Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá tác dụng phục hồi trí nhớ và học tập của Cereneed-caps trên chuột nhắt trắng gây suy giảm trí nhớ bằng scopolamin trên 2 mô hình mê lộ nước Morris và mê lộ nhiều chữ T. Chuột nhắt trắng chủng Swiss được uống Cereneed - caps liều 669,6 mg và 2008,8 mg cao khô dược liệu/kg/ngày trong 6 ngày nghiên cứu (mê lộ nước Morris) và 8 ngày nghiên cứu (mê lộ nhiều chữ T) Kết quả thấy Cereneed - caps làm giảm thời gian và quãng đường tìm thấy chân đế, làm tăng phần trăm thời gian bơi của chuột trong 1/4 bể có chân đế (mê lộ nước Morris), làm giảm thời gian và quãng đường tìm thấy khoang đích, làm giảm số lần quyết định sai (mê lộ nhiều chữ T), tác dụng giữa 2 liều là tương đương nhau.
Trang 1TÁC DỤNG PHỤC HỒI TRÍ NHỚ VÀ HỌC TẬP CỦA CERENEED-CAPS TRÊN CHUỘT NHẮT TRẮNG
ĐƯỢC GÂY SUY GIẢM TRÍ NHỚ BẰNG SCOPOLAMIN
Đinh Thị Tuyết Lan 1 , Trần Thanh Tùng 2
1 Trường Đại học Y Dược Thái Bình; 2 Trường Đại học Y Hà Nội Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá tác dụng phục hồi trí nhớ và học tập của Cereneed-caps trên chuột nhắt trắng gây suy giảm trí nhớ bằng scopolamin trên 2 mô hình mê lộ nước Morris và mê lộ nhiều chữ T Chuột nhắt trắng chủng Swiss được uống Cereneed - caps liều 669,6 mg và 2008,8 mg cao khô dược liệu/kg/ngày trong 6 ngày nghiên cứu (mê lộ nước Morris) và 8 ngày nghiên cứu (mê lộ nhiều chữ T) Kết quả thấy Cereneed - caps làm giảm thời gian và quãng đường tìm thấy chân đế, làm tăng phần trăm thời gian bơi của chuột trong 1/4 bể có chân đế (mê lộ nước Morris), làm giảm thời gian và quãng đường tìm thấy khoang đích, làm giảm số lần quyết định sai (mê lộ nhiều chữ T), tác dụng giữa 2 liều là tương đương nhau.
Từ khóa: phục hồi trí nhớ, học tập, scopolamin, mê lộ nước Morris, mê lộ nhiều chữ T
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Hội chứng sa sút trí tuệ nói chung và
bệnh Alzheimer nói riêng hiện nay đang là
mối quan tâm hàng đầu của những nhà lão
khoa trên toàn Thế giới cũng như ở nước ta,
khi tuổi thọ trung bình ngày càng cao, số
người mắc bệnh ngày càng nhiều Đây là
một trong những nguyên nhân chính dẫn đến
tình trạng phụ thuộc ở người cao tuổi Bệnh
gây suy giảm trí nhớ và nhiều lĩnh vực nhận
thức khác nhau, kèm theo với những rối loạn
về hành vi gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến
khả năng hoạt động hàng ngày và chất lượng
cuộc sống của bệnh nhân [1] Các thuốc điều
trị chủ yếu gồm các thuốc kháng
acetylcholi-nesterase, thuốc kháng thụ thể N - methyl - D
- Aspartat, thuốc tăng cường hoạt tính
sero-tonin Đây là các thuốc tân dược được sử
dụng để điều trị triệu chứng liên quan đến nhận
thức ảnh hưởng đến trí nhớ, khả năng nhận biết, ngôn ngữ, óc phán đoán và các quá trình tư duy khác Tuy nhiên, giá thành tương đối cao và có nhiều tác dụng không mong muốn Bên cạnh những phương pháp cải thiện trí nhớ của y học hiện đại, phương pháp điều trị dùng chế phẩm có nguồn gốc từ dược liệu luôn là hướng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học
Viên nang cứng Cereneed-caps là chế phẩm có thành phần gồm 10 vị dược liệu
gồm: Hồng hoa (Flos Carthami tinctorii), Xích thược (Radix Paeoniae), Đương quy (Radix
Angelicae sinensis), Xuyên khung (Rhizoma Ligustici wallichii), Sinh địa (Rhizoma
Rehmanniae), Chỉ xác (Fructus Aurantii), Sài
hồ (Radix Bubleuri), Ngưu tất (Radix
Achyranthis bidentatae), Cam thảo (Radix Glycyrrhizae), Bạch quả (Ginkgo biloba extract) Trong đó một số vị dược liệu như
Bạch quả, Đương quy, Ngưu tất đã được chứng minh có tác dụng cải thiện trí nhớ trên thực nghiệm và trên bệnh nhân sa sút trí tuệ
Địa chỉ liên hệ: Trần Thanh Tùng, Bộ môn Dược lý,
Trường Đại học Y Hà Nội
Email: tranthanhtung@hmu.edu.vn
Ngày nhận: 26/5/2016
Ngày được chấp thuận: 08/12/2016
Trang 2[2; 3; 4] Tuy nhiên, cho đến nay chưa có
nghiên cứu nào về hiệu quả trên trí nhớ khi
phối hợp 10 vị dược liệu này với nhau
Để có thêm những bằng chứng khoa học,
nghiên cứu này được tiến hành với mục tiêu:
Đánh giá tác dụng phục hồi trí nhớ và học tập
của Cereneed-caps trên chuột nhắt trắng
được gây suy giảm trí nhớ bằng scopolamin
trên 2 mô hình mê lộ nước Morris và mê lộ
nhiều chữ T
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
1 Chất liệu nghiên cứu và đối tượng
- Thuốc nghiên cứu: Cereneed-caps viên
nang cứng do Công ty cổ phần Dược Vật tư Y
tế Hải Dương sản xuất đạt tiêu chuẩn cơ sở
+ Mỗi viên chứa: 15 mg cao khô bạch quả
và 450mg cao khô hỗn hợp tương đương với
9g dược liệu bao gồm: Hồng hoa (0,76g), Xích
thược (1g), Đương quy (1g), Xuyên khung
(1g), Sinh địa (2g), Chỉ xác (0,6g), Sài hồ
(0,6g), Ngưu tất (1,3g), Cam thảo (0,74g)
+ Cách bào chế: Nghiền mịn các loại cao,
rây lấy bột, trộn bột cao với tinh bột, avicel,
calci carbonat thành hỗn hợp bột kép, thêm
ethanol 96% và nước tinh khiết để tạo khối
ẩm, xát hạt, sấy và sửa hạt, bao trơn (trộn với
tá dược gồm bột talc, magnesi stearat) sau đó
được đóng nang đạt chuẩn
- Thuốc dùng trong nghiên cứu
+ Chất gây suy giảm trí nhớ: Scopolamin
hydrobromid lọ 1g (Sigma Aldrich, Hoa Kỳ)
+ Thuốc chứng dương: Donepezil
hydro-chlorid viên nén 5mg, tên biệt dược: Aricept
(Pfizer)
+ Nước muối 0,9% chai 500ml (B.Braun,
Việt Nam)
- Thiết bị: Mê lộ nước Morris là bể tôn tròn
(đường kính 1,2m, cao 50cm) được chia thành 4 phần bằng nhau, trên thành mỗi phần
tư (1/4) có dán các hình ảnh khác nhau, một chân đế (đường kính 10cm, cao 25 cm) đặt cố định ở chính giữa 1/4 bể
+ Mê lộ nhiều chữ T được ghép bởi nhiều hình chữ T, có đường đi rộng 8cm, khoang xuất phát là buồng tối, khoang đích chứa thức ăn
+ Máy ảnh Canon Zoom Lens 8X
+ Phần mềm ANY-maze (US Biotech, Hoa Kỳ)
Đối tượng
Chuột nhắt trắng chủng Swiss, cả 2 giống,
trọng lượng 23 ± 2g, do Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương cung cấp Chuột được nuôi 5 - 7 ngày trước và trong suốt thời gian nghiên cứu
ở điều kiện phòng thí nghiệm với đầy đủ thức
ăn và nước uống tại Bộ môn Dược lý -Trường Đại học Y Hà Nội
2 Phương pháp
Để đánh giá tác dụng cải thiện trí nhớ của Cereneed – caps, chúng tôi triển khai trên 4
mô mình: mê lộ nước Morris, mê lộ nhiều chữ
T, trục quay Rotarod và máy né tránh chủ động, trong khuôn khổ bài báo này chúng tôi trình bày 2 nghiên cứu mê lộ nước Morris và
mê lộ nhiều chữ T
Chuột nhắt trắng được chia ngẫu nhiên thành 5 lô, mỗi lô 10 con
2.1 Mê lộ nước Morris
Theo phương pháp của Lee và cộng sự (2011) [5], chuột nhắt trắng được tiêm và uống thuốc trong 6 ngày liên tiếp, với cách thức và liều như trong bảng 1 Thử nghiệm gồm 2 giai đoạn Giai đoạn học hỏi: kéo dài 5 ngày gồm 2 bài tập: Bài tập nhìn thấy chân đế:
Trang 3chân đế cao hơn mực nước 1 cm Ngày 1,
sau khi tiêm scopolamin 30 phút, chuột được
huấn luyện tìm chân đế 2 lần, xuất phát từ 2
góc 1/4 bể khác nhau không chứa chân đế,
mỗi lần cách nhau 20 phút Thời gian huấn
luyện tối đa 2 phút, nếu không tìm thấy chân
đế, chuột sẽ được hướng dẫn tìm chân đế và
được đặt lên chân đế trong 15 giây Bài tập
không nhìn thấy chân đế: Ngày 2, 3, 4, 5 tiến
hành như ngày 1, nhưng chân đế đặt dưới mực nước 1cm Chỉ số đánh giá: thời gian và
chiều dài quãng đường tìm thấy chân đế Giai
đoạn đánh giá chính thức: thực hiện vào ngày
6: bỏ chân đế ra khỏi bể, chuột được thả vào
vị trí đối diện với 1/4 trước đó chứa chân đế
và bơi một lần duy nhất trong 1 phút Chỉ số đánh giá: phần trăm thời gian trong 1 phút chuột bơi trong 1/4 bể trước đó đặt chân đế
Bảng 1 Cách thức, liều tiêm và uống thuốc của các lô
3 Uống donepezil Sau 30 phút TMB
4 Uống Cereneed-caps Sau 30 phút
TMB scopolamin
669,6mg CKDL/kg/ngày(liều tương đương lâm sàng,hệ số ngoại suy 12)
5 Uống Cereneed-caps Sau 30 phút
TMB scopolamin 2008,8mg CKDL/kg/ngày (liều gấp 3 lần lô 4)
*: TMB: tiêm màng bụng, CKDL: cao khô dược liệu.
2.2 Mê lộ nhiều chữ T
Theo phương pháp của Falsafi và cộng sự
(2012) [6] Chuột nhắt trắng được tiêm và
uống thuốc trong 8 ngày liên tiếp, với cách
thức và liều như trong bảng 1 Chuột bị bỏ đói
16 tiếng trước thí nghiệm, sau khi tiêm
scopolamin 30 phút chuột được đặt ở khoang
xuất phát (buồng tối) trong 10 giây, sau đó mở
buồng tối cho chuột đi Khi tới khoang đích,
chuột nhận được phần thưởng là một viên
cám nhỏ, sau đó được trả về lồng cũ và cho
ăn Kết thúc mỗi thử nghiệm, toàn bộ mê cung
được lau sạch bằng dung dịch cồn 70%
Thử nghiệm gồm 2 giai đoạn Giai đoạn
học hỏi: Trước thử nghiệm chuột được khám
phá mê cung vào ngày 0 (chưa được tiêm và uống thuốc), những chuột nào tìm đến khoang đích trong 8 phút được tiếp tục đưa vào thử nghiệm Sau đó chuột được học hỏi trong 5 ngày liên tiếp tính từ ngày đầu tiên cho chuột
tiêm và uống thuốc, 1 lần/ngày Giai đoạn
đánh giá chính thức: Vào ngày 8 chuột được
đưa vào mê cung một lần duy nhất tương tự như trên Chỉ số đánh giá: thời gian chuột tìm được khoang đích, quãng đường chuột đi để tới khoang đích và số lần quyết định sai
3 Phân tích và xử lý số liệu
Các số liệu được xử lý thống kê bằng phần mềm Microsoft Excel 2007 Kiểm định các giá trị trung bình bằng test T-Student
Trang 4III KẾT QUẢ
1 Mê lộ nước Morris: Kết quả nghiên cứu được thể hiện ở biểu đồ 1, 2 và 3.
Biểu đồ 1 Ảnh hưởng của Cereneed - caps đến thời gian tìm thấy chân đế
Từ kết quả trên cho thấy, ở lô 2 thời gian dài hơn lô 1 ở tất cả các ngày (p < 0,001); ở lô 3, lô
4 và lô 5 đều ngắn hơn lô 2 ở các ngày nghiên cứu (p < 0,05, p < 0,01 và p < 0,001); ở lô 4 và lô
5 tương đương nhau và tương đương với lô 3 ở các thời điểm nghiên cứu (p > 0,05)
Biểu đồ 2 Ảnh hưởng của Cereneed - caps đến quãng đường tìm thấy chân đế
Từ kết quả trên cho thấy, quãng đường ở lô 2 dài hơn lô 1 ở tất cả các ngày (p < 0,001); ở lô
3, lô 4 và lô 5 đều ngắn hơn lô 2 ở các ngày nghiên cứu (p < 0,01 và p < 0,001); ở lô 4 và lô 5 tương đương nhau và tương đương với lô 3 ở các thời điểm nghiên cứu (p > 0,05)
Trang 5Biểu đồ 3 Ảnh hưởng của Cereneed - caps đến tỉ lệ phần trăm thời gian chuột bơi
trong 1/4 bể trước đó đặt chân đế
Từ kết quả trên cho thấy, ở lô 2 phần trăm thời gian bơi của chuột trong 1/4 bể trước đó đặt chân đế giảm so với lô 1 (p < 0,01); ở lô 3, lô 4 và lô 5 đều tăng so với lô 2 (p < 0,01); ở lô 4 và lô
5 tương đương nhau và tương đương với lô 3 (p > 0,05)
2 Mê lộ nhiều chữ T: kết quả nghiên cứu được thể hiện ở biểu đồ 4; 5 và 6.
Biểu đồ 4 Ảnh hưởng của Cereneed - caps đến thời gian tìm thấy khoang đích
Từ kết quả trên cho thấy, thời gian ở lô 2 dài hơn lô 1 ở tất cả các ngày (p < 0,001); ở lô 3, lô
4 và lô 5 đều ngắn hơn lô 2 ở các ngày nghiên cứu (p < 0,01 và p < 0,001); ở lô 4 và lô 5 tương đương nhau và tương đương với lô 3 ở các thời điểm nghiên cứu (p > 0,05)
Trang 6Biểu đồ 5 Ảnh hưởng của Cereneed-caps đến quãng đường tìm thấy khoang đích
Từ kết quả trên cho thấy, quãng đường ở lô 2 dài hơn lô 1 ở tất cả các ngày (p < 0,001); ở lô
3, lô 4 và lô 5 đều ngắn hơn lô 2 ở các ngày nghiên cứu (p < 0,01 và p < 0,001); ở lô 4 và lô 5 tương đương nhau và tương đương với lô 3 ở các thời điểm nghiên cứu (p > 0,05)
Biểu đồ 6 Ảnh hưởng của Cereneed-caps đến số lần quyêt định sai
Từ kết quả trên cho thấy, số lần quyết định sai ở lô 2 nhiều hơn lô 1 ở tất cả các ngày (p < 0,05, p < 0,01 và p < 0,001); ở lô 3, lô 4 và lô 5 đều ít hơn lô 2 ở các ngày nghiên cứu (p < 0,05 và p < 0,01); ở lô 4 và lô 5 tương đương nhau và tương đương với lô 3 ở các thời điểm nghiên cứu (p > 0,05)
IV BÀN LUẬN
Alzheimer là một bệnh lý tổn thương thoái
hóa tế bào thần kinh Ở bệnh nhân Alzheimer
có sự mất synap lan tỏa ở các vùng của vỏ
não, trong đó có các nhân xám ở nền não
trước là nơi sản xuất nhiều acetylcholin - một chất dẫn truyền thần kinh đóng vai trò quan trọng trong quá trình học tập và trí nhớ [1; 7; 8] Như vậy, ở bệnh nhân Alzheimer có sự giảm sút lượng acetylcholin trên thần kinh
Trang 7trung ương, đó là một trong những nguyên
nhân làm ảnh hưởng đến khả năng học hỏi và
trí nhớ của bệnh nhân Scopolamin là 1 chất
đã được chứng minh có thể gây ra những
biến đổi về hoạt động thần kinh (nhận thức,
điện não đồ…) giống như ở bệnh nhân
Alzheimer [9; 10; 11] Cơ chế tác dụng của
scopolamin là đối kháng cạnh tranh với
acetylcholin tại receptor M của hệ Muscarinic,
khi vào cơ thể scopolamin nhanh chóng được
phân phối nhiều vào não, tại đây chất này làm
mất tác dụng của acetylcholin trên hệ thần
kinh trung ương và có thể gây suy giảm trí
nhớ đặc biệt với liều cao [12] Chính vì vậy,
nhiều nghiên cứu đã sử dụng scopolamin để
gây mô hình suy giảm khả năng học hỏi và trí
nhớ trên động vật thực nghiệm [9; 13] Trong
nghiên cứu này, chuột nhắt trắng được tiêm
màng bụng scopolamin với liều 1mg/kg cho
thấy thuốc gây suy giảm khả năng học tập và
trí nhớ trên cả 2 mô hình mê lộ nước Morris
và mê lộ nhiều chữ T
Hiện nay, để điều trị bệnh Alzheimer trên
lâm sàng, nhóm thuốc giúp làm chậm tiến
triển và giảm triệu chứng hiệu quả nhất là
nhóm thuốc ức chế enzym
acetylcholi-nesterase – enzym thủy phân acetylcholin [1;
12] Donepezil là một trong các thuốc được
FDA cấp phép để điều trị chứng sa sút trí tuệ
Dựa trên cơ chế tác dụng và thực tế trên lâm
sàng đây là thuốc được dùng rất phổ biến,
chúng tôi đã lựa chọn donepezil làm thuốc
chứng dương Kết quả nghiên cứu cho thấy,
chuột nhắt trắng uống donepezil với liều
2,4mg/kg (tương đương liều lâm sàng trên
người) có tác dụng phục hồi trí nhớ và học tập
trên cả 2 mô hình
Viên nang Cereneed - caps xuất xứ từ bài
thuốc cổ phương “Huyết phủ trục ứ thang” có
gia giảm, thường dùng để điều trị suy giảm trí
nhớ, thiểu năng tuần hoàn não [14; 15] Trong đó có 1 số vị dược liệu như: Bạch quả, Đương quy, Ngưu tất đã được chứng minh có tác dụng cải thiện trí nhớ Với mục đích kế thừa và phát huy y học cổ truyền dân tộc, chúng tôi tiến hành đánh giá tác dụng cải thiện khả năng học hỏi và trí nhớ của chế phẩm trên Kết quả nghiên cứu cho thấy thuốc thử Cereneed-caps liều 669,6mg và 2008,8mg cao khô dược liệu/kg/ngày trên chuột nhắt trắng đã làm giảm thời gian và quãng đường tìm thấy chân đế, làm tăng phần trăm thời gian bơi của chuột trong 1/4 bể có chân đế (mê lộ nước Morris), làm giảm thời gian và quãng đường tìm thấy khoang đích, làm giảm
số lần quyết định sai so với lô mô hình (mê lộ nhiều chữ T) Như vậy, Cereneed - caps liều tương đương và gấp 3 lần liều lâm sàng có tác dụng phục hồi trí nhớ và học tập trên chuột nhắt trắng, tác dụng giữa 2 liều là tương đương nhau và tương đương với donepezil liều 2,4mg/kg
V KẾT LUẬN
Cereneed - caps 2 liều 669,6mg và 2008,8mg cao khô dược liệu/kg/ngày có tác dụng phục hồi trí nhớ và học tập trên chuột
nhắt trắng chủng Swiss bị gây suy giảm trí
nhớ bằng scopolamin:
Trên mê lộ nước Morris: Cereneed - caps làm giảm thời gian và quãng đường tìm thấy chân đế, làm tăng phần trăm thời gian bơi của chuột trong 1/4 bể có chân đế
Trên mê lộ nhiều chữ T: Cereneed - caps làm giảm thời gian và quãng đường tìm thấy khoang đích, làm giảm số lần quyết định sai Tác dụng giữa 2 liều Cereneed - caps là tương đương nhau và tương đương với done-pezil liều 2,4mg/kg
Trang 8Lời cảm ơn
Nhóm tác giả xin trân trọng cảm ơn Công
ty cổ phần Dược phẩm Trung ương 2 đã tài
trợ nghiên cứu này
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Phạm Thắng (2010) Bệnh Alzheimer và
các thể sa sút trí tuệ khác, Nhà xuất bản Y
học, 6-8, 157 - 181.
2 Cheng L L., Chen X N., Wang Y et al
(2011) Z-ligustilide isolated from Radix
Angelicae sinensis ameliorates the memory
impairment induced by scopolamine in mice
Fitoterapia, 82(7), 1128 - 1132.
3 Wang Y., Xu Y., Pan Y et al (2013).
Radix Achyranthis Bidentatae improves
learn-ing and memory capabilities in ovariectomized
rats Neural Regen Res, 8(18), 1644 - 1654.
4 Gauthier S and Schlaefke S (2014).
Efficacy and tolerability of Ginkgo biloba
extract EGb 761(R) in dementia: a systematic
review and meta-analysis of randomized
pla-cebo-controlled trials Clin Interv Aging, 9,
2065 - 2077
5 Lee B., Shim I., Lee H et al (2011).
Rehmannia glutinosa ameliorates
scopola-mine-induced learning and memory
impair-ment in rats J Microbiol Biotechnol, 21(8),
874 - 883
6 Falsafi S K., Deli A., Hoger H et al
(2012) Scopolamine administration modulates
muscarinic, nicotinic and NMDA receptor
sys-tems PLoS One, 7(2), 75 - 82.
7 Paul T F., Michael S., Gordon K W (1999) The cholinergic hypothesis of
Alz-heimer’s disease: a review of progress J.
Neurol Neurosurg Psychiatry, 66(2), 137 - 147.
8 Michael E H (2006) The Role of
Ace-tylcholine in Learning and Memory Curr Opin
Neurobiol, 16(6), 710 - 715.
9 Bajo R., López M.E., Canuet L et al (2015) Scopolamine effects on functional
brain connectivity: a pharmacological model of
Alzheimer's disease Scientific Reports, 5,
9748, doi: 10.1038/srep09748
10 Jeong J (2004) EEG dynamics in
pa-tients with Alzheimer’s disease Clin
Neuro-physiol, 115, 1490 – 1505.
11 Ebert U., Kirch W (1998)
Scopola-mine model of dementia:
electroencephalo-gram findings and cognitive performance Eur.
J Clin Invest, 28, 944 - 949.
12 Katzung B G (2012) Basic Clinical
Pharmacology 12 th Edition, McGraw - Hill
Publish-ing Company, New York, 115 - 125, 197 - 111
13 Hans G V (2008) Drug Effects on
Learning and Memory Drug Discovery and
Evaluation: Pharmacological Assays, Springer,
Berlin Heidelberg, 877 - 942
14 Đỗ Tất Lợi (2004) Những cây thuốc
và vị thuốc Việt Nam Nhà xuất bản Y học,
55-59, 774 - 775
15 Nguyễn Nhược Kim (2009) Bài thuốc
lý huyết - Huyết phủ trục ứ thang Phương tễ
học Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, 136 - 146.
Summary EFFECTS OF CERENEED-CAPS ON LEARNING AND MEMORY IMPROVEMENT IN SCOPOLAMINE - TREATED MICE
Cereneed-caps was used to evaluate the learning and the memory improvement effects on scopolamine-induced memory impairment in mice on 2 models: Morris water maze and multiple T maze Cereneed-caps was used in Swiss mice at doses of 669,6mg and 2008,8mg/kg/day for 6
Trang 9days (Morris water maze), and for 8 days (multiple T maze) The result showed that Cereneed-caps reduced the latency and the path length to reach the platform, increased the percentage of time spent in platform’s quadrant (Morris water maze), reduced the latency and the path length to reach the goal box, reduced the number of incorrect decisions (multiple T maze), the effects were similar in both treatment groups
Keywords: memory improvement, learning, scopolamine, Morris water maze, multiple T maze