1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu tình hình thiếu máu thiếu sắt ở trẻ em mắc bệnh tim bẩm sinh có tím

5 92 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 317,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài này được thực hiện với mục tiêu khảo sát tần suất thiếu máu thiếu sắt ở trẻ em mắc bệnh tim bẩm sinh có tím và đánh giá giá trị chẩn đoán của các chỉ số hồng cầu. Nghiên cứu tiến hành trên trẻ em dưới 15 tuổi mắc bệnh tim bẩm sinh có tím và không tím điều trị tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh từ tháng 8 năm 2010 đến tháng 3 năm 2011 được đưa vào nghiên cứu và được xét nghiệm công thức máu, chỉ số hồng cầu, định lượng sắt huyết thanh, ferritin và transferin.

Trang 1

Ở TRẺ EM MẮC BỆNH TIM BẨM SINH CÓ TÍM 

Lê Minh Khôi* 

TÓM TẮT 

Mở đầu: Thiếu máu thiếu sắt là tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng thường gặp nhất trên thế giới làm ảnh 

hưởng đến khả năng lao động ở người lớn và sự phát triển tâm thần vận động ở trẻ em. Thiếu máu thiếu sắt ở  trẻ em mắc bệnh tim bẩm sinh có tím cùng với những hệ quả xấu của nó đã được biết từ lâu tuy nhiên chưa được  quan tâm đúng mức trong thực hành lâm sàng ở các nước đang phát triển.  

Mục tiêu: Khảo sát tần suất thiếu máu thiếu sắt ở trẻ em mắc bệnh tim bẩm sinh có tím và đánh giá giá trị 

chẩn đoán của các chỉ số hồng cầu.  

Đối tượng – Phương pháp nghiên cứu: Trẻ em dưới 15 tuổi mắc bệnh tim bẩm sinh có tím và không tím 

điều trị tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh từ tháng 8 năm 2010 đến tháng 3 năm 2011 được đưa  vào nghiên cứu và được xét nghiệm công thức máu, chỉ số hồng cầu, định lượng sắt huyết thanh, ferritin và  transferin.  

Kết quả: Có 69 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu, trong đó có 36 trẻ có TBS tím và 33 trẻ mắc bệnh TBS 

không tím. Có 11,1% trẻ tím và 3% trẻ không tím thiếu máu thiếu sắt thực sự. Tần suất cạn kiệt hoặc có nguy cơ  thiếu sắt ở cả hai nhóm đều cao. Chỉ có 22,2% trẻ TBS tím và 12,2% trẻ TBS không tím không có nguy cơ thiếu  sắt. Các chỉ số hồng cầu có giá trị gợi ý chẩn đoán thiếu máu thiếu sắt ở trẻ mắc bệnh TBS có tím.  

Kết luận: Thiếu máu thiếu sắt có tần suất cao trong nhóm trẻ mắc bệnh TBS được nghiên cứu. Công thức 

máu có giá trị gợi ý chẩn đoán thiếu sắt. Điều trị bổ sung sắt cần được khuyến cáo ở nhóm trẻ em này. 

Từ khoá: Thiếu máu thiếu sắt, tim bẩm sinh, trẻ em. 

ABSTRACT 

INVESTIGATION OF IRON DEFICIENCY ANEMIA IN CHILDREN WITH CYANOTIC CONGENITAL 

HEART DISEASE 

Le Minh Khoi * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 421 ‐ 425 

Background:  The  iron  deficiency  anemia  (IDA)  is  the  most  common  micronutrient  malnutrition  in  the 

world reducing the working ability in adults and negatively affecting the psycho‐motor development in children.  The IDA in children with cyanotic congenital heart disease (CHD) with its bad consequences has been recognised  for a long time in the world. This manifestation is, however, not paid sufficient attention in clinical practice in the  developing countries.  

Objectives: We conducted this study to investigate the prevalence of IDA in children with cyanotic CHD 

and  to  assess  the  diagnostic  values  of  hemogram,  espscially  the  erythocyte  indexes  as  a  simple  tool  for  early  recognistion of IDA.  

Methods:  Children  under  15  years  old  with  cyanotic  and  acyanotic  CHD  admitted  in  the  University 

Medical Center, Ho Chi Minh City from August 2010 to March 2011 were recruited. The total blood cell count,  serum iron, ferritin and transferin were measured.  

* Giảng viên Bộ môn Hồi sức Cấp cứu – Chống độc, Khoa Y, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh 

Tác giả liên lạc: TS.BS. Lê Minh Khôi  ĐT: 0945717766  Email: leminhkhoi@yahoo.com  

Trang 2

Results:  There were 69 pediatric patients were recruited in which 36 children with cyanotic CHD and 33 

children  with  acyanotic  CHD.  There  were  11.1%  of  children  with  cyanotic  CHD  and  3%  of  children  with  acysnotic CHD who showed true IDA. The prevalence of depletion or reduction of body iron store was very high.  Only 22.2% of children with cyanotic CHD and 12.2% children with acysnotic CHD were currently not at risk 

of iron deficiency. The erythrocyte indexes proved to be useful as simple tool for detecting IDA in children with  cyanotic CHD.  

Conclusions:  IN  the  present  investigation,  the  prevalence  of  IDA  was  found  high  in  the  children  with 

CHD.  The  total  blood  cell  count  and  erythrocyte  indexes  were  of  suggestive  value  for  diagnosis  of  IDA.  Iron  supplement treatment should be recommended in this group of patients. 

Key words: Iron deficiency anemia, congenital heart disease, chiddren. 

MỞ ĐẦU 

Thiếu  máu  thiếu  sắt  là  tình  trạng  thiếu  vi 

chất dinh dưỡng thường gặp nhất trên thế giới. 

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, thiếu máu thiếu sắt 

ảnh hưởng đến một số lượng lớn trẻ em và phụ 

nữ ở các nước đang phát triển. Và ngay cả ở các 

nước  công  nghiệp  hoá  thì  thiếu  máu  thiếu  sắt 

vẫn  là  một  vấn  đề  thường  gặp.  Theo  thống  kê 

vào  năm  2005,  có  đến  1,62  tỉ  người,  tương  ứng 

với 24,8% dân số thế giới, bị thiếu máu, trong đó 

phần  lớn  là  do  thiếu  sắt  trong  đó  tỉ  lệ  gặp  cao 

nhất  ở  trẻ  em  lứa  tuổi  tiền  học  đường(4).  Thiếu 

máu  thiếu  sắt  có  thể  làm  giảm  khả  năng  lao 

động ở người lớn, ảnh hưởng đến sự phát triển 

tâm  thần  vận  động  ở  trẻ  em  và  thiếu  niên(5). 

Thiếu  máu  là  một  yếu  tố  nguy  cơ  quan  trọng 

làm tăng tỉ lệ bệnh tật và tử vong ở bệnh nhân 

mắc bệnh tim bẩm sinh tím và không tím(3).  

Trong  bệnh  tim  bẩm  sinh  (TBS)  có  tím  có 

luồng  máu  từ  phải  qua  trái,  bão  hoà  ôxy  máu 

động  mạch  giảm  và  số  lượng  hồng  cầu  có  thể 

tăng  cao  do  đó  làm  tăng  độ  nhớt  của  máu.  

Ngoài ra, hồng cầu của những bệnh nhân thiếu 

máu,  đặc  biệt  là  thiếu  máu  hồng  cầu  nhỏ  do 

thiếu sắt, thường có độ thấm thấp hơn góp phần 

làm tăng tần suất thuyên tắc mạch và các biến cố 

tim  mạch(2).  Trong  bệnh  tim  bẩm  sinh  có  tím, 

một  nồng  độ  hemoglobin  (Hb)  bình  thường 

chứng tỏ bệnh nhân có thiếu máu tương đối và 

có thể có những tác động rất xấu đến tỉ lệ bệnh 

tật và tử vong(6,10). Vai trò của phát hiện và điều 

trị  thiếu  máu  trong  xử  trí  suy  tim  cũng  như 

phòng ngừa nguy cơ biến cố thuyên tắc và cơn 

tím ở bệnh nhân mắc bệnh tim bẩm sinh có tím 

cũng đã được đề cập(9). 

Ở các nước phát triển, các bệnh tim bẩm sinh 

có tím phức tạp thường được phẫu thuật trong  giai đoạn nhũ nhi hoặc sơ sinh. Trong khi đó, ở  các nước đang phát triển như Việt Nam, tỉ lệ trẻ 

em  mắc  bệnh  tim  bẩm  sinh  có  tím  chưa  được  phẫu  thuật  hoặc  chưa  được  sửa  chữa  triệt  để  vẫn còn cao. Mặc khác, suy dinh dưỡng vẫn còn 

là vấn đề sức khoẻ cộng đồng đáng quan tâm ở  nước ta. Thiếu máu thiếu sắt chắc chắn chiếm tỉ 

lệ  cao  trong  số  trẻ  em  này.  Do  trẻ  tím  nên  việc  chẩn đoán thiếu máu thường bị bỏ sót trên lâm  sàng.  Chính  vì  vậy,  chúng  tôi  tiến  hành  đề  tài  nghiên cứu này. 

Mục tiêu 

Khảo sát tần suất thiếu máu thiếu sắt ở bệnh  nhân mắc bệnh tim bẩm sinh có tím. 

Khảo sát một số chỉ số hồng cầu gợi ý chẩn  đoán thiếu máu thiếu sắt ở các bệnh nhân này  nhằm  khuyến  cáo  điều  trị  sớm  khi  không  có  điều kiện thực hiện các xét nghiệm chẩn đoán  thiếu sắt. 

ĐỐI TƯỢNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Tất  cả  các  bệnh  nhân  được  chẩn  đoán  mắc  bệnh tim bẩm sinh có tím được điều trị tại khoa  Phẫu  thuật  Tim  mạch,  Bệnh  viện  Đại  học  Y  Dược TP Hồ Chí Minh từ tháng 8 năm 2010 đến  tháng  3  năm  2011  được  đưa  vào  nghiên  cứu.  Ngoài ra chúng tôi còn thu nhận 38 bệnh nhân  bệnh tim bẩm sinh không tím trong cùng thời kỳ  vào nghiên cứu để so sánh đối chiếu. 

Trang 3

Những  bệnh  nhân  có  biểu  hiện  tán  huyết 

do thalassemia hoặc do các nguyên nhân khác 

chưa  xác  định  được  đều  bị  loại  ra  khỏi  nhóm 

nghiên cứu. 

Mỗi bệnh nhân điều có một phiếu thu thập 

số  liệu  riêng  ghi  nhận  đầy  đủ  các  phần  hành 

chính,  chẩn  đoán,  điều  trị  trước,  trong  và  sau 

mổ. Công thức máu, sắt huyết thanh, ferritin và 

transferin được định lượng trước mổ bằng máy 

tự động tại Khoa xét nghiệm Bệnh viện Đại học 

Y Dược TP Hồ Chí Minh. 

Chẩn  đoán  thiếu  máu  thiếu  sắt  dựa  vào 

ferritin huyết thanh. Với trẻ em ngưỡng ferritin 

huyết thanh để chẩn đoán thiếu máu thiếu sắt là 

12 ng/ml và ở người lớn là 15 ng/ml. Bệnh nhân 

có ferritin huyết thanh < 50 được xem là cạn kiệt 

kho  dự  trữ  sắt  và  <100  ng/ml  được  xem  là  có 

nguy cơ thiếu máu thiếu sắt. 

Số liệu được xử lý bằng phần mềm Exel và 

Graphpad  Quickcalcs.  Kết  quả  được  trình  bày 

bằng  trung  bình  ±  độ  lệch  chuẩn.  So  sánh  hai 

nhóm  được  thực  hiện  bằng  kiểm  định  t‐test 

không cặp đôi. Khác biệt với giá trị p < 0,05 được  xem là có ý nghĩa thống kê. 

KẾT QUẢ 

Từ tháng 8 năm 2010 đến tháng 3 năm 2011 

có 69 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn được đưa vào lô  nghiên cứu, trong đó có 37 nam và 32 nữ. Nhóm  bệnh tim bẩm sinh có tím gồm 36 bệnh nhân và  nhóm bệnh tim không tím có 33 bệnh nhân. Tuổi  trung bình 6,7 ± 3,8 tuổi; nhóm tím là 6,1±3,5 tuổi  còn  nhóm  không  tím  là  7,3  ±  4,0  tuổi.  Bệnh  thường  gặp  trong  nhóm  tím  là  tứ  chứng  Fallot 

và  trong  nhóm  không  tím  là  thông  liên  thất  và  thông liên nhĩ. Không có sự khác biệt đáng kể về  cân nặng và chiều cao giữa hai nhóm. Không có  một  bệnh  nhân  nào  được  điều  trị  bổ  sung  sắt  trước nhập viện.  

Bảng  1  trình  bày  các  đặc  điểm  các  chỉ  số  huyết học cũng như xét nghiệm chẩn đoán kho 

dự trữ sắt của hai nhóm nghiên cứu.  

Bảng 1: Công thức máu và xét nghiệm chẩn đoán kho dự trữ sắt của bệnh nhân nghiên cứu 

Trong  nghiên  cứu  này,  chúng  tôi  lấy  các 

ngưỡng ferritin để đánh giá kho dự trữ sắt của 

cơ thể như ở Bảng 2(8). 

Như vậy chỉ có 22,2% bệnh nhi nhóm TBS 

tím và 12,2% bệnh nhi TBS không tím là không 

thiếu sắt. Số còn lại đều có nguy cơ thiếu sắt ở 

mức  độ  khác  nhau.  Khi  Ferritin  huyết  thanh 

thấp  dưới  50,  kho  dự  trữ  sắt  đã  cạn  kiệt,  cần 

phải bổ sung kịp thời. 

Bảng 2: Tần suất của các mức độ thiếu sắt ở nhóm 

TBS có tím và TBS không tím 

Ferritin Ý nghĩa Tím (36) Không tím (33)

<12 ng/ml Thiếu máu thiếu

12-50 ng/ml Cạn kiệt kho dự

50-100 ng/ml Suy giảm dự trữ 15 (41,7%) 21 (63,6%)

Trang 4

số hồng cầu dựa theo ngưỡng Ferritin này. Kết 

quả được trình bày ở Bảng 3. 

Bảng 3: Chỉ số hồng cầu của bệnh nhi mắc TBS có 

tím theo mức độ cạn kiệt kho dự trữ sắt 

Các chỉ số Nhóm cạn kiệt

sắt

Nhóm chưa cạn kiệt sắt

Giá trị p

MHC 26,6±5,5 28,2±1,5 0,1944

MCHC 32,7±5,4 33,1±1,1 0,7312

Từ kết quả ở trên, chúng tôi thử đưa ra các 

ngưỡng  giá  trị  của  chỉ  số  hồng  cầu  với  mục 

đích  có  được  gợi  ý  chẩn  đoán  trên  lâm  sàng 

khi chỉ có công thức máu.  Kết  quả  được  trình 

bày  trong  Bảng  4.  Chỉ  số  Youden  được  tính 

bằng cách cộng độ đặc hiệu với độ nhạy. 

Bảng 4: Giá trị của các chỉ số hồng cầu trong chẩn 

đoán cạn kiệt kho dự trữ sắt 

Giá trị

ngưỡng

Độ nhạy và đặc hiệu 95% KTC Chỉ số

Youden

Hồng cầu

>6 x 10 12 /L

1,3

Độ đặc hiệu (%) 47,8 26,8 – 69,4

Hemoglobin

>165mg/dl

1,2

Độ đặc hiệu (%) 39,1 19,7 – 61,4

Hematocrit

>50%

1,2

Độ đặc hiệu (%) 43,5 23,2 – 65,5

1,2

Độ đặc hiệu (%) 82,6 61,2 – 94,9

1,2

Độ đặc hiệu (%) 47,8 26,8 -69,4

BÀN LUẬN 

Trên  lâm  sàng,  một  trong  những  gợi  ý  của 

thiếu  máu  thiếu  sắt  là  thiếu  máu  nhược  sắc, 

hồng  cầu  nhỏ.  Tuy  nhiên,  trên  lâm  sàng  việc 

đánh giá các chỉ số hồng cầu của công thức máu 

ở trẻ mắc bệnh TBS có tím khó khăn hơn do tình 

trạng  đa  hồng  cầu  thứ  phát  do  thiếu  ôxy  máu 

trường  diễn.  Một  số  tác  giả  cho  rằng  ở  trẻ  mắc 

bệnh TBS  có  tím  thì  hemoglobin,  hematocrit  và 

số  lượng  hồng  cầu  không  phải  là  những  chỉ  số 

giúp  gợi  ý  chẩn  đoán  thiếu  máu  thiếu  sắt(7).  Ngược  lại,  một  số  tác  giả  khác  cho  rằng  hemoglobin  <  150  mg/dl  và  MCV  <  80  fl  được  xem là thiếu máu(1). 

Trong  nhóm  nghiên  cứu  của  chúng  tôi,  nhóm  bệnh  TBS  có  tím  có  số  lượng  hồng  cầu, 

Hb,  Hct  đều  cao  hơn  nhóm  không  tím.  Đây  là  điều  đã  được  biết  từ  lâu.  Tuy  nhiên  các  chỉ  số  hồng cầu như MCV, MHC và MCHC không có  khác  biệt  giữa  hai  nhóm.  Độ  rộng  của  phân  bố  hồng  cầu  ở  nhóm  TBS  tím  cao  hơn  có  ý  nghĩa  thông kê chứng tỏ nhóm này có hồng cầu to nhỏ  không đều. 

Trong  nghiên  cứu  hiện  tại,  có  đến  11,1%  bệnh  nhân  TBS  có  tím  được  chẩn  đoán  thiếu  máu thiếu sắt thực sự, cao hơn so với nhóm TBS  không  tím  mặc  dù  chưa  khác  biệt  có  ý  nghĩa  thống kê (p = 0,1970). Có đến 36,1% bệnh nhân  trong nhóm tím và 24,2% nhóm bệnh tim không  tím có thiếu máu thiếu sắt thực sự hoặc cạn kiệt  kho  dự  trữ  sắt.  Có  đến  77,8%  bệnh  nhân  trong  nhóm tím và 87,8% bệnh nhân TBS không tím có  nguy  cơ  thiếu  sắt.  Một  ghi  nhận  quan  trọng  là  không  có  bệnh  nhân  nào  có  ferritin  trên  300  ng/ml  là  cận  trên  của  bình  thường.  Một  điều  đáng  qua  tâm  là  trong  khảo  sát  của  chúng  tôi,  không  có  bệnh  nhân  nào  được  bổ  sung  sắt  dù  các  cháu  được  nhập  viện  nhiều  lần  ở  tuyến  trước. Nhìn vào kết quả của đánh giá sắt trong  nghiên  cứu  này  thì  chỉ  có  một  tỉ  lệ  nhỏ  bệnh  nhân ít có khả năng thiếu sắt và không có bệnh  nhân  nào  có  nguy  cơ  thừa  sắt.  Do  vậy,  có  thể  xem  việc  xem  xét  bổ  sung  sắt  cho  tất  cả  bệnh  nhân TBS là một điều nên khuyến cáo. 

Trong  nhóm  bệnh  TBS  có  tím,  nếu  so  sánh  giữa  nhóm  có  cạn  kiệt  kho  dự  trữ  sắt  (ferritin 

<50 ng/ml) và nhóm còn lại thì  chúng  ta  có  thể 

dễ  dàng  nhận  thấy  số  lượng  hồng  cầu,  Hb  và  Hct tăng cao ở nhóm thiếu sắt nặng hơn. Ngược  lại,  thể  tích  hồng  cầu  trung  bình  (MCV)  thấp  hơn  nhóm  thiếu  sắt  nặng  hơn  và  độ  rộng  của  phân  bố  hồng  cầu  (RDW)  lại  cao  ở  nhóm  này.  Điều này chứng tỏ nhóm thiếu sắt có tình trạng 

đa  hồng  cầu,  hồng  cầu  to  nhỏ  không  đều.  Nói 

Trang 5

hiệu quả bằng nhóm có dự trữ sắt cao hơn. 

Một nhận xét chúng tôi rút ra từ nghiên cứu 

này  là  sắt  huyết  thanh  thấp  hơn,  transferin  cao 

hơn ở nhóm thiếu sắt nhưng các xét nghiệm này 

biến thiên khá rộng. Các nghiên cứu cũng chỉ rõ 

sắt  huyết  thanh  và  transferin  thường  bị  nhiễu 

bởi  các  bệnh  lý  cấp  tính  hoặc  nhiễm  trùng  hơn 

so  với  ferritin  và  ferritin  huyết  thanh  là  xét 

nghiệm  nên  được  chọn  lựa  trong  chẩn  đoán 

thiếu máu thiếu sắt(6,8).  

KẾT LUẬN 

Thiếu  máu  thiếu  sắt  và  giảm  sự  trữ  sắt  là 

tình trạng thường gặp ở trẻ mắc bệnh TBS có tím 

lẫn không tím. Nhóm TBS thiếu sắt nặng hơn thì 

quá trình tạo hồng cầu càng kém hiệu quả biểu 

hiện bằng tăng số lượng hồng cầu, hemoglobin, 

hematocrit,  độ  rộng  phân  bố  hồng  cầu  càng 

tăng. Phát hiện và điều trị thiếu máu thiếu sắt ở 

bệnh  nhân  mắc  bệnh  tim  còn  chưa  được  quan 

tâm đúng mức. Chính vì vậy, chúng tôi xin đưa 

ra kiến nghị là nên chú ý đến việc đánh giá phát 

hiện và điều trị tình trạng thiếu máu thiếu sắt ở 

trẻ em mắc bệnh tim bẩm sinh. Trong điều kiện 

không có khả năng xét nghiệm đánh giá kho dự 

trữ  sắt  thì  công  thức  máu  cũng  giúp  gợi  ý  tình 

trạng  thiếu  sắt  nếu  có  tình  trạng  đa  hồng  cầu, 

hồng  cầu  nhỏ  và  tăng  độ  rộng  phân  bố  hồng 

cầu. Mặc khác, việc xem xét bổ sung sắt cho tất 

cả các trẻ mắc bệnh tim bẩm sinh cũng có thể là 

một đề xuất có tính thực tiễn trong chăm sóc sức  khoẻ ban đầu cho trẻ mắc bệnh tim bẩm sinh. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

Undiagnosed  Anemia  in  Pediatric  Patients  with  Congenital  Heart Diseases. Iran Cardiovasc Res J; 5:69‐70. 

Harries C, et al (2006). Blood viscosity and its relationship to  iron defciency, symptoms and exercise capacity in adults with  cyanotic congenital heart disease. J Am Coll Cardiol; 48:356‐

65. 

et  al  (1996).  Effect  of  anemia  and  cardiovascular  disease  on  surgical mortality and morbidity. Lancet; 348:1055‐60. 

Worldwide  prevalence  of  anaemia  1993–2005:  WHO  global  database on anaemia. World Health Organization. ISBN 978 

92 4 159665 7. 

anemia. Am Fam Physician; 75:671‐8. 

al  (1996).  Parameters  of  iron  defciency  in  children  with  cyanotic congenital heart disease. Pediatr Cardiol; 17:150‐4. 

Diagnosing iron deficiency in cyanotic heart disease. Indian J  Pediatr; 70:29‐31. 

deficiency anemia: a clinical update. MJA; 193:525‐32. 

management and outcomes.  J Cardiovasc Nurs; 9:S57‐66. 

indices in cyanotic congenital heart disease. Med J Iran Hosp;  4:24‐6. 

 

 Ngày nhận bài báo:       01/11/2013   Ngày phản biện nhận xét bài báo:   26/11/2013   Ngày bài báo được đăng:     05/01/2014 

 

Ngày đăng: 22/01/2020, 23:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w