1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát tần suất và nhu cầu điều trị rối loạn cương trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2

7 75 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 623,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu nhằm khảo sát tần suất và nhu cầu điều trị rối loạn cương trên bệnh nhân đái tháo đường típ 2. Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 5/2009-5/2010, khảo sát 350 bệnh nhân nam đái tháo đường típ 2 đang điều trị ngoại trú tại phòng khám nội tiết Bệnh viện Đại Học Y Dược TP.HCM.

Trang 1

KHẢO SÁT TẦN SUẤT VÀ NHU CẦU ĐIỀU TRỊ RỐI LOẠN CƯƠNG

TRÊN BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÍP 2

Phạm Nam Việt * , Vũ Hồng Thịnh 1

TÓM TẮT

Mục đích: Khảo sát tần suất và nhu cầu điều trị rối loạn cương (RLC) trên bệnh nhân đái tháo đường (ĐTĐ) típ 2

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang, thực hiện từ tháng 5/2009-5/2010, khảo

sát 350 bệnh nhân nam ĐTĐ típ 2 đang điều trị ngoại trú tại phòng khám nội tiết Bệnh viện Đại Học Y Dược TP.HCM RLC được đánh giá bằng bảng IIEF-5 Nhu cầu điều trị RLC được đánh giá qua phỏng vấn trực tiếp

theo bảng câu hỏi Thống kê bằng phần mềm Stata 10.0

Kết quả: Tần suất RLC ở bệnh nhân ĐTĐ típ 2 là 64,28 % (n=350) (KTC 95%: 59,28% - 69,28%), trong

đó RLC nhẹ 10%; RLC nhẹ-TB 12,57%; RLC TB 16,85%; RLC nặng 24,86% Tần suất RLC trên bệnh nhân ĐTĐ típ 2 càng cao ở những bệnh nhân tuổi càng cao, thời gian bị ĐTĐ càng lâu, không kiểm soát tốt đường huyết và có biến chứng của ĐTĐ Trong những bệnh nhân ĐTĐ típ 2 bị RLC, 74,22% có nhu cầu điều trị RLC

Kết luận: RLC gặp sớm và nhiều ở bệnh nhân ĐTĐ típ 2 với tỉ lệ cao bệnh nhân bị RLC mức độ nặng Hơn 2/3 bệnh nhân ĐTĐ típ 2 với RLC có nhu cầu điều trị RLC

Từ khóa: tần suất, rối loạn cương, đái tháo đường típ 2, nhu cầu điều trị

ABSTRACT

PREVALENCE AND NEED FOR TREATMENT OF ERECTILE DYSFUNCTION IN TYPE 2 DIABETIC

PATIENTS

Pham Nam Viet, Vu Hong Thinh* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 3 - 2011: 31 - 37

Objectives: To estimate the prevalence and need for treatment of erectile dysfunction (ED) in type 2 diabetic

patients

Material and methods: Cross-sectional study was conducted between May 2009 and May 2010, included

350 type 2 diabetic outpatients at University Medical Center, Ho Chi Minh city We used the International Index for Erectile Function-5 criteria (IIEF-5) to identify mild, mild to moderate, moderate and complete ED Participants having ED were interviewed with questionnaire to determine the need for treatment Statistics was done by Stata 10.0

Results: The prevalence of ED in type 2 diabetic patients was 64.28% (n=350; 95% confidence interval

59.28%-69.28%) The prevalence of mild, mild to moderate, moderate and complete ED were 10; 12.57; 16.85 and 26.86%, respectively The prevalence and severity of ED increased with age, duration of diabetes and complication

of diabetes 74.22% type 2 diabetic patients with ED need for ED treatment

1

Bệnh viện Đại Học Y Dược TP.HCM (University Medical Center in Ho Chi Minh city)

Tác giả liên hệ: Ths.Bs Phạm Nam Việt, ĐT: 0903854222, Email: bsphamnamviet@yahoo.com

Trang 2

Conclusions: We found a high prevalence of ED in type 2 diabetic patients ED occurs at an earlier

age in diabetic men Moreover, diabetic patients have more severe ED More than 2 in 3 type 2 diabetic patients with ED seek ED treatment

Key words: prevalence, erectile dysfunction, type 2 diabetic, need for treatment

MỞ ĐẦU

Rối loạn cương (RLC) là tình trạng người

đàn ông không thể đạt tới hay duy trì được sự

cương dương vật đủ cứng để giao hợp thỏa

nghiên cứu Massachusetts trên nam giới lớn

tuổi (MMAS) được tiến hành trên 1290 đàn ông

tuổi từ 40-70 ở Hoa Kỳ, ghi nhận 52% có RLC ở

một mức độ nào đó(8) Tại Việt Nam tần suất

RLC khoảng 15,7%(21) RLC thường đi kèm và là

biến chứng của những bệnh mạn tính như đái

tháo đường (ĐTĐ), bệnh tim mạch, suy thận

mạn và bệnh thần kinh(14)

ĐTĐ là rối loạn nội tiết thường kết hợp với

RLC nhất và RLC là biến chứng thường gặp ở

bệnh nhân ĐTĐ do biến chứng mạch máu và

bệnh thần kinh(16) Nhiều nghiên cứu trên thế

giới cho thấy tần suất RLC ở bệnh nhân ĐTĐ

cao hơn trong dân số nam giới chung, nhưng

kết quả rất thay đổi từ 20-90%(3,5,7,15,21)

Người bệnh RLC thường giấu bệnh, ngại đi

khám bệnh và ngại khai bệnh với thầy thuốc(21)

Ngay cả ở Hoa Kỳ, trong một nghiên cứu có

74% bệnh nhân không khai bệnh RLC khi họ đi

khám bệnh về niệu khoa vì cảm thấy bối rối,

82% bệnh nhân rất muốn bác sĩ của họ hỏi hoặc

đề cập tới vấn đề RLC của họ(2)

Trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung

khảo sát những bệnh nhân ĐTĐ típ 2 điều trị

ngoại trú tại phòng khám Nội tiết bệnh viện Đại

Học Y Dược TP.HCM nhằm vào hai mục tiêu:

Xác định tần suất RLC trên bệnh nhân

ĐTĐ típ 2

Khảo sát tỉ lệ bệnh nhân có nhu cầu điều

trị RLC trong số những bệnh nhân ĐTĐ típ 2

có RLC

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Những bệnh nhân nam được chẩn đoán ĐTĐ típ 2 đang điều trị ngoại trú tại phòng khám Nội tiết bệnh viện Đại Học Y dược

TP.HCM

Tiêu chuẩn chọn bệnh

- Bệnh nhân nam độ tuổi 25-75, đã có vợ

- Đã được chẩn đoán ĐTĐ típ 2, đang điều trị ngoại trú, hồ sơ điều trị ngoại trú có ghi nhận đầy đủ thông tin về chẩn đoán, kết quả gần nhất của đường huyết khi đói, HbA1c, các thuốc đang

sử dụng, các biến chứng nếu có

- Còn hoạt động tình dục trong 6 tháng trước khảo sát

- Đồng ý trả lời khảo sát

Tiêu chuẩn loại trừ

- Không đồng ý tham gia trả lời

- Không có hoạt động tình dục trong vòng 6 tháng trước khảo sát

- Đang có những bệnh nặng như nhồi máu

cơ tim, suy tim nặng, tai biến mạch máu não chưa ổn định, yếu liệt nặng, lao phổi tiến triển,

nhiễm khuẩn cấp tính, suy hô hấp

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu thống kê mô tả cắt ngang với phương thức phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân theo bảng câu hỏi và ghi nhận những số liệu khác từ hồ sơ bệnh án

Cỡ mẫu

Cỡ mẫu được tính theo công thức: n = Z

21- /2 P(1-P)/d2.Với: P là tỉ lệ RLC ở bệnh nhân ĐTĐ típ 2 theo y văn (chọn P=65,4%(6) ); Z1-  /2

Trang 3

=1,96 (khoảng tin cậy 95%); Độ chính xác

d=5% Ta tính được n=348 Dự kiến lấy mẫu là

350 bệnh nhân

Thu thập và xử lý số liệu

Thời gian lấy mẫu từ tháng

05/2009-05/2010

Thu thập số liệu theo bảng soạn sẵn: ghi

nhận thông tin từ hồ sơ bệnh án và bảng câu

hỏi phỏng vấn trực tiếp

Xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê

Stata 10.0

Phương pháp đánh giá kết quả

Đánh giá RLC

Bác sĩ trực tiếp hỏi bệnh nhân và đánh giá

RLC theo bảng câu hỏi IIEF-5 (International

Index for Erectile Function–5 criteria), mức độ

RLC được chia theo điểm số IIEF-5 như sau(17):

- Không RLC: 22-25

- RLC nhẹ: 17-21

- RLC nhẹ tới trung bình: 12-16

- RLC trung bình (TB): 8-11

- RLC nặng: 5-7

Đánh giá về nhu cầu điều trị RLC

Để đánh giá nhu cầu điều trị RLC ở những

bệnh nhân ĐTĐ típ 2, trong số những bệnh

nhân có điểm số IIEF-5 ≤ 21 (được chẩn đoán

RLC theo tiêu chuẩn bảng điểm IIEF-5(17)), chúng

tôi dùng bảng câu hỏi soạn sẵn(5,11) để chọn ra

những người mà tình trạng cương của họ có làm

ảnh hưởng chất lượng sống Và từ trong số

những người RLC có làm ảnh hưởng chất lượng

sống đó, qua bảng câu hỏi để xác định những

người có nhu cầu điều trị RLC

Để đánh giá RLC có làm ảnh hưởng chất

lượng sống của bệnh nhân hay không, chúng tôi

cải biên mẫu câu hỏi của tác giả Hui-Meng Tan

trong nghiên cứu “Thái độ của nam giới châu Á đối với các tình huống đời sống và tình dục” (the Asian MALES study)(20), chúng tôi rút gọn phần trả lời là có hoặc không (tác giả Hui-Meng Tan chia trả lời theo mức độ từ 1 đến 5 điểm) Theo đó những người có điểm số IIEF-5 ≤ 21 sẽ được hỏi tình trạng cương hiện tại có ảnh hưởng đến 6 khía cạnh của cuộc sống không (trả lời có hoặc không): (1) Cuộc sống gia đình; (2) Công việc hàng ngày; (3) Mối quan hệ với vợ; (4) Cuộc sống tình dục; (5) Sức khỏe; (6) Sự hài lòng chung về cuộc sống Nếu trả lời RLC có làm ảnh hưởng đến 1 trong 6 khía cạnh của cuộc sống thì xếp vào nhóm RLC có ảnh hưởng chất lượng sống, nếu trả lời không có ảnh hưởng cả 6 khía cạnh thì xếp vào nhóm không có ảnh hưởng chất lượng sống

Để đánh giá nhu cầu điều trị RLC, chúng tôi dựa theo cách nghiên cứu của tác giả De Boer(4)

và Baldwin(2) Những người thuộc nhóm RLC có ảnh hưởng chất lượng sống sẽ được hỏi họ có muốn điều trị RLC không, với 3 lựa chọn trả lời là: (1) Tôi đã, đang điều trị RLC; (2) Tôi muốn điều trị RLC nhưng chưa điều trị; (3) Tôi không muốn điều trị RLC Được xếp vào nhóm có nhu cầu điều trị RLC khi trả lời: (1) Đã, đang điều trị RLC; hoặc (2) Muốn được điều trị RLC nhưng chưa điều trị

Ngoài ra bệnh nhân đã có điều trị RLC còn được hỏi lựa chọn điều trị của họ:

- Đến bác sĩ (bác sĩ tây y)

- Đến lương y (bác sĩ đông y, thầy thuốc y học dân tộc)

- Tự mua thuốc ở nhà thuốc (tây y)

- Tự điều trị bằng tập luyện, thảo dược, thức

ăn, thức uống

- Lựa chọn khác

Trang 4

KẾT QUẢ

Từ tháng 5/2009 đến tháng 5/2010, chúng tôi

thu thập số liệu được 350 bệnh nhân nam ĐTĐ

típ 2 theo tiêu chuẩn chọn bệnh

Trong đó có 5 bệnh nhân khám tại phòng

khám Nam khoa vì RLC, làm xét nghiệm phát

hiện ĐTĐ sau đó điều trị ngoại trú tại phòng

khám Nội tiết và phòng khám Nam khoa (BV

Đại Học Y Dược TP.HCM)

Tần suất rối loạn cương trên bệnh nhân

ĐTĐ típ 2

Trong nghiên cứu của chúng tôi số bệnh

nhân nam ĐTĐ típ 2 bị RLC theo tiêu chuẩn

của bảng điểm số IIEF-5 là 225 bệnh nhân,

chiếm tần suất là 64,28% (khoảng tin cậy 95%

là từ 59,28% đến 69,28%), trong đó RLC nhẹ

10%; RLC nhẹ-TB 12,57%; RLC TB 16,85%;

RLC nặng 24,86%

Tần suất và mức độ rlc theo nhóm tuổi

Biều đồ 1: Tần suất và mức độ RLC theo nhóm tuổi

Tần suất RLC theo nghề nghiệp

Bảng 1: Tần suất RLC theo nghề nghiệp

nhân RLC (tỉ lệ)

Số bệnh nhân không RLC (tỉ lệ)

Tổng

số BN

Trí thức, quản lý, nhân viên văn phòng

49 (62%)

30 (38%)

79

Lao động phổ thông, chân tay, buôn bán

110 (60,1%)

73 (39,9%)

183

Hưu trí, nghỉ việc 66 (75%) 22 (25%) 88

Tần suất RLC theo thời gian biết bị ĐTĐ

Bảng 2: Tần suất RLC theo thời gian biết bị ĐTĐ

Thời gian biết bị ĐTĐ

Số bệnh nhân RLC (tỉ lệ)

Số bệnh nhân Không RLC (tỉ lệ)

Tổng số

BN

Tần suất RLC theo kiểm soát đường huyết

Bảng 3: Tần suất RLC theo kiểm soát đường huyết

Kiểm soát được đường huyết

Số bệnh nhân RLC (tỉ lệ)

Số bệnh nhân Không RLC (tỉ lệ)

Tổng số

BN

Tần suất RLC theo biến chứng của ĐTĐ

Bảng 4: Tần suất RLC theo biến chứng ĐTĐ

Biến chứng của ĐTĐ

Số bệnh nhân RLC (tỉ lệ)

Số bệnh nhân Không RLC (tỉ lệ)

Tổng số

BN

Trang 5

Nhu cầu điều trị rối loạn cương

Nhu cầu điều trị RLC

Bảng 5: Nhu cầu điều trị RLC

RLC Có ảnh hưởng chất lượng sống

Có nhu cầu điều trị RLC

RLC Không ảnh hưởng chất lượng

117 (52%) (20 RLC nhẹ-TB + 40 RLC TB + 57 RLC nặng)

50 (22,22%) (7 RLC nhẹ-TB + 15 RLC TB + 28 RLC nặng)

16 (7,12%) (10 RLC nhẹ-TB + 4 RLC TB + 2 RLC nặng)

167 (74,22%)

(27 RLC nhẹ-TB + 55 RLC TB + 85 RLC nặng)

Số lượng BN (tỉ lệ)

(số bệnh nhân theo

mức độ RLC)

42 (18,66%) (35 RLC nhẹ + 7 RLC nhẹ-TB)

183 (81,34%) (37 RLC nhẹ-TB + 59 RLC TB + 87 RLC nặng)

(35 RLC nhẹ + 44 RLC nhẹ-TB + 59 RLC TB + 87 RLC nặng)

Các cách lựa chọn điều trị

Biều đồ 2: Các cách lựa chọn điều trị

BÀN LUẬN

Bàn luận về vấn đề phát hiện bệnh ĐTĐ

nhờ RLC

Trong nghiên cứu này, có 5 bệnh nhân được

phát hiện ĐTĐ nhờ triệu chứng RLC (số lượng

bệnh nhân được phát hiện ĐTĐ nhờ triệu chứng RLC thật sự nhiều hơn nếu mẫu là những bệnh nhân đi khám RLC ở phòng khám Nam khoa, còn trong nghiên cứu này mẫu là những bệnh nhân đang điều trị ĐTĐ ở phòng khám Nội tiết)

Có một tỷ lệ RLC xuất hiện như là triệu chứng đầu tiên của ĐTĐ Thật vậy, theo Suks Minhas(16), trong một nghiên cứu 497 người đàn ông đi khám vì RLC, có 11,1% tìm thấy bị ĐTĐ chưa được chẩn đoán và ngoài ra có 4,2% bị rối loạn dung nạp glucose Theo Lasantha S Malavige(15), 12% nam giới đi khám vì RLC phát hiện ra bị ĐTĐ chưa được chẩn đoán, điều này cho thấy sự quan trọng trong việc tầm soát ĐTĐ ở những bệnh nhân

bị RLC

Bàn luận về tần suất RLC trên bệnh nhân ĐTĐ típ 2

Bảng 6: So sánh kết quả tần suất RLC trên bệnh nhân ĐTĐ típ 2

Ahmed I El-Sakka và cộng sự (Ả

rập Saudi, 2002)

562 27-84 Bảng IIEF (sử dụng 6 câu hỏi: câu 1-5

và câu 15)

86,1% N.H Cho và cộng sự (Hàn Quốc,

2005)

1312 40-65 Bảng IIEF-5 (nhưng chỉ chia 3 mức độ

RLC, điểm IIEF-5 từ 18-25 thì xếp vô

không RLC)

65,4%

Huỳnh Quốc Hội (Việt Nam, 2007) 105 38-70 Bảng IIEF-5 (chia 3 mức độ RLC, điểm

IIEF-5 từ 22-25 thì xếp vô không RLC)

51,43% Chúng tôi (Việt Nam, 2010) 350 30-75 Bảng IIEF-5 (chia 4 mức độ RLC, điểm

IIEF-5 từ 22-25 thì xếp vô không RLC)

64,28%

So sánh với những tác giả cũng nghiên cứu về tần suất RLC trên bệnh nhân ĐTĐ (so sánh

dưới đây chỉ có giá trị tương đối vì các nghiên

Trang 6

cứu sử dụng mẫu, phương pháp và chuẩn đánh

giá không đồng nhất), kết quả của chúng tôi

tương tự với kết quả N.H Cho và cộng sự (Hàn

Quốc, 2005) là 65,4%(3), S.C Siu và cộng sự

(Hồng Kông, 2001) là 63,6%(21); cao hơn kết quả

của Huỳnh Quốc Hội (Việt Nam, 2007) là

51,43%(12), Domenico Fedele và cộng sự (Ý, 1998)

là 35,8%(7); thấp hơn kết quả của Ahmed I

El-Sakka và cộng sự (Ả rập Saudi, 2002) là 81,6%(5)

Tần suất RLC theo độ tuổi, nghề nghiệp,

thời gian bị ĐTĐ, kiểm soát đường huyết và

biến chứng của ĐTĐ trong nghiên cứu của

chúng tôi (các trị số P đều nhỏ hơn 0,05): tần

suất RLC tăng dần theo nhóm tuổi Mức độ

nặng của RLC cũng tăng dần theo nhóm tuổi

Tần suất RLC cao nhất ở nhóm bệnh nhân hưu

trí, nghỉ việc, điều này cũng phù hợp vì nhóm

bệnh nhân này có tuổi cao hơn các nhóm còn lại

Thời gian biết bị ĐTĐ càng lâu thì tần suất RLC

càng cao Nhóm bệnh nhân kiểm soát tốt đường

huyết có tần suất RLC thấp hơn nhóm kiểm soát

đường huyết không tốt Nhóm bệnh nhân ĐTĐ

típ 2 có biến chứng trong nghiên cứu của chúng

tôi có tần suất RLC cao hơn nhóm không có biến

chứng Các tác giả khác cũng đều có kết quả

tương tự(1,3,5,7,21)

Bàn luận về nhu cầu điều trị RLC trên

bệnh nhân ĐTĐ típ 2

Với 74,22% bệnh nhân RLC có nhu cầu điều

trị, thì 22,22% đã có điều trị, còn 52% chưa điều

trị Điều này cho thấy nhu cầu điều trị RLC cao,

nhưng số bệnh nhân thực sự đi tìm kiếm điều trị

còn thấp và trên một nửa (52%) chưa điều trị

Theo Fisher(11), tới 70% nam giới bị RLC

không tìm kiếm điều trị, và qua khảo sát 27.839

nam giới trên 8 quốc gia, cho thấy ít hơn 16%

bệnh nhân RLC đang sử dụng thuốc ức chế men

PDE-5 để điều trị tình trạng RLC của họ

Trong nghiên cứu của Raymond C Rosen và

cộng sự(19), trong số 373 nam giới bị ĐTĐ ở độ

tuổi 45-75, có 49,8% bị RLC nhẹ hoặc trung bình

và 24,8% bị RLC hoàn toàn Trong số những người còn hoạt động tình dục, có 42,6% tìm kiếm điều trị RLC và 39,7% có dùng thuốc điều trị RLC

Trong nghiên cứu của chúng tôi, chỉ gần một nửa (48%) bệnh nhân đến điều trị tại bác sĩ (bác sĩ tây y), có tới 40% bệnh nhân tự tìm hiểu

và tự điều trị (18% tự mua thuốc và 22% tự điều trị tại nhà) cho thấy bệnh nhân RLC tự điều trị còn nhiều Trong khi đó, nghiên cứu của Hui-Meng Tan và cộng sự(21), đa số nam giới RLC (83,5%) tìm kiếm điều trị từ bác sĩ tây y

Về việc điều trị RLC không dùng các thuốc tây y, trong nghiên cứu của tác giả Hui-Meng Tan và cộng sự(21), 40% nam giới Trung Quốc lựa chọn điều trị bằng thay đổi lối sống, chế độ ăn; 60% nam giới Malaysia lựa chọn dùng thảo dược và vitamin Trong nghiên cứu này của chúng tôi, có 22% bệnh nhân điều trị bằng tập luyện, thảo dược, thức ăn, thức uống và 12% bệnh nhân đến lương y (bác sĩ đông y, thầy thuốc y học dân tộc)

KẾT LUẬN

Tần suất RLC trên bệnh nhân ĐTĐ típ 2 trong nghiên cứu này là 64,28%, trong đó RLC nhẹ 10%, RLC nhẹ tới trung bình 12,57%, RLC trung bình 16,85% và RLC nặng 24,86% Tần suất RLC trên bệnh nhân ĐTĐ típ 2 càng cao ở những bệnh nhân tuổi càng cao, thời gian bị ĐTĐ càng lâu, không kiểm soát tốt đường huyết

và có biến chứng của ĐTĐ

Trong những bệnh nhân ĐTĐ típ 2 bị RLC, 74,22% có nhu cầu điều trị RLC Nhu cầu điều trị RLC càng cao ở những bệnh nhân càng trẻ và mức độ RLC càng nặng Tuy nhiên

ở những bệnh nhân ĐTĐ típ 2 bị RLC này, hơn một nửa (52%) chưa từng điều trị RLC

Có 22,22% bệnh nhân đã có điều trị RLC, trong số đó dưới một nửa (48%) bệnh nhân đến bác sĩ (tây y), 40% bệnh nhân tự điều trị

Trang 7

không có chẩn đoán và chỉ định của thầy

thuốc

Có một số bệnh nhân (trong nghiên cứu

này ghi nhận có 5 bệnh nhân) RLC là triệu

chứng khiến bệnh nhân đi khám bệnh, nhờ đó

phát hiện ĐTĐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bacon, C G., Hu, F B., Giovannucci, E., Glasser, D B.,

Mittleman, M A., Rimm, E B (2002), "Association of type and

duration of diabetes with erectile dysfunction in a large cohort of

men" Diabetes Care, 25(8), 1458-1463

2 Baldwin, K., Ginsberg, P., Harkaway, R C (2003),

"Under-reporting of erectile dysfunction among men with unrelated

urologic conditions" Int J Impot Res, 15(2), 87-89

3 Cho, N H., Ahn, C W., Park, J Y., Ahn, T Y., Lee, H W., Park,

T S., et al (2006), "Prevalence of erectile dysfunction in Korean

men with Type 2 diabetes mellitus" Diabet Med, 23(2), 198-203

4 De Boer, B J., Bots, M L., Nijeholt, A A., Moors, J P., Verheij, T

J (2005), "The prevalence of bother, acceptance, and need for

help in men with erectile dysfunction" J Sex Med, 2(3), 445-450

5 Đỗ Văn Dũng (2008), Thiết kế bộ câu hỏi Đỗ Văn Dũng (Ed.),

Phương pháp nghiên cứu khoa học và phân tích thống kê với phần

mềm STATA 10.0 (pp 67-70), TP.HCM

6 El-Sakka, A I., Tayeb, K A (2003), "Erectile dysfunction risk

factors in noninsulin dependent diabetic Saudi patients" J Urol,

169(3), 1043-1047

7 Fedele, D., Coscelli, C., Santeusanio, F., Bortolotti, A., Chatenoud,

L., Colli, E., et al (1998), "Erectile dysfunction in diabetic subjects

in Italy" Diabetes Care, 21(11), 1973-1977

8 Feldman, H A., Goldstein, I., Hatzichristou, D G., Krane, R J.,

McKinlay, J B (1994), "Impotence and its medical and

psychosocial correlates: results of the Massachusetts Male Aging

Study" J Urol, 151(1), 54-61

9 Fisher, W A., Rosen, R C., Eardley, I., Niederberger, C., Nadel,

A., Kaufman, J., et al (2004), "The multinational Men's Attitudes

to Life Events and Sexuality (MALES) Study Phase II:

understanding PDE5 inhibitor treatment seeking patterns,

among men with erectile dysfunction" J Sex Med, 1(2), 150-160

10 Haro, J M., Beardsworth, A., Casariego, J., Gavart, S.,

Hatzichristou, D., Martin-Morales, A., et al (2006),

"Treatment-seeking behavior of erectile dysfunction patients in Europe:

Results of the Erectile Dysfunction Observational Study" J Sex

Med, 3(3), 530-540

11 Hartmann, U., Burkart, M (2007), "Erectile dysfunctions in patient-physician communication: optimized strategies for addressing sexual issues and the benefit of using a patient

questionnaire" J Sex Med, 4(1), 38-46

12 Huỳnh Quốc Hội (2007), Tỉ lệ đang mắc và các yếu tố nguy cơ của rối loạn cương dương ở bệnh nhân đái tháo đường típ 2 Luận văn thạc sĩ y học, Đại Học Y Dược, Thành Phố Hồ Chí Minh

13 Lue, T F (2000), "Erectile Dysfunction" N Engl J Med, 342(24),

1802-1813

14 Lue, T F (2007) Physiology of penile erection and pathophysiology of erectile dysfunction In A J Wein (Ed.),

Campbell - Walsh Urology (9th ed., pp 718-749) Saunders

Elsevier, Philadelphia

15 Malavige, L S., Levy, J C (2009), "Erectile dysfunction in

diabetes mellitus" J Sex Med, 6(5), 1232-1247

16 Minhas, S., Eardley, I., Kirby, M G (2009) Erectile dysfunction and diabetes In C C Carson III, R S Kirby, I Goldstein, M G

Wyllie (Eds.), Textbook of Erectile Dysfunction (pp 449-456)

Informa healthcare, New York

17 Rosen, R C., Cappelleri, J C., Smith, M D., Lipsky, J., Pena, B M (1999), "Development and evaluation of an abridged, 5-item version of the International Index of Erectile Function (IIEF-5) as

a diagnostic tool for erectile dysfunction" Int J Impot Res, 11(6),

319-326

18 Rosen, R C., Wing, R R., Schneider, S., Wadden, T A., Foster, G D., West, D S., et al (2009), "Erectile dysfunction in type 2 diabetic men: relationship to exercise fitness and cardiovascular

risk factors in the Look AHEAD trial" J Sex Med, 6(5),

1414-1422

19 Siu, S C., Lo, S K., Wong, K W., Ip, K M., Wong, Y S (2001),

"Prevalence of and risk factors for erectile dysfunction in Hong

Kong diabetic patients" Diabet Med, 18(9), 732-738

20 Tan, H M., Low, W Y., Ng, C J., Chen, K K., Sugita, M., Ishii, N., et al (2007), "Prevalence and correlates of erectile dysfunction (ED) and treatment seeking for ED in Asian Men: the Asian Men's Attitudes to Life Events and Sexuality (MALES)

study" J Sex Med, 4(6), 1582-1592

21 Trần Quán Anh (2002), Rối loạn cương dương Nguyễn Bửu

Triều, Trần Quán Anh (Eds.), Bệnh học giới tính nam (pp

379-458) Nhà xuất bản Y Học

22 Wespes, E., Amar, E., Hatzichristou, D., Hatzimouratidis, K., Montorsi, F., Pryor, J., et al (2006), "EAU Guidelines on erectile

dysfunction: an update" Eur Urol, 49(5), 806-815

Ngày đăng: 22/01/2020, 22:52

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w