1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tổng kết 5 năm điều trị chấn thương thanh khí quản

6 47 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 472,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này nhằm so sánh kết quả điều trị chấn thương thanh khí quản bằng phẫu thuật mở và bằng phương pháp nong qua nội soi tại khoa tai mũi họng bệnh viện Chợ Rẫy từ 1/2005 đến 9/2009. Nghiên cứu tiến hành qua khảo sát 54 trường hợp chấn thương thanh-khí quản điều trị bằng phương pháp phẫu thuật hở và 54 trường hợp điều trị bằng phương pháp nong qua nội soi tại khoa Tai Mũi Họng từ 5/2007 đến 8/2009.

Trang 1

TỔNG KẾT 5 NĂM ĐIỀU TRỊ CHẤN THƯƠNG THANH-KHÍ QUẢN

Trần Phan Chung Thuỷ*

TÓM TẮT

Cùng với sự gia tăng của tai nạn giao thông, chấn thương thanh khí quản cũng ngày càng tăng, đòi hỏi có phương pháp điều trị đúng đắn và kịp thời để tránh sẹo hẹp về sau

Mục tiêu: So sánh kết quả điều trị chấn thương thanh khí quản bằng phẫu thuật mở và bằng phương pháp

nong qua nội soi tại khoa tai mũi họng bệnh viện Chợ Rẫy từ 1/2005 đến 9/2009

Đối tượng: Qua khảo sát 54 trường hợp chấn thương thanh-khí quản điều trị bằng phương pháp phẫu

thuật hở và 54 trường hợp điều trị bằng phương pháp nong qua nội soi tại khoa Tai Mũi Họng từ 5/2007 đến 8/2009 Thiết kế nghiên cứu: Hai giai đoạn: Thực nghiệm lâm sàng hồi cứu mô tả trong thời gian từ 1/2005 đến 4/2007 và Thực nghiệm lâm sàng tiến cứu mô tả trong thời gian từ 5/2007 đến 9/2009

Kết quả: Trong cả 2 nhóm nghiên cứu chúng tôi nhận thấy: Bệnh nhân nam là chiếm ưu thế Nguyên nhân

chủ yếu do tai nạn giao thông Tổn thương thanh quản là hay gặp nhất So sánh kết quả ban đầu giữa 2 phương pháp: Tỉ lệ rút ống thở của phẫu thuật hở là 68,5% và tỉ lệ này của phương pháp nong qua nội soi là 96,3%

Kết luận: Chỉnh hình chấn thương thanh khí quản bằng phương pháp nong qua nội một phương pháp khả

thi để chỉ định cho đa số chấn thương thanh khí quản đến sớm

SUMMARY

OVERVIEW 5 YEAR MANAGEMENT OF LARYNGOTRACHEAL TRAUMA

Tran Phan Chung Thuy * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 4 - 2011: 352 - 357

The ratio of the laryngotracheal trauma is increasing along with the increase of traffic accidents This disease needs proper treatment to avoid laryngotracheal stenosis

Objective: Compare the results of treatment laryngotracheal trauma by open surgery and baloon

laryngotracheal plasty method

Patients: 54 laryngo-tracheal trauma cases have been treated by open surgery and 54 laryngo-tracheal

trauma cases have been treated by endoscopic surgery at ENT department of Cho Ray Hospital from 1/2005 to 9/2009 Design: retrospective study from 1/2005 to 4/2007 and prospective study from 5/2007 to 9/2009

Results: Most of them are male, at labour age The trauma usually result from accident de circulation

Hoarseness, dyspnea, subcutaneus emphysema are mostly seen X-ray, endoscopy, and especially CTscan help to diagnose the trauma location exactly Success percentage of open surgery was 68.5% and success percentage of baloon laryngotracheal plasty method was 96.3%

Conclusion: The baloon laryngotracheal plasty method is good indication for majority of early

laryngotracheal trauma

Key words: laryngtracheal trauma, balloon laryngoplasty, open surgery

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ở nước ta, cùng với sự gia tăng của tai nạn

giao thông, thì chấn thương thanh khí quản

cũng ngày càng tăng, đòi hỏi cần có một qui trình đúng để xử trí sự giải quyết đồng bộ thống nhất từ các tuyến cơ sở và trung ương cũng như

* Khoa Tai Mũi họng, BV Chợ Rẫy,

Tác giả liên lạc: BS CKII Trần Phan Chung Thủy, ĐT: 0979917777; Email: chungthuytranphan@gmail.com

Trang 2

giữa các chuyên khoa có liên quan Bệnh viện

Chợ Rẫy là tuyến cuối nên đã nhận được nhiều

bệnh nhân đa thương trong đó rất nhiều chấn

thương thanh khí quản

Chỉnh hình chấn thương thanh khí quản

bằng phương pháp nong qua nội soi được thực

hiện tại khoa tai mũi họng bệnh viện Chợ Rẫy từ

tháng 5/2007 Để đóng góp nhỏ cho việc nghiên

cứu tình hình chấn thương thanh-khí quản ở

nước ta và rút ra một số kinh nghiệm chúng tôi

khảo sát tình hình chấn thương thanh khí quản

tại khoa tai mũi họng bệnh viện Chợ rẫy từ

1/2005 đến 9/2009

Mục tiêu nghiên cứu

So sánh phương pháp điều trị chấn thương

thanh-khí quản tại khoa tai mũi họng bệnh viện

Chợ Rẫy trong khoảng thời gian 1/2005 đến

9/2009

Rút ra một số kinh nghiệm trong điều trị

chấn thương thanh khí quản

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Tiêu chuẩn lựa chọn

Bao gồm tất cả những bệnh nhân được chẩn

đoán chấn thương thanh-khí quản vào bệnh

viện Chợ Rẫy và được phẫu thuật chỉnh hình

chấn thương thanh-khí quản từ 1/2005 đến

9/2009

Phương pháp nghiên cứu

Chúng tôi thực hiện phương pháp nghiên

cứu mô tả cắt ngang, gồm 2 giai đoạn:

Giai đoạn hồi cứu

Thu thập hồ sơ tại phòng lưu trữ hồ sơ của

khoa TMH bệnh viện Chợ Rẫy từ 1/ 2005 đến

4/2007

Giai đọan tiến cứu

Là những bệnh nhân vào khoa từ 5/2007 đến

9/2009

Tất cả các bệnh nhân vào viện được thu

thập các thông tin: Tiếp nhận bệnh nhân, cấp

cứu khai thác hoàn cảnh, nguyên nhân xảy ra

chấn thương, thăm khám chẩn đoán hoàn tất bệnh án và điều trị, đánh giá tình trạng bệnh nhân khi ra viện

Thu thập và xử lý số liệu

Thu thập số liệu tất cả bệnh nhân vào viện như tiêu chuẩn chọn lựa

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN Dịch tễ học lâm sàng chấn thương thanh-khí quản

Sự phân bố theo lứa tuổi và giới

Tuổi < 20 21-30 31-40 41-50 51-60 Tổng số

Nữ 0 2 0 1 0 3(5,6%) Nam 6 18 16 9 1 51(94,4%)

Phẫu thuật

hở

Tỷ lệ % 11,1 37,0 29,6 18,5 1,8 54(100%)

Nam 8 19 11 10 4 52 (96,3%)

Phẫu thuật nội

soi Tỷ lệ % 14,8 35,5 20,3 22,2 7,4 54(100%)

Theo kết quả trên, trong cả 2 nhóm nghiên cứu: Trong nghiên cứu thứ nhất với phẫu thuật

hở chấn thương thanh khí quản gặp chủ yếu là nam (91,7%), nữ (8,3%)(9) Trong nghiên cứu thứ hai với chỉnh hình thanh khí quản bằng phương pháp nong qua nội soi nam (96,3%), nữ rất ít (3,7%) Lứa tuổi thường gặp nhất là thanh niên

từ 21 đến 40 tuổi, lứa tuổi xử dụng phương tiện giao thông cá nhân nhiều Kết quả này cũng phù hợp với kết quả của tác giả Lê Thanh Thái và Phạm Khánh Hoà trong nghiên cứu tình hình chấn thương thanh khí quản tại bệnh viện tai mũi họng trung ương trong thời gian từ năm

1988 đến 1989(4)

Nguyên nhân gây chấn thương

Nguyên nhân

Tai nạn giao thông

Tai nạn lao động,

Tai nạn sinh hoạt

Tổng số

Phẫu thuật

hở 45 (83,3%) 5 (9,2%) 4 (7,4%) (100%)54 Phẫu thuật

nội soi

46 (85,2 %) 3 (5,6 %) 5 (9,2%) 54

(100%) Nguyên nhân gây chấn thương nhiều nhất là tai nạn giao thông, thường là chấn thương phức tạp, cả thanh quản, khí quản, có khi kết hợp những chấn thương cơ quan khác Làm cho tình trạng bệnh nặng thêm và điều trị thêm phức tạp

Trang 3

Phân loại chấn thương

Nhóm chấn

thương

Chấn thương kín

Chấn thương

hở

Tổng số

Phẫu thuật hở 43 (79,6%) 11(20,3%) 54 (100%)

Phẫu thuật nội soi 37(68,5%) 17(31,5%) 54 (100%)

Kết quả cho thấy nhóm chấn thương hở ít

hơn so với chấn thương kín(5) Kết quả này khác

với kết quả của các tác giả nước ngoài nhưng lại

khác với tác giả Lê Thanh Thái

Kết quả của chúng tôi cho thấy chấn thương

thanh quản kín chủ yếu thấy trong nhóm

nguyên nhân tai nạn giao thông và sinh hoạt

Các nhóm nguyên nhân bị đâm và một số trong

nhóm nguyên nhân tai nạn giao thông và sinh

hoạt có văng mảnh gây vết thương chủ yếu là

chấn thương hở(8)

Lâm sàng

Trong hai nhóm nghiên cứu của chúng tôi vì

các chấn thương thanh khí quản có tổn thương

khung sụn, hẹp đường thở, cần phẫu thuật, theo

phân loại của Schaefer là loại 2, 3 và 4, nên 3

triệu chứng chính như khàn tiếng, khó thở, tràn

khí gần như đều thấy trong mọi trường hợp

Triệu

chứng

Khàn tiếng Khó thở > độ

II

Tràn khí dưới

da

Phẫu thuật

hở

50(92,5%) 48(88,8%) 54(100%)

Phẫu thuật

nội soi 46(85,1%) 32(59,2%) 54(100%)

Ngoài 3 triệu chứng chính như trên thì chấn

thương hở còn kèm theo chảy máu, thở phì phò

qua vết thương Chấn thương kín thì thường có

sưng đau vùng cổ

Gộp chung cả 2 nhóm chấn thương kín, chấn

thương hở và so với nghiên cứu của tác giả Lê

Thanh Thái: Rối loạn tiếng nói 53,2%, khó thở là

68,1%, tràn khí dưới da là 40,4%

Các tỉ lệ của chúng tôi đều cao hơn, do có

nhiều chấn thương nặng, đa thương

Cận lâm sàng

Tất cả các trường hợp đều được chụp

Xquang phổi thẳng, cổ thẳng, cổ nghiêng

Xquang thường: Hình ảnh bệnh lý chúng tôi gặp

không nhiều và không đa dạng, tuy vậy vẫn cho

thấy giá trị kinh điển phát hiện tràn khí dưới da,

có trường hợp phát hiện vỡ sụn giáp, sụn nhẫn

có di lệch(7) CTscan chúng tôi thực hiện ở tất cả các trường hợp Đây là hình ảnh có giá trị chẩn đoán chấn thương thanh khí quản rất cao Phát hiện các tổn thương vỡ sụn nhẫn, sụn giáp, sụn khí quản, cả những tổn thương hẹp, phù nề, xẹp lún sụn tràn khí dưới da

Những tổn thương chấn thương thanh-khí quản phát hiện trên CTscan được tóm tắt trong bảng sau:

Tràn khí dưới da

Vỡ sụn thanh quản

Vỡ sụn Khí quản

Tổn thương niêm mạc

Phẫu thuật

hở

54 (100%) 45 (83,3%) 7 (12,9%) 54 (100%)

Phẫu thuật nội soi 54 (100%) 41 (75,9%) 9 (16,6%) 54 (100%) Với nhóm nghiên cứu thứ hai (5/2007 - 9/2009), Chúng tôi phân tích kỹ hơn trên nội soi

và CTscan để xác định sụn bị tổn thương

Nội soi ống mềm sớm nhất có thể để đánh giá niêm mạc và lòng thanh khí quản Đây là một thủ thuật nhẹ nhàng nhưng có giá trị lớn đánh giá tổn thương Thủ thuật này có thể thực hiện ngay sau giai đoạn cấp cứu, khi bệnh nhân được đảm bảo đường thở Khi kết quả CTscan chưa đủ bằng chứng chỉ định mổ

Bảng sau đây ghi nhận đánh giá tổn thương qua nội soi của nhóm 2 (5/2007 - 9/2009):

Hạn chế

cử động trật khớp

SP

Rách niêm mạc, phù nề,

tụ máu

Lộ sụn Hẹp

T-KQ, bị đẩy lệch

Hẹp lòng thanh quản trước sau

Bít hoàn toàn

15 (27,7%)

54 (100%)

10 (18,5%)

25 (46,3%)

6 (11,1%) 23

(42,6%) Trong chấn thương kín các vị trí tổn thương hay gặp nhất là tổn thương trong lòng thanh quản Những trường hợp nặng, vị trí hay gặp nhất là sụn nhẫn, sụn khí quản, sau là sụn giáp Kết quả này phù hợp với cơ chế gây tổn thương Chúng tôi gặp nhiều các trường hợp phối hợp tổn thương cả thanh và khí quản

Trang 4

Đánh giá điều trị

Giai đoạn cấp cứu

Số ca giai

đoạn cấp

cứu

Không mở khí

quản

Mở khí quản, Đặt nội khí quản

Tổng số

Phẫu thuật

hở

13 ( 24,1%) 41 (75,9 %) 54 (100%)

Phẫu thuật

nội soi 18 ( 33,3%) 36 ( 66,6%) 54 (100%)

Điều trị giai đoạn cấp cứu chấn thương

thanh khí quản bao gồm: bảo đảm đường thở

thông và hồi sức Giai đoạn này được thực hiện

khá tốt ở tuyến tỉnh Mở khí quản hoặc đặt nội

khí quản và hồi sức Tuy nhiên một số trường

hợp bệnh nhân được mở vào sụn nhẫn, chúng

tôi phải mở lại khí quản thấp hơn, những trường

hợp này có nguy cơ sẹo hẹp do mở khí quản nếu

để lâu

Giai đoạn chuyên khoa

CTscan vàNội soi được thực hiện trong vòng

6 đến 72 giờ

Và phẫu thuật ngay sau khi xác định tổn

thương

Theo chúng tôi, trong chấn thương hở thì

triệu chứng thường rầm rộ nên thường được

đưa đến bệnh viện sớm và sử trí kịp thời, còn

chấn thương kín và nhất là có đa chấn thương

kèm theo như chấn thương sọ não, ngực thì có

thể bị bỏ sót hoặc chậm trễ

Nhóm điều trị bằng phẫu thuật mở

Mở sụn nhẫn, sụn giáp, sụn khí quản đường

giữa Với tổn thương không phức tạp, không

dập nát nhiều thì phẫu thuật tái tạo có đặt ngón

tay găng Với tổn thương sụn nhẫn, sụn giáp,

sụn khí quản phức tạp, phẫu thuật hở chỉnh

hình thanh khí quản với ống T hay ống

Abounker được lựa chọn

Điều trị

CK

Nong

bằng

bóng

NKQ

Đặt bóng nong NKQ

Đặt ngón tay găng

Đặt ống T hay Aboulker

Tổng số

Phẫu

thuật hở

0 (0%) 0 (0%) 27

(50%)

27(50%) 54(100%)

Phẫu

thuật nội

soi

17

(31,4%) (64,8%) 35 (1,8%) 1 1 (1,8%) 54(100%)

Nhóm điều trị bằng phương pháp nong qua nội soi

Nội soi thanh quản treo dưới gây mê nội khí quản hay gây tê có tiền mê

- Nong thanh khí quản chấn thương bằng bong bóng nội khí quản số 5

- Sau nong tùy chấn thương vỡ sụn vững hay không vững mà không đặt hay có đặt vật nong và giữ khẩu độ

- Kỹ thuật này được sử dụng cho cả tổn thương sụn giáp, sụn nhẫn hay sụn khí quản

Biến chứng gặp trong quá trình điều trị

Biến chứng trong quá trình điều trị chúng tôi gặp không nhiều, chủ yếu là nhiễm trùng tại chỗ nhẹ

Kháng sinh (thường là họ Cephalosporin thế hệ III hay Quinolone trong những trường hợp chấn thương nhiều có nguy cơ nhiễm trùng bệnh viện Kháng viêm corticoid được dùng cho tất cả các trường hợp trừ bệnh nhân

có viêm loét bao tử Chống trào ngược cũng được chúng tôi chú ý

Đánh giá điều trị

Kết quả Tiếng bình

thường

Khàn tiếng Mang ống

nong

Tổng số

Phẫu thuật

hở

15 (27,7%) 22 (40,7%) 17(31,5%) 54

(100%) Phẫu thuật

nội soi 27 (50,0%) 24 (44,4%) 2 (3,7%) (100%)54

So sánh kết quả quan trọng nhất là rút được ống thở giữa 2 phương pháp phẫu thuật hở và phương pháp nong qua nội soi chúng tôi thấy có

sự khác biệt có ý nghĩa thống kê:

Tỉ lệ này ở phương pháp mổ hở khá cao 17

ca (31,5%), còn ở phương pháp nong qua nội soi chúng tôi có tỉ lệ là 2 ca (3,7%)

So sánh 2 phương pháp điều trị chấn thương thanh khí quản trong vòng 5 năm tại khoa tai mũi họng bệnh viện Chợ Rẫy, chúng tôi có những nhận xét sau đây

Nhờ ống nội soi quang học thanh-khí quản

mà phẫu thuật viên không cần bổ khung sụn thanh-khí quản ra mà vẫn có thể quan sát toàn

Trang 5

bộ niêm mạc bên trong Trái lại với phương

pháp mổ hở phải rạch da, bóc tách bộc lộ

khung sụn thanh-khí quản và cắt mở cả sụn và

niêm mạc

Sau nong, chúng tôi soi kiểm tra ngay được

niêm mạc tổn thương, đo chiều dài, đánh giá sự

bong tróc hay rách nhiều niêm mạc và đánh giá

khung sụn có vững hay không(5)

Với chỉnh hình thanh-khí quản bằng phương

pháp nong qua nội soi thì không cần rạch da, sẽ

không để lại sẹo trên cổ, đây cũng là mối quan

tâm của nhiều bệnh nhân nhất là bệnh nhân trẻ

tuổi Đồng thời cũng không có nguy cơ làm tổn

thương thần kinh hồi qui và mạch máu xung

quanh thanh-khí quản là những biến chứng

nguy hiểm trong phẫu thuật vùng cổ, nhất là

phẫu thuật trên vùng mô bị chấn thương sưng

phù nề, tràn khí

Thời gian can thiệp nhìn chung ngắn hơn vì

khi phải mở cổ và thanh-khí quản ra là phẫu

thuật lớn, đòi hỏi thời gian lâu và phẫu thuật

viên có nhiều kinh nghiệm về phẫu thuật vùng

cổ Do không cắt rạch mô nên lượng máu mất là

không nhiều, trừ những trường hợp chấn

thương hở hay có tổn thương phối hợp với các

cơ quan khác(1)

Tất cả các trường hợp phẫu thuật mở vào

khung sụn thanh-khí quản để chỉnh hình

thanh-khí quản do chấn thương đều phải đặt

ống nong và giữ khẩu độ ngắn ngày (như

ngón tay găng) hay dài ngày (như ống

Aboulker hay ống T)(2)., nhưng đối với chỉnh

hình thanh-khí quản bằng phương pháp nong

qua nội soi thì có những trường hợp không

cần đặt ống nong và giữ khẩu độ nếu thấy sau

nong lòng thanh-khí quản thông thoáng trở lại

và vững, niêm mạc trong lòng thanh-khí quản

không rách, không bong tróc nhiều

Tuy nhiên phương pháp này cũng có những

hạn chế cần chỉ định đúng

Đối với những trường hợp chấn thương

thanh-khí quản có mất chất nhiều, cần tái tạo

bằng ghép mô thì cần tiến hành phẫu thuật mổ

hở, hay những trường hợp đứt lìa sụn thanh-khí quản thì nội soi quang học chỉ có tác dụng trợ giúp, soi kiểm tra bên trong lòng thanh-khí quản

có bị sụp lún hay không để đưa bong bóng nội khí quản vào nong ra đồng thời đặt lưu ống nong và giữ khẩu độ sau mổ(3)

Trường hợp bệnh nhân chỉ được mở khí quản cấp cứu, chấn thương thanh-khí quản bị bỏ quên hay do phải xử lý các chấn thương nặng ảnh hưởng tới tính mạng trước như chấn thương sọ não, lồng ngực, xương khớp… Khi bệnh nhân đến thì chấn thương thanh-khí quản

đã sang giai đoạn xơ hóa, thì việc nong chỉnh hình thanh-khí quản qua nội soi sẽ gặp nhiều khó khăn, có khi không nong được Những trường hợp này chúng tôi chuyển sang mổ hở tái tạo đặt ống T hay ống Aboulker

Ưu điểm và hạn chế của chỉnh hình thanh-khí quản bằng phương pháp nong qua nội soi và phẫu thuật hở được tóm tắt ở bảng sau:

Đặc điểm Phẫu thuật

hở

Phẫu thuật nội soi

Đường mổ rạch da Có Không

Máu mất Nhiều Ít Sưng đau sau mổ Nhiều Ít Nguy cơ tổn thương TK quặt

Nguy cơ tổn thương mạch máu quanh T-KQ

Có Không

Đặt ống nong và giữ khẩu độ Có Không hoặc có Thời gian nằm viện Dài Ngắn

KẾT LUẬN

Về đặc điểm lâm sàng

Bệnh nhân Nam là chiếm ưu thế

Nguyên nhân chủ yếu do tai nạn giao thông Tổn thương thanh quản là hay gặp nhất

Về bệnh cảnh lâm sàng cận lâm sàng

Lâm sàng: Khàn tiếng, khó thở, tràn khí là 3 triệu chứng hay gặp nhất

Trang 6

Cận lâm sàng: - Nội soi thanh khí quản ống

mềm có giá trị đáng tin cậy, dễ thực hiện, chi phí

không cao

- CTscan đánh giá tốt thương khung sụn

thanh khí quản, đây là xét nghiệm tin cậy và

cần thiết trong chỉ định phẫu thuật hay điều trị

nội khoa

Về điều trị

Điều trị cấp cứu

Mở khí quản hay đặt nội khí quản cấp cứu

thường được thực hiện với bệnh nhân khó thở

thanh quản độ II trở lên

Đây là chấn thương đường thở nên việc

thông đường khí đạo và chống sốc là việc cần

phải tiến hành tức thì ngay lúc vào cấp cứu

Điều trị chuyên khoa

So sánh kết quả ban đầu giữa 2 phương

pháp:

- Tỉ lệ rút ống thở của phẫu thuật hở là 68,5%

- Tỉ lệ rút ống thở của phương pháp nong

qua nội soi là 96,3%

Chỉnh hình chấn thương thanh khí quản bằng phương pháp nong qua nội soi là một phương pháp khả thi để chỉ định cho đa số chấn thương thanh khí quản đến sớm

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bailey, B.J (1998) Head and Neck Surgery-Otolaryngology Laryngeal Trauma, J.B Lippincott; Philadelphia Ch 68 vol 1

2 Ganzel TM, Mumford LA (1989) Diagnosis and management

of acute laryngeal trauma Am Surg ;55:303-306

3 Kennedy KS, Harley EH (1988) Diagnosis and treatment of

acute laryngeal trauma Ear Nose Throat J ;67:584,587,590-2

passim

4 Lê Thanh Thái (1989): Nghiên cứu tình hình chấn thương thanh khí quản tại bệnh viện Tai Mũi Họng trung ương trong thời gian từ năm 1988 đến 1989

5 Nguyễn văn Đức (1990) Thanh khí quản- Bài giảng giải phẫu tai mũi họng, giáo trình sau đại học Trường đại học y dược thành phó Hồ Chí Minh, 1990, trang 27

6 Schaefer, S.D (1990) The acute surgical treatment of the fractured larynx Operative Techniques in Otolaryngology-Head and Neck Surgery.;1(1):64-70

7 Schaefer, S.D (1991) Use of CT scanning in the management

of the acutely injured larynx Oto Clinics of North America.:24(1); 31-36

8 Stevens, R., Driscoll, B, and Quinn, F.B (1997) Laryngeal Trauma, UTMB Dept of Otolaryngology Grand Rounds Archive, May 21,

9 Trần Phan Chung Thủy (2007), “Nghiên cứu tình hình chấn thương thanh khí quản tại khoa TMH BV Chợ Rẫy từ 1/2005 đến 10/2006”, Hội nghị khoa học kỹ thuật trường đại học y dược thành phố Hồ Chí Minh, năm 2007

Ngày đăng: 22/01/2020, 22:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm