1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hiệu quả điều trị từng bước tắc ống lệ mũi bẩm sinh ở trẻ em

11 89 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 280,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài được tiến hành với mục tiêu nhằm đánh giá kết quả điều trị từng bước cho các trường hợp tắc ống lệ mũi bẩm sinh. Nghiên cứu tiến cứu cho 221 bệnh nhi (276 mắt) từ 1,5 tháng đến 15 tuổi bị tắc ống lệ mũi bẩm sinh. Đầu tiên là bơm rửa lệ và thông lệ đạo. Những trường hợp thất bại được đặt ống silicon. Sau cùng là phẫu thuật tiếp khẩu túi lệ mũi. Một số trường hợp hẹp tắc xương ống lệ mũi không đặt được silicon chuyển qua tiếp khẩu túi lệ mũi ngay sau khi thông lệ đạo.

Trang 1

HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ TỪNG BƯỚC TẮC ỐNG LỆ MŨI BẨM

SINH Ở TRẺ EM

VŨ ANH LÊ, NGUYỄN THỊ QUỲNH NGA

Bệnh viện Mắt TP Hồ Chí Minh

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị từng bước cho các trường hợp tắc ống lệ mũi

bẩm sinh Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu cho 221 bệnh nhi (276 mắt)

từ 1,5 tháng đến 15 tuổi bị tắc ống lệ mũi bẩm sinh Đầu tiên là bơm rửa lệ và thông lệ đạo Những trường hợp thất bại được đặt ống silicon Sau cùng là phẫu thuật tiếp khẩu túi lệ mũi Một số trường hợp hẹp tắc xương ống lệ mũi không đặt được silicon chuyển qua tiếp khẩu túi lệ mũi ngay sau khi thông lệ đạo Ghi nhận kết quả của từng bước

điều trị Kết quả: Tỷ lệ thành công của bơm rửa lệ đạo là 11% (30/276 mắt), thông lệ

đạo là 73,6% (181/246 mắt), đặt ống silicon là 93,3% (42/45 mắt) và tiếp khẩu túi lệ mũi là 87% (20/23 mắt) Tỷ lệ thành công cuối cùng của các buớc là 98,9 % (273/276

mắt) Kết luận: Mô hình điều trị từng bước tắc ống lệ mũi bẩm sinh mang lại hiệu quả

điều trị cao (98,9%), áp dụng thích hợp cho bệnh nhi theo từng mức độ bệnh lý

Từ khoá: tắc ống lệ mũi bẩm sinh

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Chảy nước mắt chiếm tỷ lệ khá cao

khoảng 20% trẻ sơ sinh1, trong đó

nguyên nhân tắc ống lệ mũi thật sự

chiếm tỷ lệ 6% trẻ em2 Vấn đề điều trị

bệnh như thế nào và thời điểm điều trị

sao cho phù hợp để đạt hiệu quả vẫn

đang được thảo luận Trên thế giới, nhất

là hơn thập niên gần đây có nhiều tiến bộ

trong điều trị bệnh lý lệ đạo như đặt sử

dụng bóng nong lệ đạo, dây dẫn silicon,

phẫu thuật tiếp khẩu lệ mũi2,7,9 , các

công trình nghiên cứu nhằm tìm phương

thức và thời điểm điều trị thích hợp mang

lại hiệu quả cao

Bơm rửa và thông lệ đạo được xem

như lựa chọn đầu tiên với tỷ lệ thành

công xấp xỉ 76%.1 Đặt ống silicon lệ mũi

dành cho những trường hợp bơm rửa và

thông lệ đạo thất bại mang lại tỷ lệ thành công cao từ 82 đến 100%2,4,5,6 Tiếp khẩu túi lệ mũi là phương thức phẫu thuật hiệu quả cho những trường hợp đặt ống silicon lệ mũi thất bại hay tắc nghẽn xương lệ mũi Ở Việt Nam, từ năm 2002 chúng tôi đã đưa vào sử dụng đặt dây silicon đơn thuần hoặc kết hợp với tiếp khẩu túi lệ mũi có một số nhận xét đánh giá kết quả bước đầu đáng khích lệ Vì vậy, chúng tôi đề xuất và tiến hành nghiên cứu này nhằm mục tiêu xây dựng

mô hình điều trị cơ bản phù hợp hiệu quả cho tắc ống lệ mũi bẩm sinh theo các bước điều trị từ thấp đến cao

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP Đây là nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng, tiến cứu dọc, tự so sánh,

Trang 2

không đối chứng tiến hành tại phòng khám

khoa bán công kỹ thuật cao và bệnh viện

Mắt TP.HCM từ 1/2006 đến tháng 2/2008

cho 221 bệnh nhi (276 mắt) bị tắc ống lệ

mũi bẩm sinh từ 1,5 tháng tuổi đến 15

tuổi Tất cả bệnh nhi được bơm rửa lệ đạo

nhỏ thuốc kháng sinh day lệ đạo chờ đến

>2,5 tháng tuổi mới tiến hành thông lệ đạo

Có thể thông lệ đạo nhắc lại 3 lần Kỹ

thuật tiến hành thủ thuật thông lệ đạo ở

phòng tiểu phẫu bao gồm nhỏ thuốc tê tại

chỗ, nong điểm lệ, dùng cây thông đưa qua

điểm lệ vào lệ quản trên hoặc lệ quản dưới

đến túi lệ xuống ống lệ mũi và vào trong

mũi Tất cả những bệnh nhi thất bại với

điều trị bơm rửa và thông lệ đạo sẽ được

đặt ống silicon lệ mũi trừ những trường

hợp tắc nghẽn xương ống lệ mũi Thủ

thuật đặt ống silicon đuợc tiến hành tại

phòng mổ với gây mê nội khí quản Dây

silicon với hai đầu dẫn kim loại được đưa

lần lượt vào điểm lệ trên, đi qua lệ quản,

vào túi lệ xoay xuống ống lệ mũi và đưa

vào mũi qua khe mũi dưới và đưa đầu ống

ra ngoài mũi Đầu còn lại tiếp tục đưa vào

điểm lệ dưới tiến hành giống như trên và

đưa đầu còn lại ra ngoài mũi Cột dây

silicon và cố định ở mũi Để ống silicon

khoảng từ 6 -12 tháng, cắt và rút ra từ điểm

lệ trên hoặc dưới

Những trường đặt ống silicon lệ mũi thất bại hoặc xơ dính túi lệ hay tắc xương lệ mũi sẽ được chỉ định tiếp khẩu túi lệ mũi Tiếp khẩu túi lệ mũi được tiến hành ở phòng mổ với gây mê nội khí quản, rạch da, bộc lộ túi lệ, khoan xương

lệ mũi, tạo đường thông nối niêm mạc lệ mũi, khâu cơ, da Bệnh nhi được nhỏ mắt kháng sinh và steroid một tuần đầu sau phẫu thuật Thời gian theo dõi hậu phẫu mỗi tháng sau phẫu thuật và sau khi rút ống silicon 1 tháng

Cách đánh giá mức độ thành công theo các mức độ Mức tuyệt vời khi hết chảy nước mắt sống và hết ghèn hoàn toàn; mức tốt khi thỉnh thoảng chảy nước mắt khi có yếu tố kích thích như gió bụi, hoặc khóc Bơm lệ đạo nước xuống miệng Thất bại khi vẫn chảy nước mắt sống và còn tắc ống lệ mũi khi bơm rửa lệ đạo Các số liệu được ghi nhận và phân tích xử lý thống kê số liệu bằng chương trình SPSS 10.1 và test 2

III KẾT QUẢ

Đối tượng nghiên cứu bao gồm 276 mắt cuả 221 bệnh nhi bị tắc nghẽn ống lệ mũi bẩm sinh

Bảng 1 Đặc điểm dịch tễ học

Giới tính

- Nam

- Nữ

221 (276)

133 (168)

88 (108)

100 60,1 39,8

Độ tuổi (tháng)

- Dưới 3 tháng

- 3 - 11

- 12 - 59

- 60 - 119

13 (13)

171 (215)

29 (39)

3 (4)

1,4 81,0 13,7 1,4

Trang 3

- 120 - 180 5 (5) 2,4

Tắc ống lệ mũi

- 1 mắt

- 2 mắt

166

55

75,1 26,06 Bảng 1 cho thấy có 133 trẻ nam

(60,1%) và 88 trẻ nữ (39,9%) thấp nhất

là 1,5 tháng và lớn nhất là 15 tuổi Số bé

trai bị tắc lệ đạo bẩm sinh nhiều hơn bé

gái chiếm 60,1% trong đó trẻ từ 3 đến 11 tháng chiếm đa số 81% Số trẻ bị tắc lệ đạo một mắt (166 ca) chiếm đa số 75,1%, tắc hai mắt (55 ca) là 26,06%

Bảng 2 Tỷ lệ thành công tính theo tổng số mắt của từng bước điều trị (n thay đổi)

Số mắt Thành công Tỉ lệ từng bước (%)

Tiếp khẩu túi lệ

mũi

Sau khi bơm rửa lệ đạo có 30 mắt

(10,9%) bơm thông, 246 mắt còn lại

phải tiến hành thủ thuật thông lệ đạo

Với thủ thuật thông lệ đạo có 181 mắt

(73,6%) thành công với thủ thuật bơm

và thông ống lệ mũi ở bảng 2 cho thấy

tỉ lệ thành công từng bước của những

lần bơm thông lệ đạo Tỉ lệ lần thông

đầu là 30,9% và 52,9%, 18,8% cho lần

hai và lần ba

Có 20 mắt khi thông lệ đạo lần

một phát hiện ra có vấn đề tắc nghẽn ở

xương lệ mũi và xơ dính ở vùng túi lệ

nên chuyển thẳng sang phẫu thuật tiếp

khẩu túi lệ mũi Vì vậy sau thủ thuật

thông lệ đạo có chỉ 45/65 mắt có chỉ

định đặt ống silicon Tỉ lệ thành công

của phẫu thuật này là 42/45 mắt (93,3

%)

23 mắt bao gồm 3 mắt thất bại của phẫu thuật đặt ống silicon và 20 mắt tắc nghẽn ống xương lệ mũi hay có

xơ dính túi lệ ngay từ lúc bơm thông lệ đạo được phẫu thuật tiếp khẩu túi lệ mũi Tỷ lệ thành công là 87% (20/23 mắt)

Đánh giá tỷ lệ thành công tách riêng từng bước điều trị cho thấy bơm rửa lệ đạo là 10,9%, thông lệ đạo là 73,6%, đặt ống silicon 93,3 %, tiếp khẩu túi lệ mũi 87% (bảng 2)

Bảng 3 Tỷ lệ thành công của từng bước và cộng dồn tính với tổng số mắt chung

(n=276)

Trang 4

Số mắt (n=276) Tỉ lệ từng bước (%) Tỉ lệ cộng dồn

(%)

Đánh giá tỷ lệ thành công cộng dồn

của các bước điều trị trong bảng 3 Tỷ lệ

thành công sau bơm rửa lệ đạo 10,9%,

sau thông lệ đạo tỷ lệ thành công là 76,5

%, sau đặt ống silicon là 91,7%, và tiếp khẩu túi lệ mũi 98,9 %, thất bại 1,1%

Bảng 4 Tỷ lệ thành công tính theo tuổi và số bệnh nhi

Số tuổi

(tháng)

Bơm rửa Thành công/tổng (%)

Bơm thông Đặt ống

silicon

Tiếp khẩu túi lệ mũi

Dưới 3 tháng 11/13 (84,6) 2/2 (100)

3-11 16/215 (7,4) 150/199

(75,3)

32/32 (100) 16/17

(94,1) 12- 59 3/39 (7,7) 29/36

(80,6)

5/5 (100) 2/2 (100)

Ở bảng 4 mức độ thành công theo

độ tuổi cho thấy bơm rửa lệ đạo sớm rất

hiệu quả cho các bé từ 1,5 đến 3 tháng

tuổi với tỷ lệ 84,6% thành công Tỷ lệ

thành công hoàn toàn sau bơm rửa và

thông lệ đạo ở lứa tuổi này là 100%

Thông lệ đạo thành công khá cao (75,3%) phần lớn tập trung ở trẻ từ 3-12 tháng trung bình là 5,8 ± 3,4 tháng Đặt ống silicon thành công cao 100% ở độ tuổi từ 12 đến 60 tháng trung bình là 36,5

Bảng 5 Tỷ lệ các hình thái lâm sàng kết hợp tắc ống lệ mũi bẩm sinh

Đặc điểm Đặt ống silicon TKTLM + ống

silicon Tổng

Tỉ lệ n=221

Trang 5

Sụp mi bẩm sinh 1 - 1 0,45

Sứt mụi hở hàm ếch - 2 2 0,90

Bảng 6 Các biến cố xảy ra trong và sau khi làm thủ thuật

và phẫu thuật

Biến chứng

Thông lệ

đạo n1= 246 (%)

Đặt ống silicon n2 = 45 (%)

TKTLM n3 =

23

Tổng n=246

Rách điểm lệ,

lệ quản

silicon

(5,3)

Cỏc biến chứng như rỏch điểm lệ,

lệ quản sau thụng lệ đạo và đặt ống ớt gặp

thường tự lành sẹo Đối với u hạt điểm lệ

chỳng tụi cắt u hạt 3 trường hợp tuột ống

ở thỏng 1-3 hậu phẫu Chỳng tụi đặt lại

một ca, hai ca cũn lại bơm thụng kiểm tra

thấy thụng tốt, khụng chảy nước mắt

Cỏc biến chứng khỏc như thụng sai

đường, nhiễm trựng, sẹo xấu khụng được

ghi nhận

IV BÀN LUẬN

Áp dụng mụ hỡnh điều trị từng

bước đó mang lại hiệu quả điều trị thành

cụng cao là 98,9% (273/276 trường hợp

tắc ống lệ mũi bẩm sinh) Tỷ lệ 1,1% thất

bại thường nằm trong số bệnh nhi đến

chữa trị muộn (sau 7 đến 15 tuổi) thường

tỳi lệ bị xơ dớnh do quỏ trỡnh viờm nhiễm quỏ lõu Mặt khỏc cú thể do thụng bơm lệ đạo quỏ nhiều lần khụng đỳng kỹ thuật gõy tổn thương làm xơ hẹp dớnh điểm lệ

và lệ quản chung hoặc tỳi lệ, mụ xơ phỏt triển làm bớt ống nối Bơm rửa lệ đạo được tiến hành cho tất cả cỏc bộ cú vấn

đề về lệ đạo như một phương tiện để chẩn đoỏn và điều trị Cú 30/276 (11%)

bộ đó được chữa khỏi ở ngay lần bơm rửa lệ đạo đầu tiờn trong đú cú 11/13 (84,6%) chỏu ở lứa tuổi từ 1,5 thỏng tới dưới 3 tuổi (bảng 4) Do đú nờn đưa cỏc chỏu đi khỏm chữa trị sớm từ 1,5 thỏng tuổi trở đi

Bảng 7 So sỏnh tỷ lệ thành cụng với cỏc tỏc giả khỏc trong điều trị lệ đạo bẩm sinh

Thụng

lệ đạo

Đặt ống silicon TKTLM

Struck HG, Weidlich , 2001 Germany (n=84 90,4%

Trang 6

mắt)

Chairmaine S Lim và CS 2004, Australia (n =

122)

85%

Goldstein và CS, 2004 US (n = 120 mắt) 91%

Douglas R.Casady vàCS 2006 NewYork (n =

173)

Vũ Anh Lê và CS 2008 Việt nam (n = 276

mắt)

76,4% 93,3% 87%

Kinh nghiệm khi bơm rửa lệ đạo

chúng tôi sử dụng kim thẳng đầu tù, đầu

kim đưa vào hết lệ quản chung và hơi

xoay hướng về cổ túi lệ và bơm nước

xuống sẽ giúp đẩy mạnh hết mủ đặc

trong túi lệ ra ngoài lệ quản đối diện Áp

lực nước mạnh trực tiếp có thể làm thủng

màng bít tắc van Hasner ống lệ mũi đưa

đến thành công

Thông lệ đạo với tỷ lệ thành công

là 73,6% (30,9% thành công ngay lần

đầu tiên, 52,9% thành công của lần thông

thứ hai và 18,8% thành công thêm của

lần thứ ba (bảng 2), lần thứ 4 không tăng

thêm tỷ lệ thành công So sánh kết qủa

với tác giả Douglas (US) cho thấy không

có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (2 =

1.26) Trong lô nghiên cứu này, chúng

tôi thấy nhiều bé với tình trạng mủ hơi

đặc trắng đục hoặc vàng tích tụ lâu ở túi

lệ và ống lệ mũi khi được bơm thông lệ

đạo dù nước có xuống miệng nhưng phải

đến lần thông thứ 2 thì mới đạt kết quả

thành công do đó tỷ lệ thành công lần thứ

2 của chúng tôi cao hơn lần đầu Những

trường hợp thành công ngay ở lần đầu

thường do tồn tại màng mỏng bít ở van

Hasner (chiếm đa số) ở vị trí mở của ống

lệ mũi vào khe mũi dưới đã được chọc

thủng nhờ cây thông Bowman cho nước

mắt thông thoát xuống Sau bước thông

lệ đạo, những trường hợp thất bại sẽ được tiếp tục tiến hành đặt ống silicon, hoặc tiếp khẩu túi lệ mũi Trong nghiên cứu của chúng tôi: đặt ống silicon lệ mũi

là phương thức trị liệu tiếp theo mang lại hiệu quả điều trị cao (93,3%) cho những trường hợp thông lệ đạo thất bại Vì ống silicon (chập đôi) nằm trong lòng ống lệ mũi (khoảng 6 tháng) sẽ giúp nong rộng ống lệ mũi và chống viêm dính ống một cách có hiệu quả Những trường hợp thất bại nằm trong độ tuổi 8 đến 15 tuổi ở các

bé có quá trình viêm nhiễm đã lâu làm

xơ dính túi lệ và xơ hẹp ống lệ mũi Có

ba trường hợp bị lộ ống silicon sớm (3 đến 5 tuần ở nhóm bệnh nhi từ 24 đến 36 tháng) do bé hiếu động dụi tay và tự rút ống ra, đã phải lấy ống silicon ra sớm nhưng kết quả vẫn đạt thành công ở mức

độ tốt và tuyệt vời; hai trường hợp: bơm nước xuống miệng, trào ra ngoài ít và một trường hợp bơm nước xuống miệng hoàn toàn, hết chảy nước mắt Goldstein

và cộng sự7 trong một nghiên cứu gần đây cho thấy đặt ống silicon lệ mũi sau khi thông lệ đạo thất bại sẽ mang lại hiệu quả điều trị là 91% Các tác giả khác cũng đồng ý việc lựa chọn điều trị đặt ống silicon cho những trường hợp thông

lệ đạo thất bại là đúng

Trang 7

Có ba trường hợp tiếp khẩu túi lệ

mũi thất bại ở nhóm tuổi lớn từ 7 đến 15

tuổi có quá trình viêm nhiễm chữa trị đã

lâu gây xơ dính kèm lệ quản chung xơ

hẹp chức năng dẫn, hút nước mắt kém

Các trường hợp chỉ có một lệ quản trên

hoặc dưới, hoặc một lệ quản lạc chỗ vẫn

tiến hành chữa trị đặt ống silicon hoặc

tiếp khẩu túi lệ mũi kết hợp không ảnh

hưởng đến kết quả thành công của phẫu

thuật

Tương tự, một số bé có những vấn

đề về loạn sản sọ - mặt hoặc tật bẩm sinh

kết hợp (bảng 5) như sụp mí, sứt môi hở

hàm ếch, hội chứng Down có tắc ống lệ

mũi vẫn được điều trị lệ đạo và kết quả

thành công khả quan

Kết quả từ các nghiên cứu cho thấy

việc lựa chọn điều trị tắc ống lệ mũi bẩm

sinh theo từng bước từ thông lệ đạo đến

đặt ống silicon rồi tiếp khẩu túi lệ mũi là

sự lựa chọn có thể thực hiện được Tuy

nhiên khi bàn về phác đồ điều trị này

cũng phải chú ý đến sự hạn chế như

trong trường hợp tắc hoàn toàn ống

xương lệ mũi, hoặc xơ dính túi lệ Sau

khi phát hiện nhờ nghiệm pháp thăm dò

thông lệ đạo thì sẽ chuyển phẫu thuật

tiếp khẩu túi lệ mũi ngay mà không qua

bước đặt ống silicon lệ mũi

V KẾT LUẬN

Phác đồ điều trị từng bậc mang lại

hiệu quả cao trong điều trị tắc nghẽn ống

lệ mũi, xây dựng hệ thống điều trị cho

bệnh nhi bị tắc ống lệ mũi bẩm sinh cho

trẻ em Việt Nam

Bơm rửa và thông lệ đạo là bước điều trị đầu tiên thích hợp cho tất cả các bệnh nhi ở mọi độ tuổi Phương thức đơn giản, nhẹ nhàng và ít tốn kém, mang lại

tỷ lệ thành công cho nhiều trường hợp Nên đưa bé đến theo dõi và bơm rửa lệ đạo sớm từ 1,5 tháng trở đi nếu có dấu hiệu ghèn và ứ đọng nước mắt nhiều Thông lệ đạo nên tiến hành từ ba tháng tuổi trở đi Có thể thông lệ đạo nhắc lại lần hai, lần ba nhưng không nên quá ba lần vì ít hiệu quả và có thể làm tăng xơ tắc túi lệ do tổn thương

Đặt ống silicon nong lệ đạo cho những trường hợp thông lệ đạo thất bại Thời điểm đặt ống nên tiến hành sau 8 tháng tuổi (trường hợp dấu hiệu lâm sàng tiến triển nặng hơn), hoặc sau 12 tháng tuổi (trường hợp bệnh không tự khỏi) Tiếp khẩu túi lệ mũi là bước điều trị phẫu thuật sau cùng cho những trường hợp đặt ống silicon thất bại hoặc có thể

là bước điều trị thứ hai cho những trường hợp xơ dính túi lệ hoặc tắc nghẽn xương ống lệ mũi Thời điểm tiến hành nên chờ khi bé được 18 tháng (trường hợp tắc nghẽn xương hoặc xơ dính túi lệ) hoặc

24 tháng (những bé sau đặt ống silicon thất bại)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

1 Hốc mắt, mi mắt và hệ thống lệ Giáo trình khoa học cơ sở và lâm sàng 1998-1999; tập 7

2 DOUGHLAS R CASADY et al Stepwise Treatment Paradigm for Congenital

Nasolacrimal Duct Obstruction Ophthal Plast Reconstr Surg 2006 January; 22

(4): 243-247

3 M B KASHKOULI, B BEIGI, M M PARVARESH, A KASSAEE, Z TABATABAEE Late and very late initial probing for congenital nasolacrimal

duct obstruction: what is the cause of failure? Br J Ophthalmol 2003; 87: 1151–

1153

4 SONIA J AHN YUEN, CHRISTINE OLEY, TIMOTHY J SULLIVAN, FRANZCO: Lacrimal Outflow Dysgenesis Ophthalmology 2004; 111: 1782–

1790

5 EVAN A BALLARD Excessive tearing in infancy and early childhood 2000 May; (6)107

6 GREGG T LUEDER Treatment of Nasolacrimal Duct Obstruction in Children With Trisomy 21 JAAPOS 2000; 4: 230-27

7 GOLDSTEIN SM, GOLDSTEIN JB, KATOWITZ JA Comparisson of monocanalicular of stenting and balloon dacryoplasty in secondary treatment of

congenital nasolacrimal duct obstruction after failed primary probing Ophthal Plast Reconsur Surg 2004; 20: 352-7

8 BHINDER GS, BHINDER HS Repeated probing results in the treatment of

congenital nasolacrimal duct obstruction Ear J Ophthalmol 2004;14:185- 92

9 NOWINSKI TS, FLANAGAN JC, MAURIELLO J Pediatric

dacryocystorhinostomy.Arch Ophthalmol 1985 Aug;103(8):1226-8

SUMMARY

STEPWISE TREATMENT EVALUATION OF CONGENITAL NASOLACRIMAL DUCT OBSTRUCTION

Purpose: To evaluate the outcomes achieved by a series of babies treated in stepwise fashion with congenital nasolacrimal duct obstruction Methods: Two hundreds twenty one babies with 276 lacrymal systems diagnosed with congenital

nasolacrimal duct obstruction, ranging in age from 1.5 months to 15 years, were treated

in stepwise fashion Irrigating and probing were the one of the initial procedures Patients who failed with probing received silicon intubation Dacryosystorhinostomy was reserved for patients who had failed with the above treatments or for those who had not silicon intubation done due to a bony obstruction Clinical success was defined as

complete resolution of symptoms The success rate at each step was evaluated Results:

Irrigating was successful in 30 (11%), probing was successful in 181 of 246 cases (73.6%) Silicon intubation was successful in 42 of 45 cases (93.3%) Dacryocystorhinostomy was successful in 20 of 23 cases (87%) The cumulative

Trang 9

success rate was in 273 of 276 (98.9%) Conclusion: A stepwise approach to the

treatment of congenital nasolacrymalduct obstruction is a clinically and appropriately effective model for treatment of Vietnamese babies

Key words: congenital nasolacrimal duct obstruction

Trang 10

PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ TỪNG BẬC TẮC ỐNG LỆ MŨI BẨM

SINH

Ghi chú:

Có: lệ đạo thông

Không: Lệ đạo không thông

Xơ dính túi lệ, hẹp hẹp ống túi lệ mũi

Tắc ống lệ mũi bẩm sinh

Bơm rửa lệ đạo

Tiếp khẩu túi lệ mũi

Thông lệ đạo

(Lần 1, lần 2, lần 3?)

Thất bại

Đặt ống silicon lệ mũi

Khôn

g

Khôn

g

Khôn

g

Khôn

Theo dõi

Khôn

g

Ngày đăng: 23/01/2020, 00:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w