi trung bình 36, nhỏ tuổi nhất 16 và  lớn tuổi nhất 66. Kết quả này cũng tương đồng  với kết quả nghiên cứu của Ilgan và cộng sự (cs)  năm  2002,  Ronga  và  cs  năm  2004(2,8).  Như  vậy,  UTTG  dạng  biệt  hóa  nói  chung  và  DCP  từ  UTTG dạng biệt hoá nói riêng có thể gặp ở mọi  lứa tuổi, cả hai giới nhưng ở độ tuổi lao động là  thường gặp nhất, nữ gặp nhiều hơn nam, dạng  nhú  gặp  nhiều  hơn  dạng  nang.  Đây  là  các  đặc  điểm cần lưu ý khi tiếp cận BN UTTG dạng biệt  sau  phẫu  thuật  nếu  có  nghi  ngờ  DCP.  Các  đặc  điểm này có thể thay đổi trong từng nghiên cứu. 

Sự khác biệt này có thể liên quan đến: đối tượng  nghiên cứu khác nhau, sự khác biệt về điều kiện  địa lý, các đặc điểm hình thái kinh tế xã hội khác 

nhau.  

Đặc điểm hình ảnh DCP trên kết quả CT 

CT  ngực  (không  có  tiêm  thuốc  cản  quang)  được  thực  hiện  cho  tất  cả  57  trường  hợp  trong  nghiên cứu này để mô tả các đặc điểm về vị trí,  kích thước, dạng tổn thương DCP cũng như các  tổn thương phối hợp với kết quả sau: 

Tất  cả  các  tổn  thương  ở  phổi  do  UTTG  dạng biệt hóa di căn đều là dạng nốt phổi.  

Các nốt phổi xuất hiện ở cả hai phổi là: 90%,  phổi phải: 6%, phổi trái: 4%. 

Bảng 1. Vị trí các nốt phổi trên CT theo phân thùy 

Vị trí phân thùy phổi Số BN Tỉ lệ

Trang 4

Vị trí phân thùy phổi Số BN Tỉ lệ

Thùy trên-giữa-dưới 29 50,9%

Các  nốt  phổi  hiện  diện  tại  thuỳ  dưới  là: 

46/48 trường hợp (96%).  

Bảng 2. Vị trí các nốt phổi trên CT theo phân vùng 

Vị trí Số BN Tỉ lệ

Các nốt  phổi  tập  trung  nhiều  nhất  ở  vùng 

ngoại  biên  dưới  màng  phổi  46/48  trường  hợp 

(96%). Đây là đặc điểm khác với nốt phổi trong 

u  phổi  nguyên  phát  thường  gặp  ở  thùy  trên 

bên phải.  

Bảng 3. Đặc điểm về kích thước các nốt phổi trên CT 

Kích thước nốt phổi Số BN Tỉ lệ

Các nốt phổi có kích thước nhỏ <1cm chiếm 

tỉ lệ cao nhất (77%). 

Bảng 4. Các dạng tổn thương phổi trên CT 

Các dạng tổn thương phổi Số BN Tỉ lệ

Trong  các  dạng  di  căn  phổi  thì  dạng  nhiều 

nốt nhỏ chiếm tỉ lệ cao nhất (75%). 

Về  kích  thước  và  dạng  tổn  thương  phổi 

trên  CT  trong  nghiên  cứu  này  tương  tự  như 

nhận định của tác giả Phạm Ngọc Hoa về  các 

đặc điểm hình ảnh DCP trên CT(7). 

Các tổn thương khác kết hợp với nốt phổi 

bao  gồm:  tràn  dịch  màng  phổi  (25%),  hạch 

trung  thất  (41,6%),  tràn  dịch  màng  phổi  và  hạch  trung  thất  (16,7%),  tổn  thương  xương 

sườn (16,7%). 

Giá trị CT trong chẩn đoán DCP từ UTTG  dạng biệt hoá 

Bảng 5. Sự phù hợp chẩn đoán giữa CT‐XQ 

Kết quả XQ Kết quả CT Tổng

CT(+) CT(-)

Trong  kết  quả  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  có  48/57 trường hợp có hình ảnh DCP, chứng tỏ CT  được xem là phương pháp chẩn đoán hình ảnh 

có giá trị cao trong xác định tổn thương nốt phổi 

do  di  căn  từ  UTTG  biệt  hóa  với  độ  nhạy  là  84,2%. Trong khi đó chụp XQ quy ước độ nhạy  chỉ  đạt  21,1%.  Kết  quả  này  cũng  tương  tự  các  nghiên cứu của Ilgan, Nguyễn Đăng Tuấn(2,6).  

Từ kết quả nghiên cứu của chúng tôi đã cho  thấy  nếu  sử  dụng  XQ  để  phát  hiện  DCP  từ  UTTG dạng biệt hóa sẽ bỏ lỡ đến gần 80% cơ hội  phát hiện DCP.  

Mặc  dù  CT  nhạy  hơn  XQ  trong  phát  hiện  DCP  từ  UTTG  dạng  biệt  hóa  nhưng  trong  nghiên cứu của chúng tôi vẫn còn khoảng 16% 

DCP  trên  hình  ảnh  RxWBS  nhưng  CT  không  phát hiện được. Có thể do phương tiện nghiên  cứu của chúng tôi chỉ là CT 6 dãy đầu dò nên  không  phát  hiện  thêm  tổn  thương  DCP  phổi. 

Với các thiết bị CT đa dãy đầu dò (MDCT) 64  hoặc  128  có  thể  phát  hiện  các  hình  ảnh  DCP  theo  đường  bạch  huyết  như  dày  vách  liên  thùy. Tuy nhiên, thiết bị này không luôn luôn  sẵn  có  ở  từng  cơ  sở.  Khả  năng  phát  hiện  tổn  thương trên CT có thể tăng thêm nếu như có 2  bác sĩ cùng đọc kết quả như y văn đã ghi nhận  nhưng  điều  này  lại  không  khả  thi  trong  thực  hành lâm sàng hàng ngày. Một số nghiên cứu 

về chẩn đoán có trợ giúp của máy vi tính được  ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như phát hiện  các  nốt  phổi  trên  CT,  phân  biệt  nốt  phổi  lành  tình  và  ác  tính  trên  CT  độ  phân  giải  cao  (HRCT), phân tích định lượng tổn thương phổi 

Trang 5

lan  toả  trên  HRCT…  đã  hỗ  trợ  rất  nhiều  cho 

Bác  sĩ  chẩn  đoán  hình  ảnh  khi  đọc  kết  quả, 

tăng khả năng phát hiện sang thương(1). Một lý 

do khác nữa làm CT âm tính giả trong nghiên 

cứu  của  chúng  tôi  đó  là  di  căn  phổi  trong 

UTTG dạng biệt hoá với các  tổn  thương  dạng 

lan  toả  trong  mô  kẽ  vượt  quá  khả  năng  phân 

giải  của  máy  nên  không  thể  phát  hiện  trên 

hình ảnh cấu trúc (CT) mà chỉ có thể phát hiện 

trên  hình  ảnh  chức  năng  đó  là  xạ  hình.  Theo 

Ilgan và cộng sự (2004), nếu bệnh nhân di căn 

phổi  từ  UTTG  dạng  biệt  hoá  mà  kết  quả  CT 

bình  thường  thì  tỉ  lệ  sống  còn  sau  10  năm  là 

100% so với 86% nếu di căn nốt nhỏ trên CT và 

25% nếu di căn nốt lớn trên CT. Tác giả đã kết 

luận  rằng  CT  không  những  có  giá  trị  chẩn 

đoán  DCP  mà  còn  có  giá  trị  tiên  lượng  khả 

năng  sống  còn  ở  bệnh  nhân  UTTG  dạng  biệt 

hoá  sau  phẫu  thuật(2).  Trong  thực  hành  lâm 

sàng,  RxWBS  được  xem  như  “tiêu  chuẩn 

vàng” cho chẩn đoán DCP từ UTTG dạng biệt 

hóa.  Tuy  nhiên  sự  tồn  tại  nhiều  mô  giáp  sau 

phẫu  thuật  đã  che  dấu  hình  ảnh  DCP  trên 

RxWBS  và  khoảng  1/3  các  trường  hợp  DCP 

không hấp thu I‐131 không thể phát hiện được 

trên  xạ  hình(9).  Do  đó,  CT  rất  hữu  ít  để  phát 

hiện DCP khi còn nhiều mô giáp và giúp chẩn 

đoán các trường hợp DCP không hấp thu I‐131 

trên xạ hình.  

KẾT LUẬN 

Qua  nghiên  cứu  hình  ảnh  DCP  từ  UTTG 

dạng biệt hóa trên CT của 57 BN trong thời gian 

17 tháng tại khoa Y học hạt nhân Bệnh viện Chợ 

Rẫy, chúng tôi rút ra một số kết luận: 

‐  Các  tổn  thương  ở  phổi  do  ung  thư  tuyến 

giáp dạng biệt hóa di căn là dạng nốt phổi. Nốt 

phổi có kích thước < 1cm chiếm tỉ lệ 77%, dạng 

nhiều  nốt  nhỏ:  75%.  Các  tổn  thương  này  phân 

bố  trên  cả  hai  phổi  là  90%  và  tập  trung  ở  thùy  dưới, ngoại biên dưới màng phổi là 96%.  

‐ CT là phương tiện chẩn đoán hình ảnh có  giá trị cao trong xác định nốt phổi do ung thư  tuyến  giáp  dạng  biệt  hóa  di  căn  với  độ  nhạy  84,2%. 

Kết  quả  nghiên  cứu  đóng  vai  trò  rất  quan  trọng  trong  việc  quản  lý  bệnh  nhân  DCP  từ  UTTG  dạng  biệt  hóa  nhằm  kéo  dài  thời  gian  sống thêm và nâng cao chất lượng cuộc sống cho  người bệnh.  

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

aided  diagnosis  in  Medical  Imaging.  The  British  Journal  of  Radiology, 78(Special Issue):S3‐S19.  

resolution  CT:  results  in  patients  with  lung  metastases  from  differentiated  thyroid  carcinoma.  Eur  J  Nucl  Med  Mol  Imaging, 31:825–830.  

differentiated thyroid cancer. World J Endo Sur, 1(1):7‐12.  

differentiated  thyroid  carcinoma.  In:  Amdur  RJ.  Essentials  of  thyroid  cancer  management,  319‐328.  Springer  Science+  Business Media, Inc, NY. 

thyroid cancer patients. World J Nucl Med, 7:87‐95.  

quang, xạ hình và hiệu quả điều trị bằng I‐131 di căn phổi do  ung thư tuyến giáp thể biệt hoá đã cắt tuyến giáp. Luận văn  Thạc sĩ Y học, Học viện Quân Y, Hà Nội. 

Hoa.  CT  ngực,  xuất  bản  lần  thứ  2,  133‐206.  Nhà  xuất  bản  Y  học, Tp. Hồ Chí Minh.  

metastases  from  differentiated  thyroid  carcinoma:  A  40  years  experience.  The  quarterly  Journal  of  Nuclear  Medicine  and  Molicular Imaging, 48(1):12‐19.  

treatment  of  thyroid  disease.  In:  Sander  MP.  Diagnostic  Nuclear  Medicine,  4th  edition,  653‐670.  Lippincott  Williams  and Wilkins, Philadelphia. 

10 Webb RW (2005).  Metastatic  tumor.  In:  Higgins  CB.  Thoracic  Imaging,  112‐124.  Lippincott  Williams  and  WilKins,  Philadelphia. 

 

Ngày đăng: 23/01/2020, 00:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w