1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phẫu thuật giảm áp bao thị thần kinh ở trẻ em

3 61 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 138,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tăng áp lực nội sọ vô căn (còn gọi là PTC-Pseudotumor Cerebri hay IIHIdiopathic Intracranial Hypertension) là một trạng thái bệnh lí đặc trưng bởi sự tăng lên bất thường của áp lực nội sọ mà không do căn nguyên nhiễm khuẩn hay do khối choán chỗ nào. Biểu hiện ở mắt là một trong những triệu chứng nổi bật của tăng áp lực nội sọ vô căn với hậu quả nặng nề nhất là gây mù vĩnh viễn.

Trang 1

PHẪU THUẬT GIẢM ÁP BAO THỊ THẦN KINH Ở TRẺ EM

Pediatric Optic Nerve Sheath Decompression

(Thuente D D.; Buckley E.G.)

Ophthalmology 2005; 112:724-727

ĐỖ QUANG NGỌC

Bệnh Viện Mắt Trung ương

Tăng áp lực nội sọ vô căn (còn gọi

là PTC-Pseudotumor Cerebri hay

IIH-Idiopathic Intracranial Hypertension) là

một trạng thái bệnh lí đặc trưng bởi sự

tăng lên bất thường của áp lực nội sọ mà

không do căn nguyên nhiễm khuẩn hay

do khối choán chỗ nào Biểu hiện ở mắt

là một trong những triệu chứng nổi bật

của tăng áp lực nội sọ vô căn với hậu quả

nặng nề nhất là gây mù vĩnh viễn Vì vậy

bệnh nhân bị PTC cần thiết phải được

theo dõi chặt chẽ về thị lực, thị trường và

tiến triển của gai thị Thái độ điều trị cho

bệnh nhân tuỳ thuộc vào ảnh hưởng của

tăng áp lực nội sọ đối với cơ quan thị

giác và/hoặc mức độ đau đầu Cũng

giống như với người lớn, điều trị nội

khoa ở trẻ em thường bắt đầu bằng các

thuốc ức chế men carbonic anhydrase

hoặc các thuốc lợi tiểu khác và nhìn

chung là trẻ em có xu hướng dung nạp

tốt với những thuốc điều trị này với thời

gian điều trị kéo dài Tuy nhiên ở trẻ em

do khó có thể đánh giá được một cách chính xác mức độ tổn hại của thị lực, thị trường nên có xu hướng can thiệp phẫu thuật sớm hơn như một biện pháp điều trị

dự phòng Hơn nữa ở trẻ em do việc theo dõi tiến triển của tổn thương thần kinh thị giác cũng không dễ dàng, thậm chí có khi phát hiện ra thì tổn hại của gai thị đã

ở giai đoạn muộn Ngoài ra trong một số trường hợp không đáp ứng với điều trị nội khoa hoặc không dung nạp với thuốc điều trị hay do các tác dụng phụ của thuốc cũng cần can thiệp phẫu thuật Việc lựa chọn phương pháp phẫu thuật cũng tuỳ thuộc vào bản chất của quá trình bệnh lí Nếu như việc giảm áp lực nội sọ nhanh chóng là cần thiết do tổn hại thị lực cả hai mắt trầm trọng và tiến triển nhanh hoặc đau đầu nhiều thì nên làm phẫu thuật nối thông não thất-phúc mạc (ventriculoperitoneal shunt) Nếu đau đầu không phải là vấn đề chủ yếu và tổn hại thị lực không nhiều và còn sớm

Trang 2

thì phẫu thuật giảm áp bao thị thần kinh

được đặt ra và có hiệu quả điều trị

Phương pháp phẫu thuật giảm áp bao thị

thần kinh ONSD (Optic Nerve Sheath

Decompression) hay đôi khi còn gọi là

phẫu thuật mở cửa sổ bao thị thần kinh

ONSF (Optic Nerve Sheath Fenestration)

đã được tiến hành bởi DeWecker từ năm

1872 và được Hayreh phổ biến rộng rãi

kể từ năm 1964 Đường tiếp cận có thể là

mở thành ngoài hốc mắt hoặc qua thành

trong hốc mắt qua đường kết mạc Trong

bài báo này, các tác giả đã giới thiệu kết

quả cũng như các kinh nghiệm khi tiến

hành phẫu thuật giảm áp bao thị thần

kinh (ONSD) để điều trị tăng áp lực nội

sọ vô căn ở trẻ em

Đối tượng nghiên cứu là các trẻ

dưới 16 tuổi được chẩn đoán là PTC

trong thời gian từ 1994-2003 tại trung

tâm mắt của trường đại học Duke (Duke

University Eye Center) Áp lực nội sọ

được xác định là tăng khi cao hơn

20mmHg Tất cả các bệnh nhân đều có

hình ảnh chụp sọ não bình thường và

không dung nạp với thuốc điều trị hoặc

không đáp ứng với điều trị nội khoa Các

bệnh nhân này đều có triệu chứng giảm

thị lực, tổn hại sắc giác, thu hẹp thị

trường hoặc phù gai mãn tính không đáp

ứng điều trị gợi ý cần thiết can thiệp điều

trị bổ sung Tiến hành ghi chép so sánh

trước và sau điều trị về thị lực, sắc giác,

hình ảnh gai thị và thị trường (nếu có thể

đo được) Đường tiếp cận để tiến hành

mở cửa sổ thị thần kinh là qua thành

trong hốc mắt qua đường kết mạc Đây là con đường không phải mở thành xương,

dễ thực hiện và ít gây tổn hại tới thần kinh mạch máu của dây thần kinh thị giác hơn so với đường mở thành ngoài hốc mắt Theo dõi sau mổ bao gồm khám lại ngay ngày thứ nhất sau mổ, sau 4 tuần, 6 tuần rồi khám lại định kỳ cứ sau 2-3 tháng cho đến khi hết phù gai và/hoặc đến khi thị lực được cải thiện Kết quả nghiên cứu: đã có 17 mắt của 12 trẻ (6 nữ và 6 nam) được tiến hành phẫu thuật ONSD Tuổi trung bình khi phẫu thuật là 10,1 tuổi (trải từ 4,4-16 tuổi) với thời gian theo dõi trung bình là 39,6 tháng (2,4-105,3 tháng) Như vậy, cũng như một số báo cáo khác, trong nghiên cứu này của tác giả thấy rằng bệnh PTC ở trẻ em không có sự khác biệt

về giới và có cả trẻ béo phì lẫn trẻ bình thường

Đau đầu là triệu chứng chủ yếu rồi đến là buồn nôn, lác trong và nhìn mờ Các triệu chứng này đều giảm đi đáng kể sau mổ Tất cả các bệnh nhân này đều đã được điều trị nội khoa trước mổ trung bình là 6 tháng (0,5-24 tháng) và không bệnh nhân nào điều trị bằng steroids đường uống cả Thị trường chỉ đo được ở

1 nửa số bệnh nhân do trẻ còn nhỏ chưa phối hợp Tổn hại thị trường thường thấy

là điểm mù rộng ra hoặc thu hẹp toàn thể Sau mổ không có bệnh nhân nào thị lực kém đi (p=0,0078) trong đó 64% trường hợp thị lực cải thiện và 36% thị lực không thay đổi Thường là thị lực

Trang 3

tăng lên trong 3 tháng đầu Sắc giác cũng

cải thiện hay không thay đổi ở tất cả

bệnh nhân tuy nhiên không có ý nghĩa

thống kê (p=0,1875) Phù gai thị nhìn

chung có xu hướng giảm đi trong những

tháng đầu sau mổ trong đó có tới 50%

trường hợp phù gai giảm ngay trong tuần

đầu sau mổ và 75% giảm phù gai trong 3

tháng đầu Mức độ giảm phù gai trung

bình là 2,19 điểm (với thang điểm từ

0-4) Trong 7 bệnh nhân chỉ phẫu thuật

ONSD một bên thì có 6 bệnh nhân giảm

phù gai ở mắt bên kia Như vậy có thể

suy diễn là phẫu thuật ONSD một bên đã

làm giảm bớt áp lực nội sọ và từ đó cho

phép giảm phù gai ở mắt bên kia Goh và

cộng sự cũng thấy rằng: ở người lớn có

tới 25% trường hợp cải thiện thị lực và

thị trường mắt bên kia sau khi tiến hành

phẫu thuật ONSD một bên

Có 5 bệnh nhân trong nghiên cứu

cần thiết phải tiến hành ONSD cả hai

bên Trong nhóm này có độ tuổi là

5,1-16 tuổi Thời gian trung bình giữa hai lần

ONSD là 4,5 tháng (1,9-9,7 tháng) Các

bệnh nhân này đều có phù gai tiếp tục

hoặc thị lực kém đi ở một hoặc hai bên

sau lần phẫu thuật ONSD đầu tiên

Không có sự khác biệt về thị lực sau mổ

giữa nhóm bệnh nhân này so với nhóm

chỉ tiến hành ONSD một bên Tuy nhiên

nhóm phải tiến hành ONSD hai bên có

mức độ phù gai trước mổ 2,7 điểm, lớn

hơn so với nhóm chỉ tiến hành ONSD

một bên (có mức độ phù gai là 1,7 điểm)

Không có bệnh nhân nào có biến chứng liên quan đến phẫu thuật Các biến chứng đã được nêu lên như lác sau mổ, nhiễm khuẩn, giảm thị lực hoặc tổn hại dây thần kinh thị giác đều không xảy ra trong nghiên cứu này Cũng như các báo cáo khác, tác giả thấy rằng nguy cơ tổn hại dây thần kinh thị giác là cực kỳ hiếm

Mặc dù số lượng bệnh nhân trong nghiên cứu này còn hạn chế nhưng kết quả nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng: phẫu thuật ONSD ở trẻ em để điều trị PTC là một phẫu thuật an toàn và có hiệu quả điều trị với kết quả có thể so sánh được với phẫu thuật ONSD ở người lớn Tác giả cũng khuyến cáo nên tiến hành phẫu thuật ONSD đối với trẻ bị PTC mà điều trị nội khoa thất bại hoặc khi có tổn hại

về thị trường, thị lực hoặc với những trường hợp phù gai mãn tính dai dẳng kéo dài Sau phẫu thuật, cải thiện thị lực

và giảm phù gai thường thấy sau vài tuần sau mổ và tiếp tục cải thiện tới 75% trường hợp trong 3 tháng đầu Tuy nhiên việc theo dõi sát sao sau mổ là cần thiết

vì rằng có tới 5 trường hợp trong nghiên cứu này cần thiết phải tiến hành phẫu thuật ONSD lần hai ở mắt bên kia

Ngày đăng: 22/01/2020, 22:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w