1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Chi phí điều trị đột quỵ tại khoa bệnh lý mạch máu não Bệnh viện Nhân Dân 115 Thành phố Hồ Chí Minh

9 114 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 492,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu này có mục tiêu nhằm xác định chi phí chăm sóc cho bệnh nhân bị đột quỵ cấp nhập viện và xác định những thành phần chính của các chi phí này bao gồm chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp, thời gian nằm viện và khả năng chi trả của bênh nhân.

Trang 1

CHI PHÍ ĐIỀU TRỊ ĐỘT QUỴ TẠI KHOA BỆNH LÝ MẠCH MÁU NÃO

BỆNH VIỆN NHÂN DÂN 115 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Ngô Thị Thuỳ Dung*, Nguyễn Thanh Nguyên**, Nguyễn Thị Kim Liên***, Phạm Lan Trân*

TÓM TẮT

Bối cảnh và mục đích: Nghiên cứu này nhằm xác định chi phí chăm sóc cho bệnh nhân bị đột quỵ cấp

nhập viện và xác định những thành phần chính của các chi phí này bao gồm chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp, thời gian nằm viện và khả năng chi trả của bênh nhân

Phương pháp: Trong tháng 12/2009, chúng tôi thu thập dữ liệu 180 bệnh nhân nhập viện bị đột quỵ cấp

Bệnh nhân được sắp xếp theo phân nhóm của đột quỵ (nhồi máu não (NMN), xuất huyết não (XHN), xuất huyết dưới nhện) và theo độ nặng của đột quỵ (thang điểm Rankin cải tiến) Phương pháp phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân và phân tích dữ liệu từ hồ sơ bệnh viện được sử dụng cho việc thu thập số liệu

Kết quả: Thời gian nằm viện trung bình là 10,82 ± 8,74 ngày cho XHN và 9,03 ± 6,76 ngày cho NMN Chi

phí tổng cộng trung bình trên một bệnh nhân là 7.659.000 VNĐ cho XHN và 6.427.000 VNĐ cho NMN Chi phí trực tiếp trung bình là 5.870.000 VNĐ Chi phí trực tiếp liên quan đến y tế trung bình là 5.282.000 VNĐ Chi phí trực tiếp liên quan đến bệnh nhân và gia đình trung bình là 588.000 VNĐ Chi phí gián tiếp tương ứng

là 802.000 VND

Kết luận: Những yếu tố chính ảnh hưởng đến chi phí điều trị là thời gian nằm viện và độ nặng của bệnh

Với tần suất mắc bệnh dự kiến sẽ còn tăng lên ở Việt Nam, những kết quả của chúng tôi đề cao sự cần thiết của việc phòng bệnh và việc chăm sóc y tế cho đột quỵ cấp

Từ khóa: chi phí, đột quỵ, Việt Nam

ABSTRACT

TOTAL COSTS FOR ACUTE STROKE IN A MAJOR HOSPITAL IN HOCHIMINH CITY

Ngo Thi Thuy Dung, Nguyen Thanh Nguyen, Nguyen Thi Kim Lien, Pham Lan Tran

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 1 - 2012: 133 - 141

Background and purpose: Although stroke is a major health problem in Vietnam, there are not many

research projects on the acute treatment provided for stroke and its associated costs We performed this prospective study to determine the costs of care for acute stroke patients admitted to hospital and to identify the main components of such costs, including both direct and indirect costs, length of stay (LOS) and capacity of payment.

Methods: During the one month period of December 2009, we collected data on 180 patients consecutively

hospitalized with acute ischemic stroke Patients were classified by subtypes of stroke (ischemic stroke (IS), intracerebral hemorrhage (ICH), subarachnoid hemorrhage (SAH)) and stroke severity (modified Rankin scale) Structured interviews and secondary data analysis were used for data collection

Results: The mean length of hospital stay was 10.82 ± 8,74 days for ICH and 9.03 ± 6.76 days for IS The

mean total cost per patient was 414 USD for ICH and 347.4 USD for IS The present value direct cost for an average patient was 317.29 USD The mean medical cost per patient was 285.51 USD The mean non-medical

*Bộ môn Dịch Tễ Học Cơ Bản – Dân Số Học, Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch

**Bộ môn Quản lý Kinh tế Y tế, Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch

*** Khoa Bệnh lý mạch máu não, Bệnh viện Nhân dân 115

Tác giả liên lạc: BS Ngô Thị Thùy Dung ĐT: 0937157967 Email: dungngo.yhcd@gmail.com

Trang 2

cost per patient was 31.78 USD The corresponding indirect cost was 43.35 USD

Conclusions: The major pred ictors of acute hospital costs of stroke are length of stay and stroke severity The cost of stroke is influenced by severity (more severe strokes cost more due to extended hospitalization) With the expected increase in the incidence of stroke in Vietnam, these results emphasize the need for effective preventive and acute medical care

Key words: cost, acute stroke, Vietnam

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đột quỵ là một hội chứng có đặc tính bởi sự

xuất hiện đột ngột và phát triển nhanh chóng

những thiếu sót chức năng của hệ thần kinh

trung ương do sự rối loạn, cản trở trong việc

cung cấp máu lên não Theo tổ chức y tế thế giới

(TCYTTG) năm 2004, đột quỵ là nguyên nhân tử

vong đứng hàng thứ 2 Nó có tần suất xuất hiện

là 5-10 ca/1000 người/năm với 5.500.000 bệnh

nhân tử vong mỗi năm(11) Đột quỵ gây ra biến

chứng tàn tật nhiều hơn các bệnh mạn tính khác

Hơn 300.000 người đang sống cùng với biến

chứng này sau khi bị đột quỵ(3) Đột quỵ và biến

chứng tàn tật hiện đang trở thành vấn đề y tế

lớn ở nước ta, là gánh nặng cho gia đình và xã

hội, với tỷ suất hiện mắc năm 1999 là 6,08/1000

người, tỷ lệ mới mắc và tử vong lần lượt là 2,5

và 1,31trên 1000 dân(4)

Tỉ lệ mắc bệnh đột quỵ có xu hướng tiếp tục

tăng nhanh do tuổi thọ ngày càng cao, các yếu

tố nguy cơ như tăng huyết áp, đái tháo

đường,… đang gia tăng Do đó bản thân bệnh

nhân, gia đình, xã hội phải gánh chịu một chi

phí rất lớn cho việc điều trị Thảm họa tài chính

và nghèo có thể là hậu quả của việc sử dụng các

dịch vụ y tế TCYTTG đề nghị rằng chi tiêu cho

sức khỏe được xem là tác hại khi nó lớn hơn

40% tiền không dùng cho nhu cầu cơ bản(12) Ở

nước ta hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu về

chi phí điều trị của bệnh đột quỵ và mức độ tác

hại của chi phí điều trị bệnh đột quỵ đối với

bệnh nhân Nghiên cứu của chúng tôi là nghiên

cứu đầu tiên phân tích chi phí một đợt điều trị

đột quỵ tại TP.HCM gồm cả chi phí trực tiếp và

chi phí gián tiếp

Nắm bắt được mức độ tốn kém trong điều

trị giúp người bác sĩ có thể lựa chọn phương

pháp điều trị phù hợp với khả năng tài chính của bệnh nhân mà vẫn đảm bảo hiệu quả điều trị tốt nhất Kết quả nghiên cứu về chi phí là nguồn dữ liệu tham khảo chính xác và có giá trị cho việc quản lý bệnh Việc nghiên cứu về chi phí sẽ là một trong những cơ sở để các nhà hoạch định chính sách y tế ban hành những chính sách, chương trình y tế quốc gia góp phần vào việc phòng chống bệnh đột quỵ ở Việt Nam

Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm khảo sát chi phí trung bình điều trị đột quỵ để có những dữ liệu cập nhật mới nhất về chi phí của loại bệnh này ở TP.HCM

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát

Xác định tổng chi phí điều trị của bệnh nhân đột quỵ tại khoa Bệnh Lý Mạch Máu Não (BLMMN) bệnh viện Nhân Dân 115 thành phố

Hồ Chí Minh (TP.HCM) trong thời gian từ 01/12/2009 đến 31/12/2009

Mục tiêu chuyên biệt

Xác định chi phí điều trị trực tiếp của bệnh nhân bệnh đột quỵ trong thời gian nằm viện tại khoa BLMMN bệnh viện Nhân Dân 115 TP.HCM từ 01/12/2009 đến 31/12/2009 phân bố theo loại đột quỵ

Xác định chi phí điều trị trực tiếp của bệnh nhân bệnh đột quỵ phân bố theo thang điểm Rankin

Xác định chi phí gián tiếp của bệnh đột quỵ Đánh giá mức độ tác hại của chi phí điều trị bệnh đột quỵ đối với bệnh nhân

Trang 3

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu nhiều trường hợp bệnh (cases

series): nghiên cứu mô tả các chi phí điều trị

bệnh đột quỵ

Dân số nghiên cứu

Quần thể đích

Bệnh nhân bị bệnh đột quỵ tại thành phố Hồ

Chí Minh

Quần thể nghiên cứu

Bệnh nhân nhập viện và được chẩn đoán đột

quỵ lần đầu tại khoa BLMMN bệnh viện Nhân

Dân 115 TP.HCM trong khoảng thời gian từ

01/12/2009 đến 31/12/2009

Mẫu nghiên cứu

180 bệnh nhân nhập viện và được chẩn đoán

đột quỵ tại khoa BLMMN bệnh viện Nhân Dân

115 TP.HCM thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu

Phương pháp chọn mẫu

Tiêu chuẩn chọn mẫu

Tất cả các bệnh nhân đột quỵ lần đầu nhập

viện tại khoa BLMMN bệnh viện Nhân Dân 115

trong khoảng thời gian từ 01/12/2009 đến

31/12/2009, có hồ sơ bệnh án đầy đủ thông tin

cần thu nhập

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân tử vong trong quá trình điều trị,

chuyển khoa, ra viện hay chuyển viện trong quá

trình điều trị; không hợp tác, từ chối tham gia

nghiên cứu

Phương pháp thu thập số liệu

Các thông tin cần thu nhập

Hành chính: Mã số bệnh án, tuổi, giới , nghề

nghiệp, bảo hiểm y tế (BHYT), số ngày nằm

viện, loại đột quỵ, điểm Rankin lúc nhập viện

Chi phí trực tiếp liên quan y tế gồm: dịch vụ

phòng, các xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh và

các test chẩn đoán khác, chi phí cho việc điều trị

bệnh (thuốc điều trị bệnh đột quỵ, các yếu tố

nguy cơ đột quỵ và bệnh kèm), điều trị biến

chứng, phục hồi chức năng, chi phí dịch vụ thủ thuật khám chữa bệnh (công khám, chích thuốc, truyền dịch…), các loại y dụng cụ (vật tư tiêu hao), chống nhiễm khuẩn

Chi phí trực tiếp liên quan tới bệnh nhân và gia đình gồm: dinh dưỡng đặc biệt cho bệnh nhân, chi phí di chuyển của người chăm sóc, chi phí vật dụng

Chi phí gián tiếp: tổn thất về thu nhập của bệnh nhân, của người chăm sóc chính

Nguồn lực chi trả: BHYT, tiền tiết kiệm, người thân trợ giúp, vay mượn

Công cụ thu thập số liệu

Danh sách bệnh nhân được lấy từ danh sách bệnh nhân nhập viện khoa BLMMN bệnh viện Nhân Dân 115 trong thời gian từ 01/12/2009 đến 31/12/2009

Bảng câu hỏi về bệnh đột quỵ và các chi phí liên quan đến bệnh đột quỵ của bệnh nhân, bảng kê khai chi tiết viện phí liên quan đến bệnh đột quỵ của bệnh nhân đang điều trị tại khoa BLMMN bệnh viện Nhân Dân 115

Phương pháp xử lí và phân tích số liệu

Công cụ xử lí số liệu: Bảng mã tên các biến

số dùng để phân tích được sử dụng trong quá trình thu thập dữ liệu Số liệu được nhập và xử

lý bằng phần mềm Excel 2007 và SPSS 17.0, sau

đó được trình bày bằng bảng và biểu đồ Biến

“số ngày nhập viện”, chúng tôi làm tròn Chúng tôi sử dụng dữ liệu của tổng cục thống kệ Việt Nam để tính khả năng chi trả bình quân một hộ gia đình/tháng Khả năng chi trả bình quân một

hộ gia đình/tháng = (Thu nhập bình quân một nhân khẩu/tháng (7) – Nhu cầu cơ bản một nhân khẩu/ tháng (8)) × số nhân khẩu bình quân một

hộ gia đình (9) = 5.040.000 VNĐ

KẾT QUẢ

Mẫu nghiên cứu của chúng tôi có tổng cộng

180 bệnh nhân

Đặc tính chung của mẫu nghiên cứu

Tuổi trung bình của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu là 63,62 ± 27,17 tuổi, tỷ lệ bệnh nhân

Trang 4

đột quỵ trên 60 chiếm 61,1% Số bệnh nhân nam

là 101, chiếm 56,1% Thành phần nghề nghiệp

của các bệnh nhân khá đa dạng, với tỷ lệ bệnh

nhân nghỉ hưu chiếm ưu thế là 58,9% Địa chỉ cư

ngụ của bệnh nhân phân bố tại tất cả các quận

huyện trong TP.HCM, tỷ lệ bệnh nhân có địa chỉ

ở khu vực nội thành là 73,3%, cao gấp 2,7 lần

khu vực ngoại thành

Trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi không

có đột quỵ xuất huyết dưới nhện, tỉ lệ NMN là

78,9% cao gần gấp 4 lần tỉ lệ XHN là 21,1% Xét

theo độ nặng của thang điểm Rankin, gần 2/3 số

bệnh nhân là ở nhóm Rankin 3, 4 điểm

Thời gian nằm viện trung bình một đợt điều

trị là 9,41±7,34 ngày Thời gian nằm viện trung

bình NMN là 9,03±6,76 ngày, ngắn hơn XHN là

10,82±8,74 ngày Thời gian nằm viện tăng dần

theo độ nặng của thang điểm Rankin Thời gian

nằm viện trung bình của nhóm Rankin 5 điểm

dài gấp 2 lần nhóm Rankin 0 điểm

Hơn 2/3 bệnh nhân đột quỵ có 1 người chăm

sóc chính và 1/3 bệnh nhân có 2 người chăm sóc

chính Trong khi tất cả bệnh nhân ở nhóm

Rankin 0,1,2 điểm chỉ cần 1 người chăm sóc

chính thì tỷ lệ bệnh nhân nặng (Rankin 4 hoặc 5

điểm) cần 2 người chăm sóc chính chiếm hơn

50%

Chi phí trực tiếp

Chi phí điều trị liên quan đến y tế

Tổng chi phí điều trị trực tiếp trung bình

liên quan đến y tế là 5.293.000VNĐ trong đó chi

phí điều trị trực tiếp trung bình liên quan đến y

tế của XHN là 5.898.000VNĐ cao hơn của NMN

là 5.132.000VNĐ Tuy nhiên sự khác biệt này

không có ý nghĩa thống kê

Biểu đồ 1: Chi phí trực tiếp trung bình liên quan

đến y tế theo thang điểm Rankin

Bệnh nhân đột quỵ càng nặng thì tổng chi phí trực tiếp liên quan đến y tế càng cao Chi phí trung bình của bệnh nhân đột quỵ ở độ nặng nhất cao gấp 2,5 lần so với chi phí trung bình của bệnh nhân đột quỵ ở độ nhẹ nhất (7.674.000 VNĐ so với 3.121.000 VNĐ)

Các thành phần chi phí trực tiếp liên quan đến y tế (thuốc, cận lâm sàng, thủ thuật, giường,

y dụng cụ, chống nhiễm khuẩn) Các thành phần chi phí trực tiếp liên quan đến y tế của bệnh nhân NMN đều thấp hơn XHN ngoại trừ chi phí cận lâm sàng Trong thành phần cận lâm sàng, chi phí hình ảnh học ở nhóm NMN cao hơn nhóm XHN và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê Trong khi chi phí xét nghiệm lại không có sự khác biệt giữa hai nhóm đột quỵ này Tất cả các thành phần chi phí trực tiếp liên quan đến y tế đều tăng dần theo độ nặng của bệnh đột quỵ xét theo thang điểm Rankin và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê Xét về thành phần cận lâm sàng, chi phí hình ảnh học không có sự khác biệt có ý nghĩa thống

kê giữa các nhóm độ nặng theo Rankin, chi phí xét nghiệm lại có sự khác biệt có ý nghĩa thống

kê giữa các nhóm

Biểu đồ 2: Phân bố chi phí trực tiếp cho các thành

phần cụ thể liên quan đến y tế

Chi phí cận lâm sàng chiếm tỉ lệ cao nhất và tổng chi phí giường bệnh và cận lâm sàng chiếm

2/3 chi phí y tế

Chi phí trực tiếp liên quan đến bệnh nhân

và gia đình

Chi phí trực tiếp liên quan đến bệnh nhân và gia đình của nhóm đột quỵ XHN cao hơn của

Trang 5

nhóm NMN, sự khác biệt này không có ý nghĩa

thống kê Xét theo thang điểm Rankin, chi phí

trực tiếp trung bình liên quan đến bệnh nhân và

gia đình ở nhóm bệnh nhân nặng nhất cao gấp

2,7 lần so với nhóm bệnh nhân nhẹ nhất

(1.003.000 VNĐ so với 371.000 VNĐ)

Tổng chi phí trực tiếp

Chi phí trực tiếp trung bình liên quan đến y

tế tại bệnh viện Nhân Dân 115 là 5.293.000VNĐ

chiếm tỷ lệ chủ yếu (90,2%) trong tổng chi phí

trực tiếp của bệnh nhân đột quỵ là 5.870.000

VNĐ Tổng chi phí trực tiếp của NMN và XHN

lần lượt là 5.692.000 VNĐ và 6.536.000 VNĐ Chi

phí trực tiếp liên quan đến y tế của NMN và

XHN lần lượt là 5.132.000 VNĐ và 5.898.000

VNĐ, chi phí trực tiếp liên quan đến bệnh nhân

và gia đình của NMN và XHN lần lượt là

560.000 VNĐ và 638.000 VNĐ

Chi phí gián tiếp

Tổng chi phí gián tiếp trung bình của bệnh

nhân đột quỵ là 801.000 VNĐ Tổng chi phí gián

tiếp của NMN và XHN lần lượt là 726.000 VNĐ

và 1.802.000 VNĐ Mất thu nhập trung bình của

người chăm sóc chính chiếm tỉ lệ cao gấp 3 lần

so với mất thu nhập của bệnh nhân trong cả 2

loại đột quỵ

Tổng chi phí gián tiếp, mất thu nhập của

người chăm sóc chính và của bệnh nhân đều

không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa

các nhóm phân theo thang điểm Rankin

Tổng chi phí cho một đợt điều trị đột quỵ tại

khoa BLMMN bệnh viện Nhân Dân 115:

Tổng chi phí điều trị trung bình một đợt đột

quỵ phân bố theo loại đột quỵ của bệnh nhân

NMN là 6.418.000 ± 5.122.000 VNĐ và XHN là

7.618.000 ± 6.762.000 VNĐ Tổng chi phí điều trị

của đột quỵ XHN cao hơn của đột quỵ NMN, sự

khác biệt này có ý nghĩa thống kê

Tổng chi phí điều trị trung bình một đợt đột

quỵ phân bố theo thang điểm Rankin của nhóm

Rankin 0 điểm: 3.972.000 ± 2.416.000 VNĐ, nhóm

Rankin 1 điểm: 5.241.000 ± 3.346.000 VNĐ, nhóm

Rankin 2 điểm: 5.468.000 ± 3.358.000 VNĐ, nhóm

Rankin 3 điểm: 6.244000 ± 4.304.000 VNĐ, nhóm Rankin 4 điểm: 7.525.000 ± 5.702.000 VNĐ, nhóm Rankin 5 điểm: 9.442.000 ± 8.694.000 VNĐ Trong đó, tổng chi phí điều trị của nhóm Rankin

5 điểm cao gấp 2 lần nhóm Rankin 0 điểm Tổng chi phí trực tiếp của bệnh nhân đột quỵ xét theo thang điểm Rankin từ 0 đến 5 điểm lần lượt là 3.492.000, 4.143.000, 4.772.000, 5.391.000, 6.728.000, 8.676.000 VNĐ Tổng chi phí gián tiếp của bệnh nhân đột quỵ xét theo thang điểm Rankin từ 0 đến 5 điểm lần lượt là 480.000, 1.098.000, 696.000, 854.000, 797.000, 765.000VNĐ Tất cả các nhóm đột quỵ phân theo thang điểm Rankin có chi phí trực tiếp luôn chiếm hơn 80% tổng chi phí điều trị

Tổn hại về kinh tế của bệnh nhân bệnh đột quỵ

23.9%

40.0%

55.0%

78.3%

97.2%

97.2%

88.3%

76.1%

60.0%

45.0%

21.7%

11.7%

2.8%

2.8%

Tiết kiệm Trợ Giúp Bảo hiểm Vay mượn Thế chấp Bán tài sản Khác

Có Không

Biểu đồ 3: Phân bố nguồn chi trả của bệnh nhân

Tiền tiết kiệm và tiền từ người thân trợ giúp

là 2 nguồn chi trả thường được sử dụng nhất Tỉ

lệ bệnh nhân có BHYT chiếm chưa đến 1/2 tổng

số bệnh nhân đột quỵ

Biểu đồ 4: Tỷ lệ phần trăm bệnh nhân phải sử dụng

các nguồn chi trả khác ở nhóm có BHYT và không có BHYT

Trang 6

Tỉ lệ bệnh nhân phải vay mượn để chi trả

trong thời gian nằm viện của nhóm có BHYT

thấp đáng kể hơn so với nhóm không có BHYT

100.0%

0.0%

100.0%

0.0%

100.0%

0.0%

100.0%

0.0%

100.0%

7.7%

100.0%

11.1%

100.0%

3.7%

0.0%

20.0%

40.0%

60.0%

80.0%

100.0%

cộng Bệnh nhân không có bảo hiểm Bệnh nhân có bảo hiểm

Biểu đồ 5: Tỷ lệ phần trăm bệnh nhân phải chịu tổn

thất lớn do chi phí y tế gây ra ở nhóm có BHYT và

không có BHYT

Tất cả các bệnh nhân ở nhóm không có

BHYT đều phải chịu tổn thất lớn do chi phí y tế

gây ra

BÀN LUẬN

Tuổi trung bình của bệnh nhân đột quỵ theo

nghiên cứu của chúng tôi là 63,62 ± 27,17 tuổi,

bệnh nhân nam chiếm 56,1% Có thể vì nghiên

cứu của chúng tôi cũng được thực hiện tại Bệnh

viện Nhân dân 115, nên kết quả này tương tự

như số liệu thống kê của Bệnh viện Nhân dân

115 năm 2004-2005, tuổi trung bình của bệnh

nhân đột quỵ là 63,72 ± 13,46 tuổi và tỉ lệ bệnh

nhân nam là 51,2% (5) So với nghiên cứu của

Yoneda Y tại Nhật năm 2000-2001, tuổi trung

bình của đột quỵ là 70 tuổi và nam giới chiếm

69% (13), kết quả nghiên cứu của chúng tôi thấp

hơn Sự gia tăng các yếu tố nguy cơ, độ tuổi mắc

bệnh ngày càng trẻ hơn cộng với việc nước ta

chưa kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ có thể là

nguyên nhân khiến độ tuổi trung bình của đột

quỵ ở nước ta thấp hơn so với các nước phát

triển khác trên thế giới

Theo nghiên cứu của chúng tôi, tỉ lệ NMN

và XHN lần lượt là 78,9% và 21,1% phù hợp với

báo cáo của tác giả Nguyễn Thị Kim Liên(5) là

74,4% và 23,2% Theo y văn, tỉ lệ xuất huyết não

ở Châu Á thường cao hơn so với các nước Âu-

Mỹ (ở các nước công nghiệp phát triển, tỉ lệ NMN là 85%-90%, tỉ lệ XHN là 10%-15%)(2) Thời gian nằm viện trung bình theo nghiên cứu của chúng tôi là 9,41±7,34 ngày, ngắn hơn

so với số liệu thống kê của khoa BLMMN Bệnh viện Nhân dân 115 năm 2005 là 11,67±7,37 ngày(5) Sự khác biệt về thời gian nằm viện có thể

do hoạt động hiệu quả của đơn vị đột quỵ cộng với sự nâng cấp cơ sở hạ tầng góp phần nâng cao việc chẩn đoán và điều trị Theo một nghiên cứu tại Ý năm 1999 của tác giả Mamoli A, thời gian nằm viện trung bình của một bệnh nhân đột quỵ là 13,1 ± 7 ngày(6) Điều này có thể do nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện năm

2009 khi khoa học kỹ thuật phục vụ việc chẩn đoán và điều trị đột quỵ có nhiều tiến bộ giúp rút ngắn thời gian nằm viện của bệnh nhân Theo nghiên cứu của chúng tôi, tổng chi phí trực tiếp trung bình có liên quan đến y tế là 5.293.000VNĐ cao hơn so với nghiên cứu của khoa BLMMN Bệnh viện Nhân dân 115 năm

2005 là 3.646.000VNĐ Trong đó tiền giường chiếm 30,2%, tiền thuốc chiếm 18,3% và tiền cận lâm sàng chiếm 35,9% (so với nghiên cứu của khoa BLMMN năm 2004-2005, tỷ lệ này lần lượt

là 18,35%, 35,94% và 45,7%(5)) Do nghiên cứu của chúng tôi thực hiện năm 2009 có sự thay đổi mặt bằng giá cả qua từng năm nên chi phí trung bình liên quan đến y tế tại thời điểm này cao hơn 1,5 lần so với năm 2005 Ngoài ra việc nâng cấp cơ sở hạ tầng cho khoa BLMMN của bệnh viện 115 đã làm tăng giá tiền giường dẫn tới sự thay đổi tỉ lệ phần trăm các thành phần chi phí trực tiếp liên quan đến y tế So với kết quả nghiên cứu năm 2000 tại Singapore(10), tiền giường chiếm 38,2%, tiền cận lâm sàng cho chẩn đoán hình ảnh bằng xquang chiếm 14,5%, tiền thuốc chiếm 8,4% và tiền thủ thuật chiếm 7,3% thì chi phí cận lâm sàng trong nghiên cứu của chúng tôi cao hơn vì chi phí này bao gồm cả chi phí cho việc chẩn đoán hình ảnh lẫn các xét nghiệm khác Các phương tiện chẩn đoán kỹ thuật cao như CT Scan, MRI mới được đưa vào

áp dụng ở Việt Nam trong những năm gần đây

Trang 7

nên giá tiền còn khá cao so với mặt bằng chung

của các chi phí khác

Tổng chi phí trực tiếp trung bình của bệnh

nhân đột quỵ XHN là 6.536.000 VNĐ cao hơn so

với NMN là 5.692.000 VNĐ Theo nghiên cứu tại

Brazil năm 2007 của Christensen và cộng sự,

tổng chi phí điều trị trung bình cho nhóm XHN

cao gấp 2 lần nhóm NMN (4.101 USD so với

1.902 USD)(1) Sự khác biệt này có thể do mẫu

nghiên cứu của chúng tôi được lấy tại khoa

BLMMN nơi mà phương pháp điều trị chủ yếu

là nội khoa, do đó không có sự khác biệt về chi

phí điều trị liên quan đến y tế giữa nhóm NMN

và XHN

Tổng chi phí trực tiếp trung bình của bệnh

nhân đột quỵ theo thang điểm Rankin từ 0 đến 5

điểm trong nghiên cứu của chúng tôi lần lượt là

3.492.000, 4.143.000, 4.772.000, 5.391.000,

6.728.000 và 8.676.000 VNĐ Theo Mamoli và

cộng sự, bệnh nhân có Rankin trên 3 điểm lúc

nhập viện có thời gian nằm viện lâu hơn so với

các nhóm Rankin thấp hơn và thời gian nằm

viện tăng có liên quan với sự gia tăng đáng kể

của chi phí trực tiếp(6) Kết quả nghiên cứu của

chúng tôi phù hợp với nhận định trên Chi phí

trực tiếp tăng dần từ nhóm Rankin 0 điểm đến

nhóm Rankin 5 điểm Xét đến chi phí trực tiếp

liên quan đến y tế, sự biến thiên trong chi phí

một phần do thời gian nằm viện của bệnh nhân

tăng dần theo độ nặng của Rankin, kéo theo sự

gia tăng chi phí tiền giường, thuốc, thủ thuật…

cũng như các chi phí trực tiếp không liên quan

đến y tế khác như chi phí dinh dưỡng đặc biệt

cho bệnh nhân, chi phí vật dụng phục vụ cho

quá trình nằm viện, chi phí di chuyển của người

chăm sóc Bệnh nhân ở nhóm đột quỵ nặng có

thể cần phải sử dụng đạm, dịch truyền vì không

ăn uống được làm tăng chi phí thuốc điều trị, có

thể cần được can thiệp đặt nội khí quản, thở

máy làm tăng chi phí thủ thuật Xét đến chi phí

trực tiếp liên quan đến bệnh nhân và gia đình, ở

các nhóm Rankin 3,4,5 điểm, bệnh nhân thường

phải sử dụng tã giấy do hôn mê hoặc hạn chế đi

lại làm tăng chi phí tiền vật dụng Bệnh nhân ở

nhóm đột quỵ nặng hơn thường cần 2 người

chăm sóc chính làm tăng chi phí di chuyển của người chăm sóc

Chi phí gián tiếp trung bình của bệnh nhân đột quỵ NMN là 730.106 VNĐ thấp hơn có ý nghĩa thống kê chi phí gián tiếp trung bình của bệnh nhân đột quỵ XHN là 1.067.105 VNĐ Trong khi đó, chi phí gián tiếp trung bình phân

bố theo Rankin lại cho thấy không có sự liên quan giữa độ nặng của bệnh nhân đột quỵ và độ lớn của chi phí gián tiếp Điều đó cho thấy rằng chi phí gián tiếp không chỉ bị ảnh hưởng thời gian nằm viện mà còn có thể bị ảnh hưởng bởi mức thu nhập của bệnh nhân và người chăm sóc Tổn thất thu nhập trung bình cuả người chăm sóc (chiếm 76% chi phí gián tiếp) nhiều hơn tổn thất thu nhập trung bình của bệnh nhân

do 58,9% số bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi đã nghỉ hưu nên họ không bị mất thu nhập trong thời gian nằm viện

Ở nhóm không có BHYT, số tiền mà bệnh nhân phải tự trả cho chi phí trực tiếp liên quan đến y tế đều lớn hơn 40% thu nhập còn lại bình quân của hộ gia đình trong một tháng bất chấp

độ nặng của đột quỵ theo thang điểm Rankin (Biểu đồ 5) Hơn nữa, ở nhóm bệnh nhân nặng (Rankin 4 hoặc 5 điểm) tỉ lệ này vượt quá 100%

có nghĩa là chi phí y tế vượt quá thu nhập còn lại của bệnh nhân và gia đình Ở nhóm có BHYT, trung bình chi phí bệnh nhân thực sự chi trả sau khi đã được BHYT hỗ trợ đều nhỏ hơn 40% số tiền dành dụm của hộ gia đình trong một tháng dù bệnh nhân thuộc nhóm đột quỵ nặng nhất

Trong nghiên cứu của chúng tôi, 100% bệnh nhân không có BHYT đều bị tổn thất lớn do chi phí y tế gây ra nhưng chỉ có 3,7% bệnh nhân có BHYT bị tổn thất này Bệnh nhân càng nặng thì chi phí điều trị càng cao và càng có nguy cơ bị tổn thất lớn về kinh tế Qua đó thấy rằng nếu một bệnh nhân đột quỵ nhập viện điều trị mà không có BHYT thì sẽ bị tổn thất lớn về kinh tế

do chi phí y tế gây ra, thậm chí quá khả năng chi trả của bệnh nhân và gia đình dẫn đến việc phải vay mượn, thế chấp hoặc bán của cải tài sản để

Trang 8

có tiền chi trả Ngược lại, nguy cơ này sẽ rất

thấp (3,7%) nếu có sự hỗ trợ của BHYT

Tất cả bệnh nhân đều sử dụng từ hai nguồn

chi trả trở lên Trong đó, nguồn chi trả chủ yếu

cho việc điều trị là từ tiền tiết kiệm của bản thân

bệnh nhân và tiền trợ giúp từ người thân Vì

hơn 60% bệnh nhân trên 60 tuổi nên ngoài tiền

tiết kiệm của bản thân, bệnh nhân thường được

sự giúp đỡ tài chính của con cái đã trưởng thành

và những thành viên khác trong gia đình

Chênh lệch nhiều nhất là tỉ lệ bệnh nhân phải

vay mượn để chi trả trong khi đối với việc phải

thế chấp hoặc bán của cải tài sản, sự chênh lệch

giữa hai nhóm không nhiều Điều đó có thể do

chi phí điều trị trung bình một đợt đột quỵ

trong nghiên cứu của chúng tôi vẫn chưa phải là

quá cao để bệnh nhân và gia đình cần phải thế

chấp hay bán tài sản mà thường chỉ dừng lại ở

mức độ vay mượn

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy

tổng chi phí điều trị trung bình một đợt đột quỵ

là 6.672.000 ± 5.580.000 VNĐ.Kết quả đã phần

nào phản ánh gánh nặng bệnh tật, kinh tế cho

bệnh nhân, gia đình và xã hội

Do nguồn lực có hạn nên chúng tôi tập

trung nghiên cứu tại 1 địa điểm điều trị nội khoa

tiêu biểu của TP.HCM với thời gian giới hạn

Điều này hạn chế cỡ mẫu, ảnh hưởng đến

khoảng tin cậy cũng như sự khác biệt về chi phí

thực sự Vì vậy nghiên cứu chỉ có giá trị tham

khảo cho những bệnh viện có điều kiện tương

tự trong khoảng thời gian có giá cả trị trường

tương đương Chúng tôi hy vọng kết quả của

nghiên cứu này sẽ giúp các cơ sở y tế, bác sĩ lâm

sàng biết được chi phí điều trị và sự khác biệt về

các loại chi phí trong một bệnh, giữa các khoa

hay giữa các bệnh viện ở cùng một bệnh Người

dân nhận thấy được sự tốn kém trong việc điều

trị nên sẽ quan tâm đến việc phòng bệnh Các

nhà quản lí y tế có cơ sở để phân bổ hợp lí

nguồn kinh phí Các nhà hoạch định chính sách

và người dân thấy được lợi ích của BHYT trong

việc chi trả cho chi phí điều trị bệnh

Để tính được chi phí toàn diện của bệnh đột quỵ và có thể so sánh được với các chi phí của bệnh khác, cần có những nghiên cứu trong tương lai về những chi phí trên với mẫu lớn hơn

và phương pháp chặt chẽ hơn

Tác hại của bệnh đối với gia đình có thu nhập thấp là rất lớn về mặt kinh tế và xã hội Nhà nước cần có những chính sách ưu tiên, hỗ trợ tài chính cho bệnh nhân cũng như cho chương trình Phòng chống và điều trị bệnh đột quỵ, tổ chức tốt hệ thống theo dõi và chăm sóc cho bệnh nhân sau khi bị đột quỵ để phục hồi những biến chứng tàn tật cũng như cải thiện chất lượng cuộc sống và năng suất lao động nhằm hạ thấp được tỉ lệ mắc bệnh đột quỵ ở nước ta và giảm thiểu được những hậu quả về sức khỏe và gánh nặng chi phí mà nó gây ra

TÀI LIỆU THAM KHẢO

of stroke in Brazil." Neuroepidemiology 32(2): 142-9

Khánh (2004) "Dịch Tễ Học Tai Biến Mạch Máu Não."Textbook

of clinical neurology 3: 159-163

3 Joy, A., Andy B., et al (2004) "Stroke and Disability " Journal of Stroke and Cerebrovascular Diseases, 13(4): 171-177

4 Le VT, Le TL, et al (1999) "Strokes in South Vietnam: an epidemiologic study." Rev Neurol (Paris) 155(2): 137-40

Dân 115: Một số hoạt động (1/2004-8/2005) Bệnh viện Nhân dân 115

6 Mamoli A., Censori B., et al (1999) "An analysis of the costs of ischemic stroke in an Italian stroke unit." Neurology 53(1): 112-6

http://www.gso.gov.vn/Modules/Doc_Download.aspx?DocID=11304 (access date: 17/08/2010)

http://www.gso.gov.vn/Modules/Doc_Download.aspx?DocID=11304 (access date: 17/08/2010)

đình năm 2008: Mục 1: Nhân khẩu học" from http://www.gso.gov.vn/Modules/Doc_Download.aspx?DocID=11304 (access date: 17/08/2010)

care in Singapore." Cerebrovasc Dis 10(4): 320-6

http://www.who.int/mental_health/neurology/neurogy_atlas_lr pdf (access date: 15/08/2010)

catastrophic health expenditure: ‘Technical brief for

Trang 9

http://www.who.int/health_financing/documents/cov-pb_e_05_2-cata_sys/en/ (access date: 15/08/2010)

Care and Cost of Acute Ischemic Stroke in Japan." Stroke 34(3): 718-724

Ngày đăng: 22/01/2020, 22:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w