1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Kiến thức và thực hành về an toàn thực phẩm của nhân viên chế biến thực phẩm tại các bếp ăn tập thể trường mầm non Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2013

9 129 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 466,24 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài này được tiến hành với mục tiêu nhằm xác định tỷ lệ nhân viên chế biến thực phẩm tại các trường mầm non quận 1 có kiến thức và thực hành đúng về an toàn thực phẩm và mối liên quan giữa kiến thức và thực hành đúng với tuổi, giới tính, trình độ học vấn, tuổi nghề, tập huấn về an toàn thực phẩm.

Trang 1

CỦA NHÂN VIÊN CHẾ BIẾN THỰC PHẨM   TẠI CÁC BẾP ĂN TẬP THỂ TRƯỜNG MẦM NON  QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2013 

Đỗ Thị Tân*, Vũ Trọng Thiện **  

TÓM TẮT 

Đặt vấn đề:An toàn thực phẩm (ATTP) hiện nay là một vấn đề y tế công cộng nổi cộm trên phạm vi toàn 

thế giới cũng như tại Việt Nam. Quận 1 là một trong những quận trung tâm của thành phố Hồ Chí Minh có 24  bếp ăn tập thể (BATT) thuộc 24 trường mầm non phục vụ từ 60 ‐ 700 suất ăn/ngày cho các trẻ. Đối với các  BATT tại trường mầm non, hằng năm Trung tâm Y tế Dự phòng quận 1 đều tổ chức giám sát ATTP 3 đợt (đầu  năm, 6 tháng, và cuối năm), bên cạnh đó tổ chức đều đặn các lớp tập huấn ATTP cho nhân viên chế biến thực  phẩm (CBTP) tại các BATT của các trường mầm non. Qua các đợt thanh kiểm tra ATTP, hầu hết các trường  mầm non đều đạt các điều kiện vệ sinh cơ sở đối với BATT. Tuy nhiên, việc đánh giá kiến thức, thực hành của  nhân viên trực tiếp CBTP vẫn chưa được thực hiện trong các đợt giám sát này. 

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ nhân viên CBTP tại các trường mầm non quận 1 có kiến thức và thực hành đúng 

về ATTP và mối liên quan giữa kiến thức và thực hành đúng với tuổi, giới tính, trình độ học vấn, tuổi nghề, tập  huấn về ATTP. 

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả được tiến hành tại 24 trường mầm non trên địa 

bàn quận 1, thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 2‐7/2013. Tổng cộng có 95 nhân viên CBTP được khảo sát trong  nghiên cứu này. Để đánh giá kiến thức và thực hành của nhân viên CBTP, một bộ câu hỏi được thiết kế để sử  dụng cho phỏng vấn kiến thức đồng thời giúp quan sát trực tiếp thực hành của nhân viên. 

Kết quả: Tỷ lệ nhân viên có kiến thức đúng về ATTP chỉ đạt 11,6% trong đó một số kiến thức có tỷ lệ trả lời 

đúng rất thấp là kiến thức về các bệnh lây nhiễm, kiến thức về thời điểm rửa tay đúng cách, kiến thức về giữ gìn 

vệ sinh cá nhân trong CBTP, kiến thức về kiểm nghiệm nguồn nước và kiến thức về ngộ độc thực phẩm. Ngược  lại với kiến thức, tỷ lệ nhân viên có thực hành đúng rất cao (≥ 90%). Tuy nhiên vẫn còn một tỷ lệ nhỏ nhân viên  chưa thực hành mang khẩu trang (10,5%), găng tay (22,1%) trong khi CBTP. Nhân viên có tuổi nghề từ 1‐5  năm thực hành đúng về ATTP chỉ bằng 0,5 lần so với nhân viên có tuổi nghề < 1 năm. Nhân viên có kiến thức  đúng về  NĐTP  có  khả  năng thực hành  đúng về  ATTP  cao  gấp 1,7 lần  so với nhân  viên  có kiến  thức  không  đúng.Nhân viên có kiến thức đúng chung về ATTP có khả năng thực hành đúng về ATTP cao gấp 1,7 lần so với  nhân viên có kiến thức không đúng.  

Kết luận: Ban giám hiệu các trường mầm non cần duy trì và hoàn thiện điều kiện cơ sở vật chất, dụng cụ 

CBTP cho các BATT của trường nhằm nâng cao hơn nữa điều kiện vệ sinh ATTP của các BATT này. Đối với  Trung tâm Y tế Dự phòng quận 1 cần tiếp tục duy trì đều đặn các lớp tập huấn về ATTP cho đối tượng là nhân  viên CBTP tại các BATT của trường mầm non. 

Từ khóa: kiến thức, thực hành, an toàn thực phẩm, trường mầm non 

Trung tâm Y tế Dự phòng quận 1    **Viện Y Tế Công Cộng TP. Hồ Chí Minh 

Tác giả liên lạc: BS.CKI Đỗ Thị Tân     ĐT: 0908369750  Email: bsdotan@gmail.com 

Trang 2

FOOD SAFETY KNOWLEDGE AND PRACTICE AMONG FOOD HANDLERS IN KITCHENS OF 

KINDERGARTEN IN DISTRICT 1, HO CHI MINH CITY 

Do Thi Tan, Vu Trong Thien 

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6‐ 2014: 196 – 205 

Background: Food safety is now a public health problem around the world and Vietnam as well. District 1 is 

one of the central districts of Ho Chi Minh City where gathers 24 kindergartens with 24 kitchens serving more  than  60‐700  servings/day.  The  Preventive  Medicine  Center  in  District  1  regularly  conducts  surveillances(3  times/year)  and  holds  many  food  safety  training  courses  for  food  handlers  of  kindergartens.  The  results  of  surveilances  showed  that  infrastructure  of  these  kindergartenswas  well  established.  However,  food  safety  knowledge and practice of food handlers could not be evaluated yet.  

Objectives: Describe the proportions of right food safety knowledge and practice among food handlers in all 

kindergarten located in district 1, Ho Chi Minh city. 

Methods:  A  cross‐sectional  study  was  conducted  at  24  kindergartens  in  District  1,  Ho  Chi  Minh  City  from 

February to July2013. There was a total of 95 food handlers selected into the study. To evaluate knowledge and practice, 

a structure questionnaire was developed for face‐to‐face interview and direct observation of practices of subjects.  

Result: The proportion of right knowledge toward food saftey was merely 11.6%, in which some knowledge 

were too low including knowledge of personal hygiene in food handling, knowledge of water resource testing, and  knowledge of food poisoning. On the contrast to knowledge, the practices of subjects was high (> 90%). However,  there  was  still  a  part  of  subjects  did  not  wear  masks  (10.5%),  gloves  (22.1%)  while  handling  food.  Staff  with  experience from 1‐5 years performed right practices equal to 0.5 of those from staff with experience less than 1  year. Staff who had right knowledge toward food poisoning performed right pratices higher 1.7 times compared to  staff who did not. Staff who had right general knowledge of food safety had an ability of performing right practices 

1.7 times higher than staff who did not.  

Conclusion: The director boards of kindergarten should maintain and improve infrastructure, food‐handling 

tools  for  kitchens  to  enhance  food  hygiene  of  these  kitchens.  The  Preventive  Medicine  Center  need  maintain  regular training courses on food safety for food handlers working in all kindergartens in district 1.  

Keywords: knowledge, practice, food safety, kindergarten. 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

An toàn thực phẩm (ATTP) hiện nay là một 

vấn đề y tế công cộng nổi cộm trên phạm vi toàn 

thế giới và Việt Nam. Theo báo cáo của Tổ chức 

Y  tế  Thế  giới  (WHO),  hơn  1/3  dân  số  các  nước 

phát triển bị ảnh hưởng của các bệnh liên quan 

đến thực phẩm mỗi năm.  Riêng  tại  Việt  Nam, 

năm  2011  theo  thống  kê  của  Cục  An  toàn  Vệ 

sinh  Thực  phẩm  tổng  cộng  cả  nước  có  gần  200 

vụ NĐTP với 4.700 trường hợp mắc.  

Trong tổng số vụ NĐTP xảy ra, tỷ lệ các vụ 

NĐTP  tại  các  bếp  ăn  tập  thể  (BATT)  chiếm 

tương đối cao. Các vụ NĐTP này thường xảy ra 

tại  BATT  của  các  công  ty,  xí  nghiệp,  cơ  sở  sản  xuất,  trường  trung  học  cơ  sở,  trung  học  phổ  thông và thậm chí các trường mầm non. Các vụ  NĐTP tại các trường mầm non thường có hệ quả  nghiêm trọng vì trẻ em trong độ tuổi gửi nhà trẻ,  mẫu giáo là những đối tượng dễ bị tổn thương  nhất đối với các bệnh truyền qua thực phẩm như  dịch tả, tiêu chảy, thương hàn. 

Quận 1 là một trong những quận trung tâm  của thành phố Hồ Chí Minh với tình hình kinh  doanh, sản xuất, chế biến thực phẩm (CBTP) khá  phát triển so với mặt bằng chung của toàn thành  phố. Trên địa bàn 10 phường của quận 1 có tổng 

Trang 3

doanh thực phẩm, 2.566 cơ sở dịch vụ ăn uống 

và 69 BATT với 24 BATT thuộc 24 trường mầm 

non phục vụ từ 60 ‐ 700 suất ăn/ngày cho các trẻ. 

Với thực trạng như vậy, việc quản lý ATTP của 

các cơ sở kinh doanh CBTP và các BATT trên địa 

bàn  quận  1  là  một  thách  thức  to  lớn  với  các  cơ 

quan chức năng trong đó có Trung tâm Y tế Dự 

phòng quận 1.  

Với quyết tâm không để xảy ra các vụ NĐTP 

trên địa bàn quản lý, hằng năm Trung tâm Y tế 

Dự phòng luôn tổ chức các đợt giám sát, thanh 

kiểm tra ATTP tại các cơ sở CBTP và BATT. Đối 

với  các  BATT  tại  trường  mầm  non,  hằng  năm 

Trung  tâm  đều  tổ  chức  giám  sát  ATTP  3  đợt 

(đầu năm, 6 tháng, và cuối năm), bên cạnh đó tổ 

chức đều đặn các lớp tập huấn ATTP cho nhân 

viên  CBTP  tại  các  BATT  của  các  trường  mầm 

non. Qua các đợt thanh kiểm tra ATTP, hầu hết 

các trường mầm non, bao gồm cả công lập và tư 

thục, đều đạt các điều kiện vệ sinh cơ sở đối với 

BATT. Tuy nhiên, việc đánh giá kiến thức, thực 

hành  của  nhân  viên  trực  tiếp  CBTP  vẫn  chưa 

được thực hiện trong các đợt giám sát này. Đây 

là  vấn  đề  đáng  quan  tâm  vì  kiến  thức  và  thực 

hành  của  nhân  viên  CBTP  đóng  vai  trò  hết  sức 

quan  trọng trong  việc ngăn ngừa  các  vụ  NĐTP 

xảy ra tại các trường mầm non.  

Với mục đích khảo sát kiến thức, thực hành 

của nhân viên CBTP của các BATT tại các trường 

mầm  non  trên  địa  bàn  quận  1  nhằm  đánh  giá 

hiệu quả của công tác tuyên truyền, tập huấn về 

ATTP đồng thời cung cấp cơ sở dữ liệu nền để 

định hướng công tác quản lý ATTP tại các BATT 

thuộc  các  trường  mầm  non  trong  thời  gian  tới, 

chúng tôi tiến hành nghiên cứu này. 

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Nghiên cứu được triển khai tại 24 BATT của 

các trường mẫu giáo mầm non trênđịa bàn quận 

từ  tháng  2‐7/2013.  Tất  cả  nhân  viên  trực  tiếp 

tham gia CBTP có thời gian làm việc > 6 tháng tại 

các trường mầm non đều được đưa vào nghiên 

cứu.  Trong  nghiên  cứu  này  nhân  viên  trực  tiếp 

tham  gia  CBTP  là những  nhân  viên  của trường  mầm  non  trực  tiếp  thực  hiện  các  công  việc  liên  quan đến quy trình CBTP cho trẻ bao gồm: tiếp  phẩm,  sơ  chế,  xắt  thái,  chế  biến  và  phân  phối  thức ăn cho trẻ. Tổng cộng có 95 nhân viên CBTP 

đủ điều kiện được đưa vào nghiên cứu. 

Các  đối  tượng  sẽ  được  phỏng  vấn  trực  tiếp 

để  thu  thập  thông  tin  về  kiến  thức  ATTP.  Đối  với  thực  hành  của  nhân  viên,  điều  tra  viên  sẽ  quan sát trực tiếp dựa vào bảng kiểm thực hành.  Quá  trình  thu  thập  số  liệu  sẽ  bắt  đầu  vào  buổi  sáng tại trường mầm non với việc khảo sát kiến  thức nhân viên trước khi nhân viên chuẩn bị bữa 

ăn sáng cho trẻ. Bên cạnh đó, điều tra viên phối  hợp  quan  sát  điều  kiện  vệ  sinh  của  BATT  và  dụng  cụ  chế  biến,  bảo  quản  thực  phẩm.  Buổi  chiều cùng ngày, điều tra viên sẽ quay lại trường  mầm non để quan sát thực hành của nhân viên  khi đang chuẩn bị bữa trưa.  

Bảng câu hỏi cấu trúc với 3 phần: thông tin 

cá nhân (5 câu hỏi), thông tin về ATTP/tập huấn  ATTP  (4  câu  hỏi),  kiến  thức  về  ATTP  (24  câu  hỏi). Bảng kiểm thực hành gồm 4 phần: vệ sinh  đối với cơ sở (8 câu), vệ sinh đối với nhân viên (6  câu),  vệ  sinh  đối  với  dụng  cụ  (7  câu),  vệ  sinh  trong  chế  biến  và  bảo  quản  dụng  cụ  (4  câu).  Trước khi tiến hành điều tra chính thức, điều tra  thử 10 nhân viên để làm sáng tỏ bộ câu hỏi.  Kiến  thức  về  ATTP  sẽ  được  đánh  giá  qua  4  nội  dung  là  vệ  sinh  cá  nhân,  vệ  sinh  dụng  cụ,  nguồn nước, vệ sinh chế biến bảo quản, ngộ độc  thực phẩm. Mỗi nội dung sẽ được đánh giá đúng  sai  dựa  trên  số  câu  trả  lời  đúng  của  nhân  viên  trong đó nhân viên có kiến thức đúng về vệ sinh 

cá nhân khi trả lời đúng ≥ 6/8 câu hỏi, kiến thức  đúng về vệ sinh dụng cụ nguồn nước khi trả lời  đúng 4/4 câu hỏi, kiến thức đúng về vệ sinh chế  biến  bảo  quản  khi  trả  lời  đúng  7/7  câu  hỏi,  kiến  thức đúng về ngộ độc thực phẩm khi trả lời đúng  4/4 câu hỏi. Nhân viên có kiến thức đúng chung  khi có kiến thức đúng ≥ 3/4 nội dung trên. Đối với  thực  hành  ATTP,  nhân  viên  có  thực  hành  đúng 

Trang 4

khi  điều  tra  viên  quan  sát  thấy  nhân  viên  thực 

hiện đúng 6 nội dung thực hành.  

KẾT QUẢ 

Đặc điểm dân số củanhân viên 

Bảng 1: Các đặc điểm dân số xã hội học của nhân 

viên CBTP (n = 95) 

Đặc điểm Tần số Tỷ lệ %

Tuổi

Giới

Trình độ học vấn

Tuổi nghề

Trình độ chuyên môn

Trong  tổng  số  95  nhân  viên  CBTP  được 

phỏng vấn, nhóm tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là > 

35  –  55  (70,5%)  và  nhóm  tuổi  chiếm  tỷ  lệ  thấp 

nhất là > 50 tuổi (5,3%). Nhìn chung hầu hết các 

đối tượng có độ tuổi < 55 tuổi (94,7%). Về phân 

bố  giới  tính  89,5%  nhân  viên  là  nữ  và  chỉ  có 

10,5%  nhân  viên  là  nam.  Trình  độ  học  vấn  của 

các nhân viên đều từ cấp I trở lên trong đó tỷ lệ 

có  trình  độ  học  vấn  từ  cấp  III  trở  lên  là  50,5%. 

Đối với tuổi nghề, tỷ lệ nhân viên làm việc > 10 

năm là cao nhất lên đến 45,2%, trong khi đó tỷ lệ 

làm  việc  <  1  năm  chỉ  chiếm  9,5%.  Đối  với  trình 

độ  chuyên  môn,  80%  các  nhân  viên  đều  được 

đào  tạo  về  CBTP  và  chỉ  có  20%  chưa  được  đào  tạo về lĩnh vực này. 

Bảng 2: Tiếp cận thông tin về ATTP và tập huấn 

ATTP của nhân viên CBTP (n = 95) 

Nguồn thông tin tiếp cận

Tập huấn về ATTP

Thời điểm tập huấn gần đây nhất*

*: n = 94 là số nhân viên được tập huấn về ATTP  

Đối  với  việc  tiếp  cận  thông  tin  về  ATTP,  100% các đối tượng nghiên cứu đều tiếp cận từ  nhiều nguồn thông tin khác nhau. Nguồn thông  tin phổ biến nhất đối với các đối tượng chính là  tivi (76,8%), kế tiếp là báo chí/tờ rơi (65,3%). Tỷ lệ  đối tượng nhận thông tin từ internet và đài phát  thanh  chỉ  có  24,2%  và  22,1%.  Ngoài  các  nguồn  thông  tin  trên,  đối  tượng  nghiên  cứu  còn  nhận  thông  tin  từ  nguồn  khác  như  cán  bộ  giáo  dục  (8,9%),  người  thân  (1,1%),  bạn  bè  (0,5%).  Khi  được hỏi có tham gia tập huấn ATTP hay không,  99% đối tượng đều trả lời đã từng tham gia vào  các lớp tập huấn về ATTP. Trong số này có đến  69,2% tập huấn cách thời điểm khảo sát < 1 năm,  17% được tập huấn cách đây 1‐2 năm, và 13,8% 

được tập huấn cách đây > 2 năm. 

Trang 5

Biểu đồ 1: Kiến thức đúng về an toàn thực phẩm của nhân viên chế biến thực phẩm (n=95) 

Trong các kiến thức về an toàn thực phẩm, tỷ 

lệ  nhân  viên  có  kiến  thức  đúng  về  vệ  sinh  cá 

nhân là cao nhất (83,2%). Các kiến thức còn lại có 

tỷ lệ nhân viên có kiến thức đúng rất thấp <40%. 

Kiến  thức  đúng  chung  về  ATTP  được  định 

nghĩa  là  nhân  viên  có  kiến  thức  đúng  ≥  3/4  nội  dung kiến thức về an toàn thực phẩm nêu trên.  Kết quả thống kê cho thấy kiến thức đúng chung 

về ATTP của nhân viên CBTP là 11,6%. 

Thực hành về an toàn thực phẩm của nhân viên chế biến thực phẩm 

Biểu đồ 2: Thực hành đúng về an toàn thực phẩm của nhân viên chế biến thực phẩm (n=95) 

Nhìn chung tỷ lệ thực hành đúng của nhân 

viên  đối  với  từng  khía  cạnh  của  an  toàn  thực 

phẩm  khá  cao.  Các  thực  hành  về  chia  thức  ăn, 

thực  hành  về  phòng  ngừa  bệnh  lây  truyền  qua 

thực  phẩm  có  tỷ  lệ  đúng  đến  100%.  Trong  các 

thực hành, chỉ có thực hành về mặc trang phục 

bảo  hộ  lao  động  có  tỷ  lệ  thực  hành  đúng  thấp  nhất đạt 76,8%. Thực hành đúng chung về ATTP  được định nghĩa là nhân viên có thực hành đúng  tất cả 6 khía cạnh của an toàn thực phẩm. Do đó, 

tỷ  lệ  thực  hành  đúng  chung  về  ATTP  chỉ  đạt  56,8%.  

83.2

39

15.8 11.6 11.6 0

10 20 30 40 50 60 70 80 90

KT đúng

về VSCN

KT đúng VS CBBQTP

KT đúng

về VS DCCB

KT đúng

về NĐTP

KT đúng chung về ATTP

Kiến thức đúng về ATTP

Tỷ lệ %

100 100 93 93

87.4

76.8

56.8

0 20 40 60 80 100

120

TH chia thức

ăn

TH PN BTQTP

TH khám SKĐK

TH tập huấn ATTP

TH VSCN mặcTH

BHLĐ

TH chung ATTP

Thực hành đúng về ATTP

Tỷ lệ %

Trang 6

Bảng 3: Mối liên quan giữa kiến thức chung về an toàn thực phẩm và các đặc điểm của nhân viên chế biến thực 

phẩm (n = 95) 

Giới tính

0,9

Trình độ học vấn

0,4

Tuổi nghề

Trình độ chuyên môn

0,3

Tập huấn về ATTP

0,7

Không tính được

Thời điểm tập huấn ATTP *

* : n = 94 là số đối tượng được tập huấn về ATTP  

Giữa kiến thức chung về an toàn thực phẩm 

và  các  đặc  điểm  dân  số  ‐  xã  hội  học  của  nhân 

viên  CBTP  không  có  mối  liên  quan  có  ý  nghĩa  thống kê (p > 0,05). 

Bảng 4: Mối liên quan giữa thực hành chung về an toàn thực phẩm và các đặc điểm của nhân viên chế biến thực 

phẩm (n = 95) 

Giới tính

0,6

Trình độ học vấn

0,9

Tuổi nghề

Trang 7

Đặc điểm của nhân viên Thực hành về an toàn thực phẩm PR (KTC 95%) p

Tập huấn về ATTP

0,2

Thời điểm tập huấn ATTP

0,08

Giữa thực hành chung về an toàn thực phẩm 

và  các  đặc  điểm  dân  số  ‐  xã  hội  học  của  nhân 

viên  CBTP  không  có  mối  liên  quan  có  ý  nghĩa 

thống kê  (p > 0,05) ngoại  trừ  tuổi nghề.  Những 

nhân  viên  làm  việc  từ  1‐5  năm  có  thực  hành 

chung đúng bằng 0,5 lần so với những nhân viên  làm việc < 1 năm. Những nhân viên làm việc từ  5‐10  năm  hoặc  >  10  năm  có  thực  hành  chung  đúng  bằng 0,6  lần so  với  những  nhân  viên  làm  việc < 1 năm. 

Bảng 5: Mối liên quan giữa thực hành chung về an toàn thực phẩm và các kiến thức về an toàn thực phẩm của 

nhân viên CBTP (n = 95) 

Kiến thức về vệ sinh cá nhân

0,6

Kiến thức về vệ sinh dụng cụ nguồn nước

0,8

Kiến thức về vệ sinh chế biến, bảo quản

0,7

Kiến thức về NĐTP

0,02

Kiến thức chung về an toàn thực phẩm

0,02

Giữa  thực  hành  chung  về  an  toàn  thực 

phẩm và kiến thức về vệ sinh cá nhân, vệ sinh 

dụng cụ và nguồn nước, vệ sinh chế biến bảo 

quản thực phẩm không có mối liên quan có ý 

nghĩa  thống  kê  (p  >  0,05).  Giữa  kiến  thức  về 

NĐTP, kiến thức chung về an toàn thực phẩm 

có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với thực 

hành  chung  (p  <  0,05).  Theo  đó  những  nhân 

viên có kiến thức đúng về NĐTP và kiến thức  đúng  chung  về  ATTP  có  khả  năng  thực  hành  đúng  cao  gấp  1,7  lần  so  với  những  nhân  viên 

có kiến thức không đúng về NĐTP và ATTP.  

Trang 8

Các  đặc  điểm  dân  số  xã  hội  học  của  mẫu 

nghiên cứu 

Độ tuổi của các nhân viên CBTP khá cao với 

tỷ  lệ  người  có  độ  tuổi  từ  >  35‐55  chiếm  đến 

70,5%.  Kết  quả  này  cũng  phù  hợp  với  nhiều 

nghiên cứu khác tiến hành trên đối tượng nhân 

viên CBTP(1, 2, 5). Phân bố tuổi này cho thấy các 

nhân  viên  tại  các  nhà  trẻ  có  thời  gian  làm  việc 

khá lâu năm (tỷ lệ nhân viên làm việc > 10 năm 

chiếm 45,2%). Đa số nhân viên CBTP đều là nữ 

giới  (89,5%)  phù  hợp  với  thực  tế  vì  tại  các  nhà 

trẻ, trường mầm non vẫn ưu tiên vị trí CBTP cho 

nữ giới. Trình độ học vấn của nhân viên tương 

đối cao với tỷ lệ ≥ cấp III lên đến 50,5%. Tỷ lệ cao 

hơn  so  với  nhiều  nghiên  cứu  khác(2, 5, 4).  Điều 

này  cho  thấy  các  trường  mầm  non  cũng  chú 

trọng đến trình độ học vấn của nhân viên CBTP 

khi tuyển đầu vào. 

Tỷ lệ nhân viên đã qua các lớp tập huấn, đào 

tạo  về  CBTP  khá  cao  lên  đến  80%.  Tuy  nhiên 

20% còn lại vẫn chưa tham gia bất kỳ lớp đào tạo 

CBTP nào. Đây là nhóm đối tượng cần phải đào 

tạo thêm trong thời gian sắp tới. Tỷ lệ nhân viên 

được  tập  huấn  về  ATTP  cũng  rất  cao  đạt  đến 

99% trong số này 69,2% mới được tập huấn cách 

đây 1 năm. Điều nay phản ánh công tác tập huấn 

tốt của Trung tâm Y tế Dự phòng quận 1. 

Kiến  thức  đúng  về  an  toàn  thực  phẩm  của 

nhân viên  

Nhìn  chung  kiến  thức  về  ATTP  của  nhân 

viên không cao. Nhân viên có tỷ lệ kiến thức về 

vệ sinh cá nhân là cao nhất lên đến 83,2%, trong 

khi đó tỷ lệ nhân viên có kiến thức đúng về vệ 

sinh dụng  cụ  chế  biến  và  kiến thức về  ngộ độc 

thực  phẩm  rất  thấp  (15,8%  và 11,6%). Điều  này 

dẫn  đến  kiến  thức  đúng  chung  về  ATTP  của 

nhân viên rất thấp chỉ đạt 11,6%. Tỷ lệ này thấp 

hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thanh Khê 

(24%)(3) và  Đỗ  Thị  Mỹ  Trang  (28,9%)(1).  Tuy 

nhiên sự khác biệt này chủ yếu là do định nghĩa 

kiến  thức  đúng  của  các  nghiên  cứu  trên  và  nghiên cứu của chúng tôi khác nhau.  

Thực  hành  đúng  về  an  toàn  thực  phẩm  của  nhân viên 

Nhìn chung tỷ lệ thực hành đúng của nhân  viên tại các nhà trẻ quận 1 đều khá cao trong đó 

có các thực hành chia thức ăn, thực hành phòng  ngừa  bệnh  lây  truyền  qua  thực  phẩm  đạt  đến  100%. Tỷ lệ thực hành về mặc bảo hộ lao động  chỉ đạt 56,8% thấp nhất trong các nội dung thực  hành. Điều này là do trong quy định người chế  biến  thực  phẩm  cần  phải  mang  găng,  khẩu  trang, ủng (đối với các cơ sở khác nhau như bếp 

ăn  công  nghiệp,  bếp  ăn  tập  thể,  bếp  ăn  nhà  trẻ  mầm  non)  khi  CBTP,  tuy  nhiên  tại  các  nhà  trẻ,  mầm non,  nhân  viên  CBTP thường không tuân  thủ vì cho rằng gây bất tiện, khó khăn trong đi  lại,  CBTP.  Việc  tỷ  lệ  mặc  bảo  hộ  lao  động  thấp  dẫn  đến  thực  hành  chung  về  ATTP  của  nhân  viên  chỉ  đạt  56,8%.  Tỷ  lệ  này  thấp  hơn  so  với  nghiên  cứu  của  Nguyễn  Thanh  Khê  (87,5%)(3),  nhưng  tương  tự  nghiên  cứu  của  Đỗ  Thị  Thu  Trang  (60%)(1)  và  Tiêu  Văn  Linh  (58,9%)(4),  và  cao  hơn  nghiên  cứu  của  Nguyễn  Minh  Hùng  (34%)(2).  Như  vậy  có  thể  thấy  so  với  các  đối  tượng  CBTP  tại  các  BATT  khác  thì  nhân  viên  CBTP  tại  các  trường  mẫu  giáo  của  quận  1  có  thực hành khá tốt. 

Mối liên quan giữa kiến thức, thực hành và  các đặc điểm của nhân viên  

Trong  nghiên  cứu  này  chúng  tôi  phát  hiện  được  mối  liên  quan  có  ý  nghĩa  thống  kê  giữa  tuổi nghề và thực hành chung về ATTP. Kết quả  cho thấy nhân viên có tuổi nghề cao lại có thực  hành đúng chung thấp hơn so với những nhân  viên có tuổi nghề thấp hơn. Điều này có thể do  những nhân viên có tuổi nghề cao cho rằng bản  thân đã có kinh nghiệm và được tập huấn trước 

đó  nên  lơ  là  không  thực  hành  ATTP  so  với  những nhân viên có tuổi nghề thấp.  

Nghiên cứu của chúng tôi còn cho thấy kiến  thức về ngộ độc thực phẩm và kiến thức chung 

Trang 9

về  ATTP  có  mối  liên  quan  có  ý  nghĩa  thống  kê 

với  thực  hành  chung  về  ATTP  của  nhân  viên. 

Điều  này  khẳng  định  rằng  kiến  thức  đóng  vai 

trò  quan  trọng  có  thể  làm  tăng  khả  năng  thực 

hành đúng của nhân viên. 

KẾT LUẬN 

Tỷ lệ nhân viên có kiến thức đúng về ATTP 

trong nghiên cứu này là 11,6%. Một số kiến thức 

của nhân viên còn thấp bao gồm kiến thức về các 

bệnh  lây  nhiễm  (nhiễm  giun  sán,  bệnh  thương 

hàn),  kiến  thức  về  thời  điểm  rửa  tay  đúng  cách, 

kiến thức về giữ gìn vệ sinh cá nhân trong CBTP 

(không  được  ăn  uống,  khạc  nhổ  trong  khu  vực 

CBTP), kiến thức về kiểm nghiệm nguồn nước và 

kiến thức về NĐTP (nhận biết thực phẩm có sẵn 

độc  tố).  Tỷ  lệ  có  thực  hành  đúng  của  nhân  viên 

rất cao từ 90% trở lên. Tuy nhiên vẫn còn một tỷ 

lệ  nhỏ  nhân  viên  chưa  thực  hành  mang  khẩu 

trang (10,5%), găng tay (22,1%) trong khi CBTP. 

Nhân  viên  có  tuổi  nghề  từ  1‐5  năm  thực 

hành đúng về ATTP chỉ bằng 0,5 lần so với nhân 

viên  có  tuổi  nghề  <  1  năm.  Nhân  viên  có  kiến 

thức  đúng  về  NĐTP  có  khả  năng  thực  hành 

đúng về ATTP cao gấp 1,7 lần so với nhân viên 

có  kiến  thức  không  đúng.  Nhân  viên  có  kiến 

thức  đúng  chung  về  ATTP  có  khả  năng  thực 

hành đúng về ATTP cao gấp 1,7 lần so với nhân 

viên có kiến thức không đúng 

KIẾN NGHỊ 

Đối  với  Phòng  giáo  dục  cần  khuyến  khích 

ban  giám  hiệu  các  trường  mầm  non  nâng  cao 

tiêu chí đầu vào trình độ học vấn của các nhân 

viên CBTP. Ngoài ra ban giám hiệu nhà trường 

cần tiếp tục duy trì và hoàn thiện điều kiện cơ sở 

vật  chất,  dụng  cụ  chế  biến  thực  phẩm  cho  các 

BATT của trường nhằm nâng cao hơn nữa điều  kiện vệ sinh ATTP của các BATT này.  

Đối với Trung tâm Y tế Dự phòng quận 1, cần  tiếp tục duy trì đều đặn các lớp tập huấn về ATTP  cho  đối  tượng  là  nhân  viên  CBTP  tại  các  BATT  của trường mầm non. Nội dung các lớp tập huấn  này cần nhấn mạnh đến các kiến thức về các bệnh  lây nhiễm mà nhân viên CBTP không được mắc  trong  khi  CBTP,  kiến  thức  về  thời  điểm  rửa  tay  đúng cách, kiến thức về giữ gìn vệ sinh cá nhân  trong  CBTP,  kiến  thức  về  kiểm  nghiệm  nguồn  nước và kiến thức về NĐTP. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Đỗ Thị Thu Trang, Tô Gia Kiên (2009). Kiến thức và thực hành 

về vệ sinh an toàn thực phẩm của người chế biến thực phẩm tại  các bếp ăn tập thể trường học huyện Hóc Môn năm 2009. Y học  Thành Phố Hồ Chí Minh Năm. 14 (1). 121‐129. 

2 Nguyễn  Minh  Hùng,  Nguyễn  Thị  Huỳnh  Mai,  Lê  Trường  Giang (2010). Tình hình an toàn vệ sinh thực phẩm bếp ăn tập  thể trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và các giải pháp phòng  ngừa ngộ độc thực phẩm. Y học TP Hồ Chí Minh. 14(1)88 ‐ 94 

3 Nguyễn Thanh Khê (2010). Kiến thức và thực hành về các điều  kiện  bảo  đảm  vệ  sinh  an  toàn  thực  phẩm  của  người  chế  biến  thực phẩm tại các bếp ăn tập thể các trường mầm non quận 6. 

TP.  HCM  năm  2010.  Luận  văn  chuyên  khoa  cấp  1.  Đại  học  Y  Dược Thành phố HCM.Tr. 67‐78 

4 Tiêu Văn Linh (2009). Thực trạng vệ sinh an toàn thực phẩm ở  bếp ăn tập thể của trường mẫu giáo‐ tiểu học bán trú tỉnh Bà Rịa 

‐ Vũng Tàu năm 2009. Luận văn chuyên khoa cấp 1. Đại học Y  dược Tp. Hồ Chí Minh. Tr. 55‐87. 

5 Trương  Ánh  Loan  (2007).  Kiến  thức  và  thực  hành  vệ  sinh  an  toàn thực phẩm đối với nhân viên chế biến bếp ăn tập thể khu  công  nghiệp Trảng  Bàng.  Tỉnh  Tây  Ninh  năm  2007. Luận  văn  chuyên khoa cấp 1. Đại học y dược TP. HCM. Tr. 67‐78.   

Ngày nhận bài báo:       26/5/2014  Ngày phản biện nhận xét bài báo:   2/6/2014  Ngày bài báo được đăng:     14/11/2014   

 

Ngày đăng: 22/01/2020, 22:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w