1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Những kết quả ban đầu của kỹ thuật đặt mảnh ghép giữa - dưới cho kiểu lỗ thủng toàn bộ hay gần toàn bộ

4 53 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 182,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu nhằm đánh giá những kết quả bam đầu của kỹ thuât tạo hình màng nhĩ với mảnh ghép đặt giữa - dưới cho lỗ thủng toàn bộ hay gần toàn bộ. Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca, 23 bệnh nhân được phẫu thuật tạo hình màng nhĩ với mảnh ghép đặt giữa - dưới tại 4 bệnh viện: Nguyễn Trãi, Trưng Vương, Đại học Y Dược cơ sở I, II và Vạn Hạnh từ tháng 11/2005 đến 12/2006.

Trang 1

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 11 * Phụ bản Số 1* 2007

NHỮNG KẾT QUẢ BAN ĐẦU CỦA KỸ THUẬT ĐẶT MẢNH GHÉP GIỮA - DƯỚI CHO KIỂU LỖ THỦNG TOÀN BỘ HAY GẦN TOÀN BỘ

Nguyễn Đình Mỹ*, Nguyễn Hoàng Nam**, Nguyễn Hữu Khôi**

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá những kết quả bam đầu của kỹ thuât tạo hình màng nhĩ với mảnh ghép đặt giữa -

dưới cho lỗ thủng toàn bộ hay gần toàn bộ

Thiết kế nghiên cứu : Mô tả hàng loạt ca, 23 bệnh nhân được phẫu thuật tạo hình màng nhĩ với mảnh

ghép đặt giữa - dưới tại 4 bệnh viện : Nguyễn Trãi, Trưng Vương, Đại học Y Dược cơ sở I, II và Vạn Hạnh từ tháng 11/2005 đến 12/2006

Kết quả : Tỷ lệ thành công là 86.95%, không thủng, không sụp nhĩ, không lệch ra ngoài trong 3 tháng

và cải thiện sức nghe chiếm tỷ lệ 84.3%

Kết luận : Kỹ thuật đặt mảnh ghép giữa - dưới được thực hiện như là sự kết hợp của 2 phương pháp

Overlay và Underlay Những mặt tích cực của 2 phương pháp này sẽ được tận dụng giúp cho kỹ thuật này trở nen đáng tin cậy và ít nhược điểm hơn

SUMMARY

PRELIMINARY RESULTS TO IN-UNDERLAY MYRINGOPLASTY FOR TOTAL

OR SUBTOTAL TYMPANIC MEMBRANE PERFORATION

Nguyen Dinh My, Nguyen Hoang Nam, Nguyen Huu Khoi

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 11 – Supplement of No 1 - 2007: 148 – 151

Objectives : To describe and evaluate the Over-Under graft myringoplasty for the reconstruction of

total or subtotal tympanic membrane perforation

Study design : Descriptive study as case series Data were analysed from 23 patients who underwent

the Over-Under graft myringoplasty at Nguyen Trai, the HCMC University of Medicine, Trung Vuong and Van Hanh Hospital from November 2005 to December 2006

Results : Overall perforation closure rate was 86.95% and the rate of the hearing threshold

improvement was 84.3% (no perforation, atelectasis, or lateralization within 3 months)

Conclusion : The Over-Under myringoplasty has performed as a combination of the Overlay and

Underlay graft method The postive attributes of both methods have been adapted to develop a reliable technique with minimal disadvantages

Key words : Over-Under myringoplasty

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hai kỹ thuật đặt mảnh ghép cơ bản đã được

hoàn chỉnh và phổ biến vào khoảng cuối thập

niên 50, đầu thập niên 60 Kỹ thuật Overlay được

mô tả bởi House và Sheehy với mảnh ghép được

đặt trên lớp lamina propria và kỹ thuật Underlay

được hoàn chỉnh bởi Shea và Tabb, mảnh ghép

được đặt dưới lớp Lamina Propria và cán búa

Mỗi một phương pháp đều có những ưu điểm và

nhược điểm riêng của nó

Nhược điểm thường gặp đối với kỹ thuật Overlay :

* Mất góc nhọn giữa thành trước ống tai và mép trước màng nhĩ, điều này sẽ dẫn đến giảm biên độ rung của màng nhĩ do vậy khả năng phục hồi về mặt thính lực sẽ hạn chế Trong những trường hợp góc tù quá lớn, màng nhĩ sẽ tách rời khỏi hẳn cán xương búa và không còn chức năng

* BV Nguyễn Trãi - Tp Hồ Chí Minh

** Bộ môn Tai Mũi Họng - Đại học Y Dược Tp Hồ Chí Minh

Trang 2

Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 11 * Phụ bản Số 1* 2007 Nghiên cứu Y học

Chuyên Đề Tai Mũi Họng - Mắt

150

của một màng nhĩ bình thường

* Khả năng tạo hạt trai cholesteatoma nếu ta

để sót lại mảnh thượng bì dưới màng nhĩ mới Hạt

trai cholesteatoma này sẽ hình thành và phá vỡ

màng nhĩ mới Nhược điểm thường gặp đối với kỹ

thuật Underlay :

* Hạn chế phẫu trường : Với kỹ thuật này

thường quan sát toàn bộ góc trước màng nhĩ sẽ rất

hạn chế

* Hở mép trước : Thường gặp do chúng ta

nhét gelfoam không thích hợp, mảnh ghép có thể

bị sụp xuống mặt trong của hòm nhĩ hoặc đẩy ra

ngoài ống tai

* Trong những trường hợp thủng nhĩ toàn bộ

hoặc gần toàn bộ thì mảnh ghép khó được cố định

theo kiểu Underlay

* Xơ dính hòm nhĩ do gelfoam cũng có thể gặp

Như vậy vấn đề cần quan tâm ở đây là đối với

những lỗ thủng lớn (> 75% diện tích màng nhĩ),

mép trước màng nhĩ còn lại rất ít, tỷ lệ thất bại sẽ

rất cao cho cả hai kỹ thuật đặt mảnh ghép riêng

rẽ này Chúng tôi khắc phục nhược điểm này

bằng kỹ thuật kết hợp đặt mảnh ghép giữa - dưới

(Over-Under Myringoplasty) cho kiểu lỗ thủng

toàn bộ hoặc gần toàn bộ Đây là một phương

pháp đáng tin cậy và có nhiều ưu thế

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Mô tả hàng loạt ca

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là những

bệnh nhân > 16 tuổi, thủng nhĩ rộng Thời gian

theo dõi trong vòng 3 tháng Số mẫu được chọn là

23 bệnh nhân Thời gian : Từ tháng 11/2005 đến

tháng 12/2006

Tiêu chuẩn chọn bệnh

- Viêm tai giữa mạn được điều trị nội khoa

nội khoa ổn định > 4 tuần

- Thủng rộng > 75% diện tích màng nhĩ

- Đường cốt đạo còn tốt trên thính lực đồ

Dữ kiện nghiên cứu

Theo dõi tối thiểu 3 tháng sau mổ

- Màng nhĩ đóng kín

- Hình dạng, vị trí màng nhĩ mới

- Mức độ phục hồi sức nghe trên thính lực đồ

- Thời gian thủng lại màng nhĩ

Tiến hành nghiên cứu

Tiến trình được thực hiện dưới gây mê nội khí quản

Đường rạch sau tai thường áp dụng Vật liệu ghép là cân cơ thái dương hoặc màng sụn (thường dùng sụn nắp tai) được lấy ra sẵn, xử lý mỏng đều, để khô tự nhiên hoặc dưới ánh đèn phòng mổ Bóc tách da thành sau ống tai đến gần khung nhĩ Đường rạch dọc ống tai ở vị trí 12 giờ và 6 giờ khoảng chừng 0,5cm Đường rạch ngang song song và cách khung nhĩ # 5-8 mm, nối 2 đường rạch trên

Lớp biểu bì ở quanh bờ lỗ thủng được lấy Tạo vạt da ống tai màng nhĩ ở phía sau theo kiểu đặt dưới (hình A):

Đánh giá tình trạng chuỗi xương con, niêm mạc hòm nhĩ, thám sát thượng nhĩ qua eo nhĩ, tùy theo tình trạng bệnh tích có thể gỡ bỏ mô sùi hoặc chỉnh hình xương con nếu có chỉ định

Đặt vạt da sau lại vị trí cũ để quan sát rõ mép trước Dùng dao bèo bóc tách ½ trước phần màng nhĩ còn lại tại rìa lỗ thủng, tạo một khe hở giữa lớp biểu bì màng nhĩ và lớp sợi (tách kiểu Inlay- hinh B) đến mấu ngắn xương búa, tách xuyên nối

ra nửa sau trên của khung nhĩ sau Chú ý đừng để lớp biểu bì tách rời khỏi cán búa.Lớp biểu bì trên mép trước màng nhĩ được tách không vượt quá khung nhĩ trước để đảm bảo không làm tù góc trước khi đặt mảnh ghép

Mảnh ghép được cắt tùy theo kích thước màng nhĩ, # 1x 1,5 cm, hình oval với khuyết hình chữ V tương ứng với vị trí vùng cổ xương búa

Mảnh ghép được đặt từ sau ra trước (hình C), dưới cán búa, chèn vào khe giữa lớp biểu bì và lớp sợi ở mép trước màng nhĩ, khuyết chữ V của mảnh ghép được cài vào vùng cổ xương búa ở mặt

Trang 3

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 11 * Phụ bản Số 1* 2007

dưới cán búa Có thể có hoặc không tăng cường

gelfoam trong hòm nhĩ ở ½ sau (hinh D)

Cố định bằng gelfoam mặt ngoài màng nhĩ,

chú ý mép trước – nhét một đoạn mèche ngắn ở

ống tai ngoài

Đóng vết mổ sau tai

(A)

(B)

(C)

(D)

Hình A, B, C, D: Trình tự Kỹ thuật bóc tách và đặt

mảnh ghép giữa - dưới

KẾT QUẢ

Tổng số bệnh nhân : 23 – Theo dõi tối thiểu 3 tháng

Tỉ lệ đóng kín màng nhĩ

86.95% (20 ca)

Thời điểm thủng lại màng nhĩ

< 3 tháng: 1 ca

> 3 tháng : 2 ca

Kích thước lỗ thủng mới

- 2 ca thủng trung tâm, kích thước < 3mm đường kính

- 1 ca thủng rộng toàn bộ (do bệnh nhân tự bơm rửa tai quá sớm sau mổ)

Hình dạng màng nhĩ mới

Trong số 20 ca màng nhĩ đóng kín có dạng hình nón, vị trí đúng, không tù mép trước, không sụp lõm và không di lệch ra ngoài

Mức độ thu hồi sức nghe sau mổ

Khoảng khí-cốt đạo thu hẹp trong 20 ca sau 3 tháng từ 5 – 15dB

BÀN LUẬN

- Tạo hình màng nhĩ những năm gần đây khá phổ biến tại Việt Nam Tuy nhiên đối với những lỗ thủng toàn bộ màng nhĩ thì khả năng phục hồi

Trang 4

Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 11 * Phụ bản Số 1* 2007 Nghiên cứu Y học

Chuyên Đề Tai Mũi Họng - Mắt

152

rất hạn chế đối với các kỹ thuật Underlay hoặc

Overlay thông thường(3,4) Thường gặp hở mép

trước trong kỹ thuật Underlay vì không đủ diện

tích tiếp xúc giữa mảnh vá và niêm mạc màng nhĩ

còn lại, cố định gelfoam khó thích hợp Khả năng

tù góc trước hoặc tách rời màng nhĩ mới với cán

búa trong kỹ thuật Overlay(1,3)

- Kỹ thuật đặt mảnh ghép trên-dưới như là sự

kết hợp của hai phương pháp cơ bản trên, tận

dụng ưu điểm của mỗi phương pháp, hạn chế

được các nhược điểm của chúng, chính vì vậy với

phương pháp này chúng tôi cảm thấy tin cậy hơn

nhiều(2,5)

- Đặt mảnh ghép dưới cán búa, chúng tôi sẽ

tạo được một màng nhĩ mới có hình nón gần với

hình dạng giải phẫu bình thường màng nhĩ Đảm

bảo độ rung tối ưu khi tiếp nhận sóng âm Ngoài

ra còn tránh được biến chứng do không gỡ hết

được biểu bì vùng cán búa, đồng thời miếng ghép

sẽ không bị đẩy lệch ra ngoài Khó khăn duy nhất

là những trường hợp cán búa bị kéo hoặc dính vào

ụ nhô, chúng tôi tiến hành cắt cân cơ búa trước

khi đặy mảnh ghép

- Mảnh ghép sẽ được cố định chặt giữa lớp

biểu bì và lớp sợi ở mép trước cùng với vùng trên

mấu ngắn xương búa vì vậy nó được cố định chắc

chắn Không sợ tù góc trước vì chúng tôi không bóc tách vượt qúa khe nhĩ trước

- Không cần đặt gelfoam nhiều trong hòm nhĩ để giữ mảnh ghép Chúng tôi thường chỉ đặt một miếng doc theo mặt dưới cán búa(3)

KẾT LUẬN

- Đối với những kiểu lỗ thủng màng nhĩ toàn bộ hoặc gần toàn bộ chúng tôi nhận thấy phương pháp đặt mảnh ghép giữa - dưới là thích hợp và đảm bảo, tránh được các nhược điểm của hai phương pháp Overlay và Underlay Đây là một phương pháp an toàn và dễ thực hiện phẫu thuật

- Cần có thời gian theo dõi thêm và số lượng

bệnh nhân cần nhiều hơn nữa

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Kartush J M et al (2002), Over-Under Tympanoplasty, The Laryngoscope 112 : 802-807

2 Pham Ngọc Chất (2001), Dùng vạt niêm-cốt mạc thành trước hòm nhĩ để cố định mép trước mảnh vá : Một kiểu Underlay cải tiến Tạp chí Y học HCM, tập 5, tr 94-99

3 Rizer FM (1997), Tympanoplasty : A Historical Review and a comparision and techniques, The Laryngoscope, 107(12) :

1-36

4 Timothy T.K., Park S.K (2005), Mediolateral graft tympanoplasty for anterior or subtotal tympanic memberane perforation Otolaryngology – Head & Neck Surgery, p

532-536

5 Tos M, Lau T (1986), Revision tympanoplasty, J Laryngol Oto, Otc; 100 (10) : 15-097

Ngày đăng: 23/01/2020, 00:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm