1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thông báo lâm sàng: Gây mê cho người sống hiến thùy phổi đầu tiên tại Việt Nam

7 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 165,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết phân tích về phương diện gây mê hồi sức trong quá trình lấy phổi đảm bảo chất lượng thùy phổi hiến, cũng như tăng cường hồi phục sau mổ của người hiến thuỳ phổi.

Trang 1

THÔNG BÁO LÂM SÀNG: GÂY MÊ CHO NGƯỜI SỐNG

HIẾN THUỲ PHỔI ĐẦU TIÊN TẠI VIỆT NAM

Đỗ Quyết*; Nguyễn Trường Giang*; Trần Viết Tiến*; Hoàng Văn Chương* Trần Đắc Tiệp*; Võ Văn Hiển*; Tạ Bá Thắng*; Đào Thị Khánh*; Nguyễn Trung Kiên*

TÓM TẮT

Ngày 21 - 2 - 2017, ca ghép phổi từ người cho sống đầu tiên tại Việt Nam được thực hiện thành công tại Bệnh viện Quân y 103, Học viện Quân y Phổi hiến lấy từ thuỳ dưới phổi trái của bác và thuỳ dưới phổi phải của bố ghép cho bệnh nhi 7 tuổi được chẩn đoán giãn phế quản bẩm sinh lan tỏa, biến chứng suy hô hấp, tâm phế mạn, suy dinh dưỡng độ III, có chỉ định ghép phổi Hai bệnh nhân hiến phổi được gây mê nội khí quản hai nòng, thông khí một phổi trong quá trình phẫu thuật Hoá giải giãn cơ bằng sugammadex khi kết thúc phẫu thuật, rút ống nội khí quản tại phòng mổ Kiểm soát đau sau mổ đường ngoài màng cứng ngực và 2 bệnh nhân đều hồi phục tốt sau mổ

* Từ khoá: Gây mê cắt thuỳ phổi từ người cho sống; Thông khí một phổi; Sugammadex; Giảm đau ngoài màng cứng ngực

Case Report: Anesthesia for the First Living Donor Lobar Lung in Vietnam

Summary

The first bilateral living donor lobar lung transplantation was performed successfully in

103 Military Hospital, Vietnam Military Medical University on February 21, 2017 Living donor lobar lung came from his uncle’s left lower lobar and his father’s right lower lobar in order to implant to 7 years old patient who was diagnosed diffuse congenital bronchiectasis with respiratory failure, chronic cor-pulmonal, severe malnutrition Donors were performed general anesthesia with double lumen tracheal tube and one lung ventilation during surgery Neuromuscular was reversed by sugammadex then extubated at the end of surgeries in operating room Postoperative pain was managed by thoracic epidural anesthesia and both of them got well recover after surgery

* Keywords: Anesthesia for living-donor lobar lung; One lung ventilation; Sugammadex; Thoracic epidural analgesia

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ca ghép phổi đầu tiên thực hiện tại Đại

học Mississipi năm 1963 cho bệnh nhân (BN)

nam 58 tuổi bị ung thư phế quản gốc trái

đã đánh dấu bước tiến vượt bậc của nền

y học thế giới dù BN chỉ sống được 18 ngày sau ghép Ghép thuỳ phổi từ hai người cho sống đầu tiên được thực hiện thành công tại Nhật Bản năm 1998 ở BN nữ 24 tuổi

* Học viện Quân y

** Bệnh viện Quân y 103

Ngày nhận bài: 16/05/2018; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 18/06/2018

Ngày bài báo được đăng: 25/06/2018

Trang 2

từ nguồn cho từ thùy dưới phổi trái của

mẹ và thùy dưới phổi phải của chị gái BN

xuất viện sau ghép 61 ngày và trở lại

cuộc sống bình thường, thể trạng tốt,

dung tích sống đạt 1,77 lít [10] Thành

công này mở ra một hướng mới giúp tăng

số lượng BN được ghép phổi từ người

cho sống Hiện nay, ghép phổi đã được

chấp nhận rộng rãi, là phương pháp điều

trị cho một số bệnh lý phổi giai đoạn cuối

Một trong những điều người hiến thuỳ

phổi quan tâm là đau sau mổ và quá trình

bình phục như thế nào Những tiến bộ

trong phẫu thuật lồng ngực cũng như gây

mê hồi sức (GMHS) đã có đóng góp tích

cực điều trị phát triển ghép phổi [5]

Thành công từ ca ghép hai thùy phổi đầu

tiên từ người cho sống ngày 21 - 2 - 2017

đánh dấu sự phát triển của Y học Việt Nam

GMHS không những phải tạo điều kiện

thuận lợi nhất cho phẫu thuật lấy thuỳ

phổi hiến mà còn giúp người hiến thuỳ

phổi nhanh bình phục về thể chất và tinh

thần sau phẫu thuật Mục tiêu bài báo:

Phân tích về phương diện GMHS trong

quá trình lấy phổi đảm bảo chất lượng

thùy phổi hiến, cũng như tăng cường hồi

phục sau mổ của người hiến thuỳ phổi

GIỚI THIỆU VỀ QUY TRÌNH HIẾN PHỔI

TỪ NGƯỜI SỐNG KHỎE MẠNH VÀ

KẾT QUẢ

1 Chuẩn bị BN trước hiến phổi

BN là người cho sống khỏe mạnh,

được khám chuyên khoa tim mạch, hô hấp,

hoàn thành các xét nghiệm thường quy,

xét nghiệm miễn dịch và đo chức năng

hô hấp chuẩn bị trước hiến theo quy định,

có kết luận đủ tiêu chuẩn hiến thuỳ phổi

Quá trình chuẩn bị trước mổ, BN được

giải thích về phẫu thuật lấy thuỳ phổi có nội soi hỗ trợ, chống đau và bình phục sau mổ Catheter ngoài màng cứng ngực kiểm soát đau sau mổ được đặt từ chiều hôm trước mổ tại Khoa Điều trị Tích cực

* Tiến hành đặt catheter ngoài màng cứng ngực:

- BN được giải thích về kỹ thuật đặt catheter ngoài màng cứng ngực

- Lắp monitoring theo dõi mạch, ECG, Sp02, huyết áp không xâm lấn mỗi 2 phút, đặt đường truyền tĩnh mạch ngoại vi truyền dịch tinh thể

- Tiến hành kỹ thuật:

+ BN nằm trên giường, tư thế nghiêng trái, đầu cúi sát vào ngực, hai chân co, đùi gập sát vào bụng Sát trùng da vùng lưng bằng betadin 10% ba lần

+ Tê tại chỗ vùng chọc kim T6 - T7 bằng lidocain 2%

+ Chọc kim Touhy qua da, tổ chức dưới da, dây chằng vàng, xác định kim Touhy đã vào khoang ngoài màng cứng bằng nghiệm pháp “mất sức cản”

+ Luồn catheter vào khoang ngoài màng cứng và cố định ở vạch 5 cm

+ Thử test 3 ml lidocain 1,5% + adrenalin 1/200.000 để khẳng định đầu catheter không nằm trong mạch máu hoặc trong khoang dưới nhện Cố định catheter bằng opsite Chuyển BN về tư thế nằm ngửa

2 Gây mê

* Chuẩn bị trước khi khởi mê:

BN ở tư thế nằm ngửa trên bàn mổ, cho thở oxy 100% 4 l/phút Theo dõi điện tim, huyết áp không xâm nhập, SpO2, EtCO2

qua monitor Nihon Kohden, theo dõi độ

mê BIS qua điện cực trán, đo độ giãn cơ

Trang 3

TOF-watch tay cùng bên với thùy phổi

hiến, đo thân nhiệt ngoại vi Làm ấm bằng

máy thổi hơi ấm, bao chân phòng chống

huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới Đặt

tĩnh mạch ngoại vi tay đối diện thùy phổi

hiến bằng kim 18G truyền dung dịch natri

clorua 0,9%

* Khởi mê:

- Khởi mê bằng propofol nồng độ đích

tại não (Ce) 4,0 mcg/ml, fentanyl 4 mcg/kg,

rocuronium 1 mg/kg Khi đạt hiệu quả giãn

cơ tối đa (TOF bằng 0), đặt ống nội khí

quản (NKQ) 2 nòng Robert shaw nhánh

(T) cỡ 37F Tay phải dùng ngón trỏ và

ngón cái mở miệng BN, tay trái đưa đèn

NKQ nhẹ nhàng vào khoang miệng, tiến

về phía trước gạt lưỡi sang bên trái

Nâng lưỡi đèn theo hướng chếch 45º,

điều chỉnh lưỡi đèn để quan sát rõ lỗ

thanh môn

- Tay phải cầm ống NKQ 2 nòng nhẹ

nhàng đưa ống qua lỗ thanh môn vào khí

quản từ vị trí 3 giờ Khi đầu ống đi qua hai

dây thanh âm thì xoay ống NKQ ngược

chiều kim đồng hồ một góc 90o về vị trí

12 giờ

- Rút nòng kim loại, đẩy ống NKQ vào

sâu trong phế quản đến khi thấy lực cản

nhẹ thì dừng lại

- Bơm hai bóng chèn, nối 2 nòng ống

NKQ với máy thở qua chạc ba chữ Y,

quan sát thán đồ và áp lực đường thở,

nghe phổi kiểm tra thông khí

- Kiểm tra vị trí của ống NKQ 2 nòng

bằng ống nội soi phế quản sợi mềm Cố

định ống NKQ bằng băng dính, lắp đầu

nối ống NKQ với dây thở Thông khí hai

phổi qua máy thở Datex Omeha Advance

chế độ kiểm soát thể tích với Vt = 10 ml/kg;

tần số thở 12 chu kỳ/phút; tỷ lệ I:E = 1:2

- Đặt catheter động mạch quay ở tay đối diện với bên lấy thùy phổi, theo dõi huyết áp động mạch xâm nhập Đặt thêm đường truyền tĩnh mạch ngoại vi

- Chuyển tư thế BN nghiêng phải 900 (đối với BN hiến thùy phổi trái) và nghiêng trái 900 (đối với BN hiến thùy dưới phổi phải) Kiểm tra lại vị trí của ống NKQ bằng ống nội soi mềm trước khi rạch da phẫu thuật

* Duy trì mê:

- Duy trì mê bằng propofol qua máy truyền kiểm soát nồng độ đích tại não (Ce) điều chỉnh 3 - 5 mcg/ml để duy trì

độ mê BIS từ 50 - 70; truyền liên tục tĩnh mạch qua bơm tiêm điện fentanyl

2 mcg/kg/giờ; rocuronium nhắc lại 0,5 mg/kg khi TOF ≥ 2 twitch

- Tiêm liều đầu khoang ngoài màng cứng 5 ml ropivacain 0,2%, sau đó truyền liên tục 4 ml/giờ qua catheter ngoài màng cứng đã được đặt hôm trước mổ

- Duy trì thở máy mode A/C khi thông khí hai phổi

- Giai đoạn thông khí một phổi: kẹp nhánh trái của ống NKQ để ngừng thông khí phổi trái (đối với BN lấy thùy dưới phổi trái) hoặc nhánh chung để ngừng thông khí phổi phải (đối với BN lấy thùy dưới phổi phải), làm xẹp phổi khi đưa trocar vào khoang màng phổi Tăng tần

số thở lên 16 lần/phút, giảm Vt xuống

7 ml/kg, điều chỉnh thông khí dựa vào giá trị EtCO2 và kết quả xét nghiệm khí máu động mạch: EtCO2 trong phạm vi

35 - 40 mmHg, PaCO2 từ 40 - 45 mmHg

- Lấy thùy phổi ghép:

+ Tiêm tĩnh mạch solumedron 500 mg; heparin 6.000 UI trước khi kẹp cắt động mạch phổi, kiểm tra ACT đạt giá trị trên

200 giây

Trang 4

+ Phẫu thuật viên tiến hành giải phóng

và khống chế động mạch, tĩnh mạch phổi,

khí quản và tiến hành cắt thùy phổi Thuỳ

phổi được lấy ra đặt trên bàn rửa phổi

(backtable), vận chuyển sang phòng mổ

ghép để rửa phổi theo quy trình trước khi

ghép vào người nhận

+ Tiếp tục cầm máu các vết khâu, đặt

dẫn lưu dịch màng phổi

+ Trung hòa heparin bằng protamin

6.000 UI (tỷ lệ 1:1) Kiểm tra giá trị ACT

sau khi trung hòa 110 giây

- Giai đoạn thông khí hai phổi trở lại:

hút sạch dịch tiết, dịch máu trong phế

quản trước khi bóp bóng thông khí làm

nở phổi trở lại Bóp bóng từ từ để làm nở

phổi, kiểm tra có rò khí ở mỏm phế quản

không Sau khi khẳng định không có rò khí,

đặt dẫn lưu khoang màng phổi, chuyển

sang thông khí qua máy chế độ A/C, đóng

vết mổ, băng vô khuẩn, chuyển BN về tư

thế nằm ngửa Ngừng thuốc mê và thuốc

giảm đau đường tĩnh mạch

* Kết thúc phẫu thuật, chuyển BN về

Khoa Hồi sức Tích cực:

- Chụp C-arm lồng ngực thấy phổi hai

bên nở tốt, các dẫn lưu đúng vị trí

- Hoá giải giãn cơ bằng sugammadex

4 mg/kg tiêm tĩnh mạch Sau khi ngừng

thuốc mê và trung hòa giãn cơ bằng

sugammadex, BN tỉnh táo, tự thở thỏa

đáng qua ống NKQ Vt > 5 ml/kg, kiểm tra

sức cơ bằng cách yêu cầu BN nắm tay chặt,

đáp ứng tốt: TOF > 90% Hút sạch dịch

tiết trong ống NKQ và miệng BN trước khi

rút ống NKQ

- 2 BN hiến thuỳ phổi đều được rút

ống NKQ sau gây mê thuận lợi Sau rút

ống NKQ, BN tỉnh táo, đáp ứng tốt theo

mệnh lệnh, tự thở thỏa đáng tần số thở

16 - 18 lần/phút, thở O2 100% 4 l/phút qua mũi, SpO2 99 - 100%

- Trong quá trình phẫu thuật, huyết động và thông khí được duy trì ổn định; các thông số mạch, ECG, huyết áp, SpO2

duy trì trong giới hạn bình thường, không

có diễn biến bất thường nào trong quá trình gây mê phẫu thuật

- Chuyển BN về Khoa Hồi sức Tích cực tiếp tục theo dõi, duy trì giảm đau sau

mổ bằng truyền liên tục ngoài màng cứng ngực ropivacain 0,2% + fentanyl 2 mcg/ml tốc độ 3 - 5 ml/giờ, kết hợp perfalgan truyền tĩnh mạch sáng 1 g, chiều 1 g Mức độ đau được đánh giá theo thang điểm VAS trong phạm vi 0 - 2 trong 72 giờ sau phẫu thuật Rút catheter ngoài màng cứng sau mổ 72 giờ

BÀN LUẬN

Phẫu thuật lấy thuỳ phổi ở người hiến thực chất là phẫu thuật cắt thuỳ phổi ở người khoẻ mạnh Để có kết quả tốt, ngoài yếu tố động viên giải thích kỹ cho người hiến từ trước mổ, cần đặt biệt lưu tâm về thông khí một phổi, hoá giải giãn cơ, cũng như kiểm soát đau sau mổ Đây là các nội dung vừa đảm bảo an toàn trong gây mê phẫu thuật lấy thuỳ phổi, vừa giúp tăng cường hồi phục nhanh sau

mổ hiến thuỳ phổi

1 Kiểm soát huyết động và hô hấp trong thông khí một phổi

Phẫu thuật cắt thùy phổi là một trong những phẫu thuật có nguy cơ cao do can thiệp liên quan trực tiếp đến hai chức năng sống quan trọng là hô hấp và tuần hoàn

Trang 5

Trong phẫu thuật cắt thuỳ phổi, BN ở tư

thế nằm nghiêng sang bên để tạo thuận

lợi cho phẫu thuật Phổi ở dưới (phổi phụ

thuộc) được tưới máu nhiều hơn do trọng

lực và phổi ở trên (phổi không phụ thuộc)

có độ đàn hồi hơn và dễ thông khí hơn

gây ra shunt phổi Cơ chế co mạch phổi

do thiếu oxy vẫn chưa được hiểu biết đầy

đủ, có thể là đáp ứng trực tiếp với hạ oxy

máu tĩnh mạch trộn và phế nang, hoặc

giải phóng ra các chất có hoạt tính co

mạch trong khi thiếu oxy gây ra co mạch

máu phổi

Thay đổi thông khí khi thông khí một

phổi ở tư thế nằm nghiêng góp phần gây

ra các vấn đề về đảm bảo oxy Giãn nở

phổi bị hạn chế do trọng lực của trung thất,

cơ hoành hạn chế di chuyển, một bên

thành ngực không di động Điều này dẫn

tới xẹp phổi bên phổi phụ thuộc, giảm bề

mặt phổi được thông khí Kết quả là co

mạch phổi do thiếu oxy, tăng sức cản

mạch máu ở phổi phụ thuộc và dòng máu

tới phổi không phụ thuộc nhiều hơn Hơn

nữa, tăng áp lực thông khí và thể tích của

phổi phụ thuộc cản trở tưới máu, dẫn tới

tăng tưới máu phổi không phụ thuộc và

tăng shunt tĩnh mạch Cuối cùng, thông

khí kém sẽ dẫn tới tổn thương phổi

Thông khí giảm, tưới máu tăng ở phổi

phụ thuộc, lưu lượng dòng máu phổi

chiếm 80% Ngược lại, phổi không phụ

thuộc thông khí tăng, tưới máu giảm,

chiếm 20% lưu lượng máu phổi [8]

Trong 2 BN phẫu thuật lấy thuỳ phổi

hiến trên, chúng tôi sử dụng chế độ thông

khí kiểm soát thể tích, thể tích khí lưu

thông tương đối thấp (7 ml/kg khi thông

khí một phổi) để hạn chế tổn thương áp

lực Đồng thời xét nghiệm khí máu động

mạch 15 phút/lần tại phòng mổ để xác

ngay trong mổ Cả 2 BN đều tự dung nạp tốt trong quá trình thông khí một phổi,

dao động trong khoảng 30 - 40 mmHg, các chỉ số khí máu động mạch trong giới hạn bình thường trong suốt cuộc mổ

2 Hoá giải giãn cơ bằng sugammadex khi kết thúc cuộc mổ

Sử dụng thuốc giãn cơ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho phẫu thuật Hoá giải giãn cơ không tốt có nguy cơ tái giãn cơ sau mổ, BN thông khí tự chủ chưa thoả đáng, dễ xẹp phổi và gây ra các biến chứng hô hấp sau mổ phổi Rocuronium

là thuốc giãn cơ không khử cực nhóm aminosteroid có tác dụng phong bế thần kinh cơ tốt, hiệu quả tác dụng nhanh, được đưa vào thực hành lâm sàng từ những năm 90 của thế kỷ XX [4] Có thể

sử dụng neostigmin hoá giải giãn cơ nhờ

ức chế acetylcholinesterase làm tăng nồng độ acetylcholin tại bản vận động Nghiên cứu quan sát tiến cứu trên 3.000 BN hóa giải với neostigmin tại Bệnh viện Đa khoa Massachusetts (Mỹ) cho thấy liều cao của neostigmin làm kéo dài thời gian

ra khỏi phòng hồi tỉnh và kéo dài thời gian nằm viện sau mổ Ngoài ra, việc sử dụng neostigmin mà không theo dõi độ giãn cơ

là một yếu tố nguy cơ độc lập của phù phổi và phải đặt lại ống NKQ [9]

Hiện nay, sugammadex là thuốc hoá

Đây là một cyclodextrin gama biến đổi có tác dụng gắn kết chọn lọc với phân tử thuốc giãn cơ (rocuronium, veccuronium) trong huyết tương để tạo thành một phức hợp rất chặt chẽ ở tỷ lệ 1:1 [3, 6]

Trang 6

Một nghiên cứu đa trung tâm đánh giá

hiệu quả và sự an toàn của sugammadex

trên BN có bệnh lý hô hấp (n = 77) cho

thấy với liều sugammadex 2 mg/kg hóa

giải nhanh, hoàn toàn và hiệu quả trên cả

BN có bệnh lý hô hấp [1]

Đối với cả 2 BN trên, chúng tôi tiến

hành hóa giải giãn cơ rocuronium bằng

sugammadex 2 mg/kg cho hiệu quả tốt

Sau khi tiêm 4 phút, giá trị TOF của cả

2 BN đều đạt 100% BN được rút ống

NKQ nòng đôi ngay sau phẫu thuật trong

tình trạng thở tốt, Sp02 luôn duy trì ở mức

99 - 100% mà không cần đổi sang ống

NKQ nòng đơn

3 Giảm đau sau phẫu thuật qua

catheter ngoài màng cứng ngực

Phẫu thuật lồng ngực được coi là phẫu

thuật gây đau nhiều nhất ảnh hưởng tới

thông khí và quá trình hồi phục của BN

sau mổ Gây tê ngoài màng cứng được

coi như “tiêu chuẩn vàng” để giảm đau

sau phẫu thuật lớn ở ngực, bụng chi

dưới, phẫu thuật chỉnh hình và mạch máu

so với sử dụng opioid toàn thân Giảm

đau đường ngoài màng cứng còn làm

giảm tỷ lệ biến chứng sau phẫu thuật ở

BN nguy cơ cao và cải thiện kết quả phẫu

thuật Giảm đau đường ngoài màng cứng

bằng thuốc tê từ trước, trong và sau phẫu

thuật có khả năng làm giảm đáp ứng sinh

lý với phẫu thuật và làm giảm tỷ lệ biến

chứng so với giảm đau bằng opioid đường

toàn thân nhờ ngăn chặn phản xạ ức chế

cơ hoành [2]

Giảm đau đường ngoài màng cứng

bằng thuốc tê ngăn chặn phản xạ ức chế

cơ hoành nhờ chặn đường dẫn truyền hướng tâm, do đó làm tăng hiệu quả thông khí phổi sau mổ, giảm dung tích cặn chức năng (FRC), giảm tỷ lệ thuyên tắc phổi và các biến chứng tim mạch, hồi phục nhanh nhu động ruột, đồng thời cải thiện chức năng cơ tim [7, 11]

Giảm đau ngoài màng cứng bằng thuốc tê phối hợp opioid với liều lượng thích hợp giúp tăng hiệu quả và kéo dài thời gian giảm đau, không liên quan đến

hạ huyết áp, nôn hay buồn nôn Trong hai

ca hiến thuỳ phổi trên, tối ưu hoá giảm đau trong và sau mổ bằng dung dịch ropivacain 0,2% phối hợp fentanyl 2 mcg/ml dung dịch Sử dụng dung dịch thuốc tê tiêm khoang ngoài màng cứng ngực để giảm đau phối hợp từ trong mổ nhằm ngăn chặn phản xạ ức chế cơ hoành Hơn nữa, BN còn được dùng phối hợp perfalgan 2 g/ngày để tăng hiệu quả của giảm đau đa mô thức Nhờ hiệu quả giảm đau tốt, điểm VAS luôn ở mức 1 - 3, cả

2 BN đều tham gia tập thở lý liệu pháp tốt nên phục hồi nhanh sau mổ

KẾT LUẬN

Gây mê hồi sức cho BN hiến thuỳ phổi

từ người cho sống thành công góp phần vào thành công cho ca ghép phổi đầu tiên tại Việt Nam Ngoài các vấn đề về hoà hợp miễn dịch, chuẩn bị trước mổ, quá trình GMHS cần đặc biệt lưu ý tới thông khí một phổi, sử dụng thuốc hoá giải giãn cơ và kiểm soát tốt đau sau mổ đường ngoài màng cứng ngực nhằm tăng cường hồi phục

sau mổ cho người sống hiến thuỳ phổi

Trang 7

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Amao R et al Use of sugammadex in

patients with a history of pulmonary disease J

Clin Anesth 2012, 24 (4), pp.289-297

2 Ballantyne J.C et al The comparative

effects of postoperative analgesic therapies

on pulmonary outcome: Cumulative

meta-analysis of randomized, controlled trials

Anesth Analg 1998, 86 (3), pp.598-612

3 Bruintjes M et al Deep neuromuscular

block to optimize surgical space conditions

during laparoscopic surgery: A systematic

review and meta-analysis British Journal of

Anaesthesia 2017, 118 (6), pp.834-842

4 Castro D.S Jr et al Sugammadex

reduces postoperative pain after laparoscopic

bariatric surgery: A randomized trial Surg

Laparosc Endosc Percutan Tech 2014, 24

(5), pp.420-423

5 Date H Update on living donor lobar

lung transplantation Curr Opin Organ Transplant

2011, 16 (5), pp.453-457

6 Madsen M.V et al Deep neuromuscular

blockade and low insufflation pressure during

laparoscopic hysterectomy Dan Med J 2017,

64 (5)

7 Pansard J.L et al Effects of thoracic

extradural block on diaphragmatic electrical activity and contractility after upper abdominal surgery Anesthesiology 1993, 78 (1), pp.63-71

8 Rippin B.D, S Kritzinger One lung

ventilation anaesthesia tutorial of the week 145 World Federation of Societies of Anaesthesiologists

2009, pp.1-6 http://www.frca.co.uk/Documents/145

One lung ventilation.pdf(ATOTW 145)

9 Sasaki N et al Effects of neostigmine

reversal of nondepolarizing neuromuscular blocking agents on postoperative respiratory outcomes: A prospective study Anesthesiology

2014, 121 (5), pp.959-968

10 Shimizu N et al First successful

bilateral living-donor lobar lung transplantation

in Japan Nihon Geka Gakkai Zasshi 1999,

100 (12), pp.806-814

11 Tuman K.J et al Effects of epidural

anesthesia and analgesia on coagulation and outcome after major vascular surgery Anesthesia and Analgesia 1991, 73 (6), pp.696-704.

Ngày đăng: 22/01/2020, 23:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm