1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Các yếu tố lâm sàng và cận lâm sàng liên quan biến chứng xuất huyết nặng trong bệnh sốt xuất huyết dengue ở người lớn

8 91 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 324,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bệnh sốt xuất huyết dengue người lớn khác trẻ em với biểu hiện xuất huyết thường gặp và người bệnh có thể tử vong nếu xuất huyết nặng. Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm mô tả và xác định các yếu tố lâm sàng và cận lâm sàng liên quan biến chứng xuất huyết nặng.

Trang 1

CÁC YẾU TỐ LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG LIÊN QUAN

BIẾN CHỨNG XUẤT HUYẾT NẶNG TRONG BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT

DENGUE Ở NGƯỜI LỚN

Nguyễn Văn Hảo*, Dương Bích Thủy**

TÓM TẮT

Đặt vấn đề-Mục tiêu nghiên cứu: Bệnh sốt xuất huyết Dengue người lớn khác trẻ em với biểu hiện xuất huyết thường gặp và người bệnh có thể tử vong nếu xuất huyết nặng Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm mô tả

và xác định các yếu tố lâm sàng và cận lâm sàng liên quan biến chứng xuất huyết nặng

Đối tượng-Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiền cứu những bệnh nhân ≥ 15 tuổi nhập khoa Hồi sức Tích cực Chống độc người lớn-Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới trong khoảng thời gian từ 1/2010 đến 1/2012 được chẩn đoán SXH-D nặng theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới 2009 So sánh nhóm xuất huyết nặng với nhóm không xuất huyết nặng tìm các yếu tố lâm sàng và cận lâm sàng liên quan

Kết quả nghiên cứu: Tỷ lệ bệnh nhân có biểu hiện xuất huyết nặng 42/197 (21,3%) Kết quả điều trị có 21/42 (50%) bệnh nhân tử vong Những dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng có liên quan với biểu hiện xuất huyết nặng: rối loạn tri giác (OR=75,9); mạch nhanh 120 lần/phút (OR=6,2); nhịp thở nhanh 28 lần/phút (OR=14); biểu hiện tái sốc (OR=4,7); xuất huyết tiêu hóa (OR=191,2); xuất huyết âm đạo (OR=12,3); chảy máu mũi (OR=44,8); dung tích hồng cầu giảm 40% (OR=13,3); thời gian prothombin kéo dài 20 giây (OR=7,2); APTT kéo dài 60 giây (OR=6,1); lactate máu 5 mEq/L (OR=29,1)

Kết luận: Xuất huyết nặng là một biến chứng nguy hiểm góp phần gia tăng tỷ lệ bệnh nặng và tử vong cho bệnh nhân SXH-D người lớn Nếu bệnh nhân SXH-D người lớn có biểu hiện rối loạn tri giác, mạch nhanh 120 lần/phút, nhịp thở nhanh 28 lần/phút, tái sốc, DTHC có xu hướng giảm 40%, thời gian Prothombin kéo dài

20 giây, APTT kéo dài 60 giây và lactate máu 5 mEq/L; các bác sỹ lâm sàng cần lưu ý các vị trí xuất huyết ở đường tiêu hóa, âm đạo, mũi để có hướng chẩn đoán và xử trí kịp thời các trường hợp xuất huyết nặng nhằm góp phần giảm tỷ lệ tử vong của bệnh

Từ khóa: Sốt xuất huyết Dengue nặng, xuất huyết nặng và tử vong

ABSTRACT

CLINICAL AND PARA-CLINICAL FACTORS RELATING TO COMPLICATION OF SEVERE

BLEEDING IN ADULT DENGUE HEAMORRHAGIC FEVER

Nguyen Van Hao, Duong Bich Thuy

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 17-Supplement of No 1-2013: 165 - 172

Background-Objectives: Dengue hemorrhagic fever (DHF) in adult is different from that in children because of more common bleeding manifestations and patients will die in case of severe hemorrhage The research objectives are to describe and identify the clinical and para-clinical factors relating to complication of bleeding Method: A prospective cross sectional research was conducted on patients more than 15 years old admitted

to the Adult Intensive Care Unit of the Hospital for Tropical Diseases from January 2010 to January 2012 with

* Bộ Môn Nhiễm Trường Đại Học Y Dược TPHCM

** Khoa cấp cứu Hồi sức tích cực Chống độc người lớn bệnh viện Nhiệt đới TPHCM

Tác giả liên lạc: ThS BS Nguyễn Văn Hảo, ĐT: 0913857025 , Email: haodiep61@gmail.com

Trang 2

diagnosis of severe DHF according to 2009 WHO criteria A comparison between major bleeding group and non-major one was studied to find out the clinical and laboratory factors relating to hemorrhage

Results: The proportion of severe bleeding patients was 21.3% (42/197) 21/42 (50%) patients died The clinical and para-clinical factors relating to major bleeding were mental disorder (OR=75.9), tachycardia 120 times/min (OR=6.2), tachypnea 28 times/min (OR=14), recurrent shock (OR=4.7), digestive hemorrhage (OR=191.2), vaginal bleeding (OR=12.3), epistaxis (OR=44.8), decrease in hematocrit 40% (OR=13.3), prolonged Prothrombin time 20 sec (OR=7.2), prolonged APTT 60 sec (OR=6.1) and lactatemia 5 mEq/L (OR=29.1)

Conclusion: Severe bleeding is a hazard complication contributing to the development of severe cases and death in DHF adult patients If DHF adult patients have mental disorder, tachycardia 120times/min, tachypnea

28times/min, recurrent shock, decrease in hematocrite 40%, prolonged Prothrombin time 20sec, prolonged APTT 60sec and lactatemia 5mEq/L, clinical doctors should pay attention to digestive, vaginal and nasal bleeding in order to give diagnosis and treatment timely the major heamorrhagic cases to decrease mortality rate Keywords: Severe Dengue haemorrhagic fever, severe bleeding and death

ĐẶT VẤN ĐỀ

Những năm gần đây, bệnh sốt xuất huyết

Dengue (SXH-D) không chỉ ảnh hưởng đến trẻ

em mà có xu hướng gia tăng tỷ lệ mắc bệnh ở

các nhóm tuổi lớn hơn và lan nhanh sang

nhiều khu vực trên toàn thế giới(10) Tại Việt

Nam, theo số liệu của Viện Pasteur thành phố

Hồ Chí Minh (TPHCM) từ năm 1998 đến năm

2008 cho thấy số lượng bệnh nhân người lớn

chiếm khoảng 1/3 trong tổng số bệnh nhân

mắc SXH-D ở 20 tỉnh thành phía Nam Việt

Nam, số lượng tử vong ở người lớn cũng

chiếm khoảng 1/3 số lượng tử vong hàng

năm(9) Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn nhiều

điểm chưa rõ về các yếu tố nguy cơ mắc bệnh

nặng, cũng như mối tương quan giữa các biến

đổi sinh học trong bệnh cảnh SXH-D nặng

người lớn Theo nhận định của nhiều tác giả,

đặc điểm bệnh SXH-D người lớn khác trẻ em,

với biểu hiện xuất huyết nặng thường gặp hơn

và dễ gây tử vong cho người bệnh(3,4) Ngoài

ra, trong bệnh cảnh SXH-D nặng, bệnh nhân

thường có tình trạng sốc do thoát huyết tương

trước đó nên trị số dung tích hồng cầu

(DTHC) thường tăng cao Vì vậy các bác sỹ

lâm sàng sẽ rất khó nhận biết biểu hiện xuất

huyết nặng vì không thể dựa vào trị số DTHC,

việc điều trị xuất huyết nặng sẽ rất trễ nếu chờ

DTHC giảm thấp Xuất huyết nặng xảy ra khi

bệnh nhân rơi vào vòng lẫn quẫn của sốc không đáp ứng với truyền dịch, quá tải dịch truyền, rối loạn chuyển hóa và rối loạn chức năng đa cơ quan(5,11) Xác định nhu cầu truyền máu và truyền máu kịp thời cho bệnh nhân rất quan trọng nhằm giảm thiểu tối đa diễn biến xấu của bệnh, ngăn ngừa các biến chứng tổn thương tạng khó kiểm soát Đặc biệt trong điều kiện thực tế ở nước ta, tình hình dự trữ máu khan hiếm, nên việc tiên đoán sớm nhu cầu truyền máu của bệnh nhân rất cần thiết Xuất phát từ những yêu cầu trên chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu “Các yếu tố lâm sàng và cận lâm sàng liên quan biến chứng xuất huyết nặng trong bệnh sốt xuất huyết Dengue người lớn” với mục tiêu mô tả và xác định các yếu tố lâm sàng và cận lâm sàng có liên quan xuất huyết nặng

ĐỐI TƯỢNG-PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiền cứu

Đối tượng nghiên cứu

Dân số đích

Tất cả các bệnh nhân ≥ 15 tuổi được chẩn đoán và điều trị SXH-D tại BVBNĐ TPHCM

Dân số nghiên cứu

Tất cả các bệnh nhân ≥ 15 tuổi được chẩn

Trang 3

đoán và điều trị SXH-D nặng tại khoa

CCHSTCCĐNL BVBNĐ từ 1/2010 đến 1/2012

Tiêu chuẩn chọn mẫu

Bệnh nhân ≥ 15 tuổi Được chẩn đoán

SXH-D nặng theo tiêu chuẩn của Tổ chức y tế

thế giới (TCYTTG) (2009) (10 Có xét nghiệm

MAC-ELISA (+) hoặc NS1 (+) Đồng ý tham gia

nghiên cứu

Định nghĩa

Tổn thương gan nặng: AST hoặc ALT 

1000 U/L(10)

Tổn thương thận: Khi creatinine máu tăng 

2 lần giới hạn trên theo tuổi, đối với người lớn 

2,5mg% (221 mmol/L)

Sốc do thoát huyết tương: khi bệnh nhân có

biểu hiện tụt huyết áp (huyết áp tâm thu < 90

mmHg) hoặc huyết áp kẹp (hiệu số huyết áp tối

đa và huyết áp tối thiểu  20 mmHg), mạch

nhanh > 90 lần/phút với các dấu hiệu giảm tưới

máu ngoại vi như kéo dài thời gian đổ đầy mao

mạch ( 2 giây), chi mát và có DTHC tăng  20%

trị số căn bản(10)

Tái sốc: sau khi xử trí chống sốc ban đầu tình

trạng huyết động ổn định ≥ 6 giờ, bệnh nhân có

biểu hiện rối loạn huyết động trở lại, và có nhu

cầu phải chống sốc bằng dịch truyền

Xuất huyết tiêu hóa khi có biểu hiện ói máu

hoặc tiêu máu, hoặc có máu, dịch nâu đen trong

ống thông dạ dày

Xuất huyết âm đạo khi bệnh nhân nữ có biểu

hiện ra huyết âm đạo bất thường, không đúng

chu kỳ kinh hoặc có kinh với lượng nhiều và kéo

dài hơn bình thường

Xuất huyết nặng: xuất huyết được xem là

nặng khi có chỉ định truyền máu phù hợp, gồm:

a) Tình trạng huyết động của bệnh nhân không

ổn định mặc dù đã được bồi hoàn đủ dịch (

40-60 ml/kg) mà CVP vẫn còn thấp và DTHC có xu

hướng giảm nhanh hoặc b) Bệnh nhân có biểu

hiện xuất huyết ồ ạt trên lâm sàng như ói ra máu

hoặc ra huyết âm đạo lượng lớn

Tăng lactate máu nặng khi lactate máu động

mạch  5 mEq/L

Phân tích số liệu

Bằng phần mềm SPSS 20.0 So sánh các biến định lượng có phân phối chuẩn bằng phép kiểm t student, các biến định lượng không có phân phối chuẩn bằng Mann Whitney U, các biến định tính bằng phép kiểm

2, tính OR khi so sánh các biến định tính, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p  0,05 Sử dụng phương pháp hồi quy logistic khi phân tích đa biến nhằm hiệu chỉnh các giá trị OR, khoảng tin cậy (KTC) 95%

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Đặc điểm chung của dân số nghiên cứu

Từ 1/2010 đến 1/2012, khoa Cấp cứu Hồi sức Tích cực Chống độc người lớn (CCHSTCCĐNL)-BVBNĐ tiếp nhận và điều trị 197 bệnh nhân SXH-D nặng, xác định bằng IgM ELISA hoặc NS1 dương tính Có 42/197 (21,3%) bệnh nhân xuất huyết nặng Kết quả điều trị có 21/42 (50%) bệnh nhân tử vong 18 trường hợp chết trong bệnh cảnh sốc, xuất huyết nặng và tổn thương tạng, có 3 trường hợp chết do tổn thương tạng và xuất huyết nặng Tất cả trường hợp tử vong đều

có liên quan với xuất huyết nặng (18 ca chết ở nhóm sốc, 03 ca chết ở nhóm không sốc)

So sánh đặc điểm lâm sàng lúc mới nhập viện của nhóm xuất huyết nặng với nhóm không xuất huyết nặng

Bảng 1 So sánh dấu hiệu sinh tồn lúc mới nhập viện của nhóm xuất huyết nặng với nhóm không xuất huyết nặng

Xuất huyết nặng n=42

không xuất huyết nặng n=155

P

OR KTC 95% Sốc do thoát huyết

tương; n (%)

31 (73,8) 131 (84,5) 0,107 Tái sốc; n (%) 19/31 (61,3) 40/131 (30,5) 0,001

3,6 1,5-8,1 Rối loạn tri giác;

n (%)

15 (35,7) 7 (4,5) <0,005

7,9 3,4-18,1

Trang 4

Xuất huyết nặng n=42

không xuất huyết nặng n=155

P

OR KTC 95%

Mạch (lần/phút)

trung vị

(tối thiểu- tối đa)

120 (85-150)

100 (66-150)

0,001

Mạch nhanh

120lần/phút; n (%)

23 (54,8) 16 (10,3) <0,005

10,5 4,7-23,3 Nhịp thở (lần/phút)

trung vị

(tối thiểu-tối đa)

28 (18-50)

20 (18-40)

0,001

Thở nhanh

28 lần/phút; n (%)

24 (57,1) 11 (7,1) <0,005

17,4 7,3-41,5

Bảng 2: Giá trị p, OR, KTC 95% của các biến số liên

quan các dấu hiệu sinh tồn sau khi được hiệu chỉnh

bằng phân tích hồi quy đa biến

p OR KTC 95%

Rối loạn tri giác 0,001 75,9 5,7-1003,4

Tái sốc 0,017 4,7 1,3-17,1

Thở nhanh  28

lần/phút <0,0005 14 3,7-52,4

Mạch nhanh 

120lần/phút 0,003 6,2 1,8-21

Nhận xét: Khi tiến hành phân tích hồi quy đa

biến nhằm tìm những dấu hiệu sinh tồn có liên

quan biểu hiện xuất huyết nặng, chúng tôi nhận

thấy những biến số sau đây có liên quan với tình

trạng xuất huyết nặng: rối loạn tri giác, tái sốc,

thở nhanh  28 lần/phút, mạch nhanh  120

lần/phút

Bảng 3: Vị trí xuất huyết

Nhóm xuất

huyết nặng

n=42

Nhóm không xuất huyết nặng n=155

P

OR KTC 95%

Xuất huyết tiêu

hóa; n (%)

31 (73,8) 5 (3,2) 0,0001

84,5 27,4-260,5 Chảy máu

nướu răng; n

(%)

9 (21,4) 20 (12,9) 0,167

Chảy máu mũi;

n (%)

5 (11,9) 3 (1,9) 0,004

6,8 1,5-29,9 Khối máu tụ;

n (%)

4 (9,5) 1 (0,6) 0,0001

16,2 1,7-149,2

Nhóm xuất huyết nặng n=42

Nhóm không xuất huyết nặng n=155

P

OR KTC 95%

Tử ban dạng điểm; n (%)

29 (69,0) 116 (74,8) 0,450

Xuất huyết âm đạo; n (%)

8 (30,8) 15 (20,3) 0,274

Bảng 4: Giá trị p, OR, KTC 95% của các biến số liên quan vị trí xuất huyết sau khi được hiệu chỉnh bằng phân tích hồi quy đa biến

p OR KTC 95%

Tử ban dạng điểm 0,566 0,6 0,1-3,5 Chảy máu mũi 0,020 44,8 1,8-1104,7

Chảy máu nướu răng 0,180 4,8 0,5-48,3 Xuất huyết âm

đạo 0,007 12,3 2-75,7 Xuất huyết tiêu

hóa <0,0005 191,2 22,3-1636,1

Nhận xét: khi tiến hành phân tích hồi quy đa biến các biến số liên quan vị trí xuất huyết chúng tôi nhận thấy những biến số sau đây có liên quan với tình trạng xuất huyết nặng: xuất huyết tiêu hóa, xuất huyết âm đạo, chảy máu mũi

So sánh đặc điểm cận lâm sàng lúc mới nhập viện của nhóm xuất huyết nặng với nhóm không xuất huyết nặng

Bảng 5 Mối liên quan giữa biểu hiện xuất huyết nặng và xét nghiệm công thức máu toàn bộ

Xuất huyết nặng n=42

Không xuất huyết nặng n=155

P

OR KTC 95% DTHC* (%) trung vị

(tối thiểu-tối đa)

40,4 (19-58)

45,3 (24,7-63)

0,003

DTHC40%; n (%) 21 (50) 36 (23,2) 0,001

3,3 1,6-6,7

số lượng bạch cầu (k/mm3) trung vị (tối thiểu-tối đa)

10,4 (9,2 -27,3)

5,2 (1,4 -28,7)

0,003

Số lượng bạch cầu

10000/mm3; n (%)

19 (45,2) 18 (11,6) <0,005

6,3 2,9-13,7

số lượng BCĐNTT`

(k/mm3) Trung vị (tối thiểu-tối đa)

6,3 (0,5-20,1)

2,4 (0,8-25,8)

0,001

Trang 5

Xuất huyết nặng n=42

Không xuất huyết nặng n=155

P

OR KTC 95%

số lượng tiểu cầu

(k/mm3) trung vị

(tối thiểu-tối đa)

19,4 (4-142)

19 (3-167)

0,164

*DTHC: Dung tích hồng cầu; `BCĐNTT: bạch cầu đa nhân

trung tính

Bảng 6 Mối liên quan giữa biểu hiện xuất huyết

nặng và giá trị của các xét nghiệm cận lâm sàng liên

quan với chức năng đông máu huyết tương

Xuất huyết nặng n=42

Không xuất huyết nặng n=155

P

OR KTC 95%

Prothombin time

(giây)

trungvị(tối thiểu-tối

đa)

26,5 (11,4-91,8)

14 (11- 72)

0,0001

Prothombin

time20 giây; n (%)

24 (57,1) 8 (5,2) <0,005

24,5 9,6-62,6 APTT (giây)

trung vị (tối thiểu-

tối đa)

59,7 (21,8-140)

46,3 (31,4-95,2)

0,001

APTT 60 giây;

n (%)

17 (40,5) 8 (5,2) <0,005

12,5 3,9-32 Fibrinogen máu

(g/L)

trung vị (tối thiểu-

tối đa)

1,1 (0,0-3,2)

1,5 (0,6-3,4)

0,001

Fibrinogen máu

1g/L; n (%)

16 (38,1) 10 (6,5) <0,005

8,9 3,6-21,8

Bảng 7 Mối liên quan giữa biểu hiện xuất huyết

nặng và giá trị của các xét nghiệm cận lâm sàng liên

quan với chức năng các cơ quan

Xuất huyết nặng n=42

Không xuất huyết nặng n=155

P

OR KTC 95%

Lactate máu

(mmol/L)

Trung vị

(tối thiểu- tối đa)

9,5 1,5-24,0

2,5 0,9-9,0

0,001

lactate máu  5

mEq/L; n (%)

26 (61,9) 6 (3,9) <0,005

40,1 12,6-314,4 Creatinin/máu

(mmol/L)

trung vị

(tối thiểu- tối đa)

108

27 -502

71 30-566

0,001

Xuất huyết nặng n=42

Không xuất huyết nặng n=155

P

OR KTC 95% Tăng creatinin

máu 221 mmol/L;

n (%)

9 (21,4) 3 (1,9) <0,005

13,8 3,5-53,8 AST (U/L)

trung vị (tối thiểu-tối đa)

6199,5 (22 -27790)

240 (35-20402)

0,001

ALT (U/L) trung vị (tối thiểu-tối đa)

1807 (20-9740)

132,5 (4-6793)

0,0001

Tăng men gan  1000U/L; n (%)

34 (81) 34 (21,9) <0,005

15,1 6,4-35,7

Bảng 8: Giá trị p, OR, KTC 95% của các biến số liên quan xét nghiệm cận lâm sàng sau khi được hiệu chỉnh bằng phân tích hồi quy đa biến

p OR (KTC 95%)

BC 10000/mm3 0,133 2,5 (0,7-8,7) DTHC  40% <0,0005 13,3 (3,3-54,2) Lactate  5 mEq/L <0,0005 29,1 (5,4-157,8) Creatinin máu 221mmol/L 0,637 1,5 (0,2-10,0) Tăng men gan 1000 U/L 0,929 1,0 (0,2-4,4) Tăng thời gian prothombin

20 giây 0,021 7,2 (1,3-38,2) APTT60 giây 0,036 6,1 (1,1-32,9) Giảm fibrinogen máu  1g/L 0,464 0,5 (0,1-3,0)

Nhận xét: Khi tiến hành phân tích hồi quy đa biến chúng tôi nhận thấy những biến số sau đây

có liên quan tình trạng xuất huyết nặng với p  0,05: DTHC  40%, Lactate máu  5 mEq/L, kéo dài PT  20 giây, kéo dài APTT60 giây

So sánh kết quả điều trị

Bảng 9 Ảnh hưởng của xuất huyết nặng lên kết quả điều trị

Xuất huyết nặng n=42

Không xuất huyết nặng n=155

P

Số ngày ở khoa HSTC

4  6,4 (1-27) 2  1,7 (1-12) <0,005

Tử vong n (%) 21 (50) 0 (0) <0,005

Nhận xét: Xuất huyết nặng làm kéo dài thời gian nằm điều trị tại khoa Hồi sức tích cực và tăng nguy cơ tử vong

BÀN LUẬN

Chúng tôi ghi nhận 42/197 (21,3%) trường hợp có biểu hiện xuất huyết nặng Trong số này

Trang 6

chỉ có 4 trường hợp (2%) xuất huyết nặng đơn

thuần, 28 trường hợp (14,2%) xuất huyết nặng

kèm với sốc thoát huyết tương và tổn thương

tạng, 10 trường hợp (5,1%) xuất huyết nặng kèm

biểu hiện sốc do thoát huyết tương hoặc tổn

thương tạng

Khi tiến hành phân tích hồi quy đa biến

chúng tôi đã tìm thấy những dấu hiệu sinh tồn

có liên quan biểu hiện xuất huyết nặng:

- Rối loạn tri giác OR=75,9 (KTC 95%:

5,7-1003,4) với p = 0,001

- Tái sốc OR=4,7 (KTC 95%: 1,3-17,1) với p =

0,017

- Thở nhanh  28 lần/phút OR=14 (KTC 95%:

3,7-52,4) với p < 0,0005

- Mạch nhanh  120 lần/phút OR=6,2 (KTC

95%: 1,8-21) với p = 0,003 (Bảng 2)

Tỷ lệ sốc do thoát huyết tương 162/197

(82,2%), trong đó có 113 trường hợp diễn biến

sốc do thoát huyết tương đơn thuần Trên lâm

sàng rất khó nhận biết biểu hiện xuất huyết nặng

đi kèm sốc do thoát huyết tương Qua nghiên

cứu này chúng tôi tìm thấy ngoài biểu hiện tái

sốc, các yếu tố mạch rất nhanh  120 lần/phút,

nhịp thở nhanh  28 lần/phút và rối loạn tri giác

là những biểu hiện có liên quan rõ rệt với tình

trạng xuất huyết nặng, và các dấu hiệu này cũng

hiếm gặp trong bệnh cảnh sốc do thoát huyết

tương đơn thuần

Biểu hiện xuất huyết da niêm rất thường gặp

trong SXH-D với vị trí xuất huyết ở nhiều nơi

khác nhau Chúng tôi tìm thấy những vị trí có

liên quan với xuất huyết nặng như sau:

- Xuất huyết tiêu hóa OR=191,2 (KTC 95%:

22,3-1636,1) p < 0,0005

- Chảy máu mũi OR=44,8 (KTC

95%:1,8-1104,7) p = 0,020

- Xuất huyết âm đạo OR=12,3 (KTC 95%:

2-75,7) p = ,007 (bảng 4)

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy

biểu hiện xuất huyết tiêu hóa chiếm tỷ lệ cao

31/42 (73,8%), phù hợp với nhận xét của các tác

giả khác cho rằng biến chứng xuất huyết tiêu hóa chiếm tỷ lệ cao trong những trường hợp chết

do SXH-D(8) Mặt khác, vài tác giả cho rằng xuất huyết được xem là nặng khi bệnh nhân có huyết động không ổn định, xuất huyết từ niêm mạc miệng, mũi hoặc âm đạo và ban xuất huyết dưới

da thường gặp nhưng hiếm khi nặng và thường

tự cầm(2,6,8) Vì đa số bệnh nhân xuất huyết nặng thường từ đường tiêu hóa, nên đặt ống thông dạ dày sớm đối với các bệnh nhân có biểu hiện nghi ngờ xuất huyết nặng để tiện theo dõi diễn biến của tình trạng xuất huyết (thường các bác sỹ lâm sàng trì hoãn đặt ống thông dạ dày cho tới khi bệnh nhân có biểu hiện ói ra máu hoặc tiêu phân đen do lo ngại biến chứng chảy máu mũi rất khó kiểm soát nếu đặt ông thông dạ dày qua mũi, nên chăng chúng ta có thể đặt ống thông dạ dày qua miệng)

Qua phân tích đơn biến giá trị của các xét nghiệm: công thức máu toàn bộ, bilan đông máu huyết tương, bilan tổn thương cơ quan gan thận, rối loạn thăng bằng kiềm toan, chúng tôi ghi nhận được 8 yếu tố cận lâm sàng có liên quan với biểu hiện xuất huyết nặng: DTHC, số lượng bạch cầu, prothombin time, APTT, fibrinogen máu, men gan, creatinin máu, lactate máu Sau khi hiệu chỉnh bằng phân tích hồi quy logistic còn lại những biến sau có liên quan với tình trạng xuất huyết nặng:

- DTHC  40% OR=13,3 (KTC 95%: 3,3-54,2) p

< 0,0005

- Lactate máu  5 mEq/L OR=29,1 (KTC 95%: 5,4-157,8) p < 0,0005

- Prothombin time kéo dài  20 giây OR=7,2 (KTC 95%: 1,3-38,2) p = 0,021

- APTT kéo dài  60 giây OR=6,1 (KTC 95%: 1,1-32,9) p = 0,036 (bảng 8)

Tình trạng thoát huyết tương ở bệnh nhân SXH-D nặng thường gây cô đặc máu với DTHC tăng cao Khi bệnh nhân có biểu hiện sốc mà trị số DTHC có khuynh hướng giảm nhanh cần lưu ý tình trạng xuất huyết nặng đi kèm, qua nghiên cứu này chúng tôi tìm thấy

Trang 7

nếu DTHC giảm 40% có liên quan với biểu

hiện xuất huyết nặng Ngoài ra nếu bệnh nhân

chỉ có thoát huyết tương đơn thuần, trị số

lactate máu vẫn còn trong giới hạn bình

thường Nghiên cứu này cho thấy với trị số

lactate máu 5 mEq/L có liên quan rõ với biểu

hiện xuất huyết nặng có thể do tình trạng xuất

huyết góp phần giảm khả năng mang oxy mô

Thời gian prothombin (PT) kéo dài (giá trị

trung bình: 26,5 giây), APTT kéo dài (59,7

giây), trong nhóm bệnh nhân xuất huyết nặng

khác biệt rõ rệt so với nhóm không xuất huyết

nặng (thời gian prothombin = 14 giây, APTT=

46,3 giây), điều này cho thấy bên cạnh các cơ

chế bệnh sinh gây xuất huyết thường gặp

trong bệnh cảnh SXH-D như giảm tiểu cầu,

tăng nhẹ APTT, giảm nhẹ fibrinogen, các bất

thường về đông máu huyết tương khác như

thời gian prothombin kéo dài trong những

bệnh nhân xuất huyết nặng Ghi nhận này

cũng phù hợp với nhận định của nhiều tác giả

trong nghiên cứu về cơ chế xuất huyết trong

bệnh cảnh SXH-D, đa số bệnh nhân có biểu

hiện giảm tiểu cầu, kéo dài APTT và giảm

fibrinogen, chỉ trong những trường hợp

SXH-D nặng, mới có biểu hiện bất thường thời gian

prothombin(2, 7 Từ nhận xét về cơ chế bệnh

sinh của xuất huyết nặng chúng tôi cho rằng

ngoài việc xử trí cầm máu tại chỗ như nhét gạc

cầm máu mũi, băng ép các chỗ tiêm chích, các

thuốc ức chế tiết acid hoặc trung hóa acid

trong bệnh lý viêm loét dạ dày tá tràng , bên

cạnh việc truyền hồng cầu lắng và tiểu cầu

cũng cần lưu ý truyền huyết tương tươi và kết

tủa lạnh nếu có biểu hiện bất thường

prothombin time nhằm mục đích cung cấp

thêm các yếu tố đông máu huyết tương

Kết quả trình bày ở bảng 9 cho thấy xuất

huyết nặng làm kéo dài thời gian nằm điều trị

tại khoa hồi sức tich cực và tăng nguy cơ tử

vong Xuất huyết nặng là một biến chứng

nguy hiểm trong bệnh cảnh SXH-D, hầu như

xảy ra 100% trường hợp trước khi tử vong

Theo nhận xét của các tác giả khác cho rằng

xuất huyết nặng là nguyên nhân của 70%- 80% trường hợp tử vong(8,11)

Hạn chế của nghiên cứu này: do phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang nên chúng tôi không lý giải được mối liên hệ nhân quả của các biến số với biểu hiện xuất huyết nặng Trong quá trình thu thập số liệu chúng tôi đã bỏ sót một vài trường hợp liên quan với các biến số cận lâm sàng, tuy nhiên số lượng ca bỏ lỡ không ảnh hưởng đáng kể kết quả nghiên cứu

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu này chúng tôi nhận thấy xuất huyết nặng là một biến chứng nguy hiểm góp phần gia tăng tỷ lệ bệnh nặng và tử vong cho người bệnh SXH-D Trong bệnh cảnh SXH-D nặng ở người lớn, đặc biệt có sốc do thoát huyết tương, việc chẩn đoán sớm tình trạng xuất huyết nặng rất quan trọng đối với các bác sỹ lâm sàng Dựa trên cơ sở dữ liệu từ nghiên cứu này, chúng tôi ghi nhận những dấu hiệu lâm sàng và cận lâm sàng có liên quan với biểu hiện xuất huyết nặng trong bệnh SXH-D người lớn như rối loạn tri giác, mạch nhanh  120 lần/phút, nhịp thở nhanh  28 lần/phút, biểu hiện tái sốc, DTHC có

xu hướng giảm  40%, thời gian prothombin kéo dài  20 giây, APTT kéo dài  60 giây, lactate/máu  5 mEq/L; ngoài ra cần lưu ý các vị trí xuất huyết ở đường tiêu hóa, âm đạo, mũi Nếu bệnh nhân SXH-D nặng có các biểu hiện trên, các bác sỹ lâm sàng cần lưu ý biến chứng xuất huyết nặng để có hướng chẩn đoán và xử trí kịp thời nhằm góp phần giảm tỷ lệ bệnh nặng

và tử vong của bệnh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Chan KP, Lau GK, Doraisingham S, Chan YC (1995): Adult

dengue deaths in Singapore Clin Diagn Virol, 4(3):213-222

2 Đinh Thế Trung (2009): Khảo sát rối loạn đông máu trong bệnh

nhiễm Dengue cấp ở người lớn Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành

Nhiễm, Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh

3 Hammond SN, Balmaseda A, Perez L, Tellez Y, Saborio SI, Mercado JC, Videa E, Rodriguez Y, Perez MA, Cuadra R et al

(2005): Differences in dengue severity in infants, children, and adults

in a 3-year hospital-based study in Nicaragua The American

journal of tropical medicine and hygiene, 73(6):1063-1070

4 Hanafusa S, Chanyasanha C, Sujirarat D, Khuankhunsathid I,

Yaguchi A, Suzuki T (2008): Clinical features and differences

Trang 8

between child and adult dengue infections in Rayong Province,

southeast Thailand The Southeast Asian journal of tropical

medicine and public health, 39(2):252-259

5 Lee IK, Liu JW, Yang KD (2012): Fatal dengue hemorrhagic fever

in adults: emphasizing the evolutionary pre-fatal clinical and

laboratory manifestations PLoS neglected tropical diseases,

6(2):e1532

6 Ooi ET, Ganesananthan S, Anil R, Kwok FY, Sinniah M (2008):

Gastrointestinal manifestations of dengue infection in adults Med J

Malaysia, 63(5):401-405

7 Srikiatkhachorn A, Green S (2010): Markers of dengue disease

severity Curr Top Microbiol Immunol, 338:67-82

8 Tsai CJ, Kuo CH, Chen PC, Changcheng CS (1991): Upper

gastrointestinal bleeding in dengue fever The American journal of

gastroenterology, 86(1):33-35

9 Viện Pasteur TPHCM (2010): Tình hình dịch bệnh sốt xuất huyết

trong năm 2010 và những vấn đề cần quan tâm giải quyết

10 WHO (2009) Dengue guidelines for Diagnosis, Treatment,

Prevention and Control, Geneva

11 Yadav SP, Sachdeva A, Gupta D, Sharma SD, Kharya G (2008):

Control of massive bleeding in dengue hemorrhagic fever with severe thrombocytopenia by use of intravenous anti-D globulin Pediatr

Blood Cancer, 51(6):812-813

Ngày đăng: 23/01/2020, 00:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w