1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá hiệu quả gây tê tủy sống bằng levobupivacaine kết hợp sufentanil trong phẫu thuật chi dưới

6 209 3

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 291,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu nhằm mục tiêu đánh giá hiệu quả, tính an toàn của gây tê tủy sống (GTTS) với 11 mg levobupivacain đẳng trọng kết hợp sufentanil trong phẫu thuật vùng chi dưới. Nghiên cứu thực hiện trên 145 bệnh nhân gây tê tủy sống với levobupivacain kết hợp sufentanil trong phẫu thuật chi dưới.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ GÂY TÊ TỦY SỐNG BẰNG LEVOBUPIVACAINE

KẾT HỢP SUFENTANIL TRONG PHẪU THUẬT CHI DƯỚI

Giả Văn Hưng*, Nguyễn Ngọc Anh**, Lê Hữu Bình***

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả, tính an toàn của gây tê tủy sống (GTTS) với 11 mg levobupivacain đẳng

trọng kết hợp sufentanil trong phẫu thuật vùng chi dưới

Phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu, mô tả dọc 145 bệnh nhân GTTS với levobupivacain kết hợp sufentanil

trong phẫu thuật chi dưới Bệnh nhân được xác định: thời gian phong bế cảm giác, thời gian kéo dài phong bế cảm giác, mức phong bế cảm giác cao nhất, thời gian kéo dài phong bế vận động, mức phong bế vận động Các tác dụng phụ như: nhịp tim chậm, tụt huyết áp, giảm Oxy máu, lạnh run, nôn buồn nôn cũng được ghi nhận

Kết quả: GTTS với 11mg levobupivacain 0,5% đẳng trọng kết hợp 3 mcg sufentanil có thời gian phong

bế cảm giác 5,7 ± 2,2 phút, thời gian kéo dài phong bế cảm giác 250,5 ± 56,3 phút, mức phong bế cảm giác cao nhất T8(T6–T10), thời gian kéo dài phong bế vận động 135,6 ± 42,8 phút, tỉ lệ tụt huyết áp 11,7%, nôn buồn nôn 4,8%

Kết luận: Liều 11 mg levobupivacain 0,5% đẳng trọng kết hợp 3 mcg sufentanil đảm bảo hiệu quả và an

toàn trong GTTS phẫu thuật vùng chi dưới

Từ khóa: Gây tê tủy sống, phẫu thuật chi dưới, levobupivacain, sufentanil

ABSTRACT

EFFECTIVENESS OF SPINAL ANESTHESIA WITH LEVOBUPIVACAINE PLUS SUFENTANIL

FOR LOWER LIMB SURGERY

Gia Van Hung, Nguyen Ngoc Anh, Le Huu Binh

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 19 - Supplement of No 1 - 2015: 436 - 441

Objectives: To evaluate the effect and safety of spinal anesthesia with 11mg 0,5% isobaric levobupivacain

added 3 mcg sufentanil for lower limb surgery

Methods: In this prostective study 145 patients undergoing lower limb surgery spinal anesthesia with

levobupivacain added to sufentanil The onset and duration of sensory block, maximum upper spread of sensory block; onset intensity and duration of motor block any adverse effects suck as bradycardia, hypotension, hypoxia, tremor nausea and/ or vomiting were recorded

Result: spinal anesthesia with 11mg 0.5% isobaric levobupivacain plus 3 mcg sufentanil had onset of

sensory block 5.7 ± 2.2 min, duration of sensory block 250.5 ± 56.3 min, maximum upper spread of sensory block T8(T6–T10), duration of motor block 135.6 ± 42.8 min, hypotension 11.7%, nausea-vomiting 4.8%

Conclusion:Dose 11mg 0.5% isobaric levobupivacain added 3 mcg sufentanil for lower limb surgery It is

safe for patient and anesthesiologits.

Keywords: Spinal anesthesia, lower limb surgery, levobupivacain, sufentanyl

* Bệnh viện ĐKKV Cần Giuộc ** BV Nhân Dân 115

*** BM GMHS, ĐH Y Dược Tp.HCM

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Gây tê tủy sống (GTTS) đoạn thắt lưng là

phương pháp gây tê vùng với một lượng nhỏ

thuốc tê vào tủy sống mục đích làm mất cảm

giác vùng từ rốn trở xuống, thuốc tê sẽ được hòa

lẫn vào dịch não tủy (DNT) ngấm trực tiếp vào

các tổ chức thần kinh, cắt đứt tạm thời đường

dẫn truyền hướng tâm, ly tâm và thần kinh thực

vật ở ngang đốt tủy mà nó tác động(4,5)

Ưu điểm GTTS là kĩ thuật đơn giản, giá

thành rẻ, dễ thực hiện Ngoài ra GTTS ít gây tác

dụng phụ trên hệ hô hấp, bệnh nhân tự thở,

giảm nguy cơ hít sặc hay những biến chứng do

đường thở khó GTTS còn làm dãn cơ tốt cho các

phẫu thuật vùng bụng dưới và chi dưới Sớm

phục hồi nhu động ruột, giảm nguy cơ thuyên

tắc tĩnh mạch sâu và thuyên tắc phổi(5,8,10)

Sự phối hợp giữa levobupivacain với một

thuốc thuộc nhóm morphin như sufentanil trong

GTTS, giúp rút ngắn thời gian khởi tê, kéo dài

thời gian tê và giảm đau trong và sau phẫu

thuật, ngoài ra còn có tác dụng giảm liều thuốc

tê, hạn chế tác dụng phụ(6,9,10) Ở Việt Nam chưa

có nhiều nghiên cứu phối hợp levobupivacain và

sufentanil trong gây GTTS, nhất là trong phẫu

thuật chi dưới Vì vậy, chúng tôi tiến hành

nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả gây tê tủy

sống bằng levobupivacain kết hợp sufentanil trong

phẫu thuật chi dưới”

Mục tiêu

Đánh giá hiệu quả gây tê tủy sống bằng

levobupivacain kết hợp sufentanil trong phẫu

thuật chi dưới

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Tiền cứu, mô tả dọc

Dân số nghiên cứu

Các bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật chi

dưới tại Bệnh viện Nhân Dân 115 Tp Hồ Chí

Minh từ tháng 8 năm 2013 đến tháng 05 năm

2014

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Bệnh nhân mổ chương trình, từ 18 tuổi trở

lên, thuộc nhóm ASA I, II, III, không có chống

chỉ định GTTS, đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ

Nhiễm trùng toàn thân (nhiễm trùng huyết),

có bệnh lí đông máu, dị dạng cột sống, bệnh lý cột sống, không chọc dò tủy sống được Tăng áp lực nội sọ, giảm thể tích tuần hoàn, đau lưng mãn tính, bệnh lí TK, rối loạn tâm thần

Qui trình nghiên cứu

Bệnh nhân: Đánh giá trước mổ giống như gây mê toàn diện Ghi nhận loại phẫu thuật, thời gian dự kiến mổ, các bệnh kèm theo, các bất thường trước mổ, các thuốc đang dùng Chuẩn

bị đầy đủ phương tiện theo dõi, cấp cứu bệnh nhân Đêm trước mổ cho bệnh nhân an thần uống (seduxen 5 mg × 2 viên) Kí giấy cam kết thực hiện thủ thuật, hướng dẫn bệnh nhân sử dụng thang điểm đau VAS

GTTS ở L3 - L4 hoặc L4 - L5 với Levobupivacain 0,5% (đẳng trọng) liều 11mg phối hợp với sufentanil 3 mcg

Các biến số nghiên cứu: Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu, vị trí tổn thương Hiệu quả vô cảm, các thay đổi mạch, huyết áp, nhịp thở trong

mổ Hiệu quả giảm đau sau mổ (thang điểm đau VAS lúc nghỉ ngơi, vận động), thuốc và qui trình giảm đau Các đặc điểm liên quan tới tê tủy sống

và tai biến, biến chứng, tác dụng phụ xảy ra sau khi gây tê, trong lúc mổ, sau mổ tại phòng hồi

sức và hậu phẫu

Xử lí số liệu

Số liệu được nhập và xử lí bằng phần mềm SPSS 16.0 Phân tích thống kê bằng phép kiểm Chi bình phương để phân tích tương quan giữa các biến định tính, phép kiểm T – test để phân tích tương quan giữa các biến định lượng, có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05

KẾT QUẢ

Trong thời gian từ tháng 8/2013 - 5/2014 tại khoa Phẫu thuật – Gây mê hồi sức Bệnh viện

Trang 3

Nhân Dân 115 chúng tôi tiến hành gây tê tủy

sống cho 145 bệnh nhân phẫu thuật vùng chi

dưới, kết quả thu được như sau:

Bảng 1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu

Đặc điểm chung TB ± ĐLC Tối thiểu-tối đa

Tuổi (năm)* 39,6 ± 15,1 18 - 81

Chiều cao (cm) 164 ± 7,3 148 - 179

Cân nặng (kg/m2) 60,5 ± 9,8 38 - 92

BMI

ASA**

I

II

III

22,3 ± 2,6

88 (60,7%)

56 (38,6%)

1 (0,7%)

16 - 32

Nam** 94 (64,8%)

Nữ 51 (35,2%)

Thời gian PT(Phút) 1,2 ± 0,2 30 phút–2,3 giờ

(*): TB ± ĐLC, (**) Tần số (phần tram)

Bảng 2 Đặc điểm tổn thương

Thay khớp háng 8 5,4

Gãy xương đùi 23 15,4

Đứt dây chằng gối 68 45,6

Gãy xương cẳng chân 24 16,1

Lấy dụng cụ kết hợp xương 13 8,7

Tổn thương khác 8 5,4

Bảng 3 Hiệu quả vô cảm trong mổ

Hiệu quả tê sau 30 phút Số BN Tỉ lệ (%)

Tốt 127 87,6

Khá 17 11,7

Thất bại (chuyển mê) 1 0,7

Bảng 4 Thang điểm đau VAS lúc nghỉ ngơi

Sau 3 giờ 2,2 ± 0,8 1 – 4

Sau 6 giờ 2,3 ± 0,6 1 – 4

Sau 12 giờ 2 ± 0,6 1 – 3

Sau 18 giờ 1,6 ± 0,5 1 – 3

Sau 24 giờ 1,4 ± 0,4 1 - 3

Bảng 5 Thang điểm đau VAS lúc vận động

Sau 3 giờ 4,5 ± 1,0 3 – 6

Sau 6 giờ 4,6 ± 0,7 4 - 6

Sau 12 giờ 4,3 ± 0,5 3 – 5

Sau 18 giờ 3,8 ± 0,4 3 – 5

Sau 24 giờ 2,9 ± 0,3 2 - 4

Bảng 6 Tỉ lệ sử dụng thuốc giảm đau

Paracetamol 1g (lần 1) 145 100

Paracetamol 1g (lần 2) 145 100

Paracetamol 1g (lần 3) 35 23,4

Mobic 15 mg (lần 1) 145 100 Mobic 15 mg (lần 2) 145 100

Bảng 7 Liều thuốc giảm đau sử dụng

Tổng liều thuốc sử dụng Số BN Tỉ lệ (%)

Paracetamol 2g 145 100 Paracetamol 3g 35 24,1 Mobic 15 mg 145 100

Bảng 8 Tác dụng phụ trong và sau mổ

Tai biến – tác dụng phụ Số BN Tỉ lệ (%)

Nhức đầu 9 6,2 Đau lưng 10 6,9

Bí tiểu 9 6,2 Ngứa 8 5,4 Nôn – buồn nôn 7 4,8 Tụt huyết áp 17 11,7 Chạm mạch 4 2,7

Bảng 9 Đặc điểm liên quan tới tê tủy sống

Đặc điểm TB ± ĐLC Tối thiểu – tối đa

Thời gian thực hiện thủ thuật (phút) 1,5 ± 0,7 1 - 5 Thời gian khởi tê 5,7 ± 2,2 3,5 - 8 Mức phong bế cảm giác

cao nhất T8(T6–T10) Thời gian đạt mức phong

bế cảm giác cao nhất (phút)

18,7 ± 3,1 12 - 20

Thời gian tê D10 (phút) 7,3 ± 3,2 5,5 – 18 Thời gian phong bế cảm

giác (phút) 250,5 ± 56,3 125 - 385 Thời gian mất vận động M 3

(phút) 12,5 ± 5,3 6,5 – 18 Thời gian phong bế vận

động (phút) 135,6 ± 42,8 75 - 327 Thời gian có vận động lại

(phút) 129 ± 23 100 - 168

BÀN LUẬN Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu

Tuổi trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi là 39,9 ± 15 tuổi, thấp nhất 18 tuổi cao nhất 81 tuổi Đa số là trong lứa tuổi lao động, phù hợp với đặc trưng của bệnh lí chấn thương Cân nặng

và chiều cao, chỉ số BMI trung bình trong nghiên cứu của chúng tôi lần lượt là 164 ± 7,3 cm và 60,53 ± 9,8 kg, 22,3 ± 2,6 (kg/m2), phân độ ASA trong nghiên cứu của chúng tôi đa số là ASA I –

II, chỉ một BN ASA III cao tuổi phẫu thuật thay chỏm xương đùi, có nhiều bệnh lí nội khoa kèm

So sánh với các tác giả Glaser C và cs , Mehta A

Trang 4

và cs(4,6), trong phẫu thuật vùng chi dưới, thì

người Việt Nam là thấp và nhẹ cân hơn, đây

cũng là yếu tố thuận lợi trong việc xác định mốc

giải phẫu và thực hiện kĩ thuật gây TTS Tỉ lệ

nam nhiều hơn nữ tương đồng với nghiên cứu

của các tác giả trong nước phù hợp với đặc trưng

của bệnh lí chấn thương mà nguyên nhân

thường là do tai nạn thể thao, tai nạn giao thông

đa phần do uống rượu bia

Tổn thương phẫu thuật trong nghiên cứu

của chúng tôi chủ yếu là đứt dây chằng do tai

nạn giao thông hoặc thể thao, bao gồm cả chéo

trước và sau có 68 (45,6%) trường hợp Kế đến là

gãy thân hai xương cẳng chân và xương đùi lần

lượt là 24 (16,1%) và 23 (15,4%) trường hợp, còn

lại là các phẫu thuật thay khớp háng 8 (5,45%),

còn phương tiện kết hợp xương 13(8,7%) Là các

loại tổn thương thường gặp trong phẫu thuật

vùng chi dưới Tương tự kết quả các tác giả

trong nước trong GTTS cho phẫu thuật chi dưới

So sánh tổn thương chi dưới do tai nạn thể thao,

giao thông kết quả chúng tôi cao hơn các tác giả

nước ngoài Lí giải điều này chúng tôi cho rằng

chế độ bảo hộ lao động và phương tiện giao

thông ở nước ta là khác so với nước ngoài(1,3)

Hiệu quả vô cảm trong mổ

Hiệu quả của TTS rất cao, trong nghiên cứu

này có 127 (87,6%) bệnh nhân đạt mức tê rất tốt,

trong mổ không sử dụng thêm thuốc giảm đau

nào, có 10 (6,7%) trường hợp chúng tôi xếp vào

loại khá Trong phẫu thuật thì rạch da sử dụng

thêm sufentanil 2-5 mcg kết hợp thêm

midazolam 1 mg tiêm tĩnh mạch, sau đó cuộc

phẫu thuật vẫn diễn ra thuận lợi Có 01 (0,7%)

trường hợp thất bại vì sau 30 phút cảm giác đau,

vận động vẫn còn chúng tôi tiến hành gây mê

toàn diện qua nội khí quản

Hiệu quả vô cảm trong mổ của chúng tôi cũng

tương tự các giả trong nước trong tê tủy sống

cho mổ vùng chi dưới So sánh với kết quả các

tác giả nước ngoài như: Fattorini F và cs, Glaser

C và cs, Mehta A và cs, tỉ lệ thành công của

chúng tôi thấp hơn Tuy nhiên các tác giả trên sử

dụng liều thuốc tê cao hơn và chỉ nghiên cứu tối

đa là 30 trường hợp cho mỗi nhóm nên cũng chưa thực sự mang được tính đại diện (3,4,6) Các chỉ số mạch, huyết áp, nhịp thở trước

và sau 30 phút gây tê thay đổi có ý nghĩa thống kê với p < 0,001 Sau 30 phút các chỉ số

ổn định dần, thay đổi không quá 20% chỉ số cơ bản ban đầu của bệnh nhân và không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05 Theo chúng tôi là trước gây tê các tổn thương do chấn thương làm bệnh nhân đau nhiều, kết hợp tâm lí lo lắng sợ hãi về bệnh tật và cuộc mổ, một số chấn thương gây mất máu dẫn tới các rối loạn nước điện giải Sau gây tê bệnh nhân hết đau, được sử dụng thuốc an thần, bù nước điện giải

và ổn định về mặt tâm lí, huyết động

Hiệu quả giảm đau sau mổ

Trong nghiên cứu của chúng tôi điểm đau VAS lúc nghỉ ngơi sau khi đã sử dụng thuốc giảm đau sau 24 giờ sau phẫu thuật dao động từ 1,3 – 2,8 điểm Lúc vận động từ 2,9 – 5 điểm, và giảm dần theo thời gian Tác giả Vũ Minh Hùng

và cs(10) trong gây TTS bằng bupivacain (đẳng trọng) 12 mg, kết hợp fentanyl 20 mcg thì điểm đau VAS lúc nghỉ ngơi dao động từ 1,2 – 3,5 điểm thì kết quả giảm đau của chúng tôi tốt hơn Tác giả Nguyễn Chí Dũng và cs(7) có điểm đau VAS 24 giờ đầu sau mổ từ 1,5 – 4,2 điểm, cao hơn nghiên cứu của chúng tôi Lamai chum sang

và cs(5) gây TTS cho phẫu thuật chi dưới bao gồm: xương đùi, cẳng chân, khớp gối, khớp bàn chân bằng bupivacain 0,5% kết hợp fentanyl 25 mcg thì ghi nhận điểm đau VAS trong 12 giờ sau phẫu thuật từ 2 – 8 điểm cao hơn kết quả của chúng tôi Các tác giả trên chỉ sử dụng giảm khi

có điểm đau VAS > 3 điểm, nên cần phải có thời gian chờ tác dụng của thuốc

Qui trình giảm đau của chúng tôi theo trình

tự Khi kết thúc phẫu thuật bệnh nhân chuyển phòng hồi tỉnh, tiến hành cho paracetamol 1 g tĩnh mạch cách mỗi 4 – 6 giờ, kết hợp mobic 15

mg tiêm bắp cách mỗi 8 giờ Thêm paracetamol 1g khi chưa có hiệu quả hoặc bệnh nhân yêu cầu thêm giảm đau hoặc có VAS > 3 Sau 24 giờ khi

về khoa phòng chúng tôi đề nghị sử dụng

Trang 5

efferalgan - codein 1g đường uống cho tất các

bệnh nhân cách mỗi 4 – 6 giờ Với qui trình cho

giảm đau ngay sau khi kết thúc phẫu thuật,

chúng tôi ghi nhận điểm VAS lúc nghỉ ngơi < 3

Khi vận động co duỗi, thay đổi tư thế điểm đau

VAS > 4 trong các thời điểm từ 3 – 18 giờ và

giảm dần theo thời gian Chúng tôi áp dụng chế

độ giảm đau đa mô thức với hai loại thuốc giảm

đau Mục đích nhằm tăng cường hiệu quả giảm

đau cho bệnh nhân cũng như giúp giảm liều và

hạn chế tác dụng phụ của từng loại thuốc

Một số đặc điểm liên quan tới tê tủy sống

Thời gian khởi tê của chúng tôi là 5,3 ± 2,2

phút, ngắn nhất 3,5 phút, dài nhất 18 phút Tác

giả Nguyễn Thị Quỳnh Lưu và cs(8) khi gây tê

tủy sống với levobupivacain 0,5% liều 11mg

trong phẫu thuật thay khớp háng có thời gian

khởi tê là 6,3 ± 18,1 phút, Tác giả Lamai

Chumsang và cs(5) tê tủy sống bằng

levobupivacaine cho phẫu thuật nội soi khớp gối

có thời gian khởi tê là 4,3 ± 10,0 tương tự như

nghiên cứu chúng tôi thay đổi không nhiều

Trong TTS thời gian khởi tê tùy thuộc vào liều

lượng, tỉ trọng thuốc, vị trí cũng như tư thế và

tốc độ bơm thuốc, thể trạng của người Việt Nam

là thấp bé, nhẹ cân so với người nước ngoài hơn

nữa vị trí phẫu thuật trong từng nghiên cứu

cũng khác nhau giải thích cho sự khởi tê của các

nghiên cứu là khác nhau

Mức tê cao nhất đạt được của chúng tôi là

T6, trong đó mức tê cao nhất đến T10 là chủ yếu

Điều này chứng tỏ liều thuốc tê levobupivacain

0,5% liều 11 mg phối hợp sufentanil 3 mcg, tê

tủy sống ở L4 – L5 của chúng tôi phù hợp, đảm

bảo đủ vô cảm để phẫu thuật vùng chi dưới bao

gồm cả khớp háng

Thời gian từ lúc bơm thuốc tê đến lúc đạt

mức vô cảm T10 là 7,3 ± 3,2 phút Lamai

Chumsang và cs(5) khi sử dụng levobupivacain

đơn thuần 12,5 mg cho phẫu thuật nội soi khớp

gối có thời gian tê T10 là 4,3 ± 10,0 phút cũng

tương tự như kết quả của chúng tôi Thời gian

phong bế cảm giác của chúng tôi là là 250,5 ±

56,3 phút, vận động là 135,6 ± 42,8 tương tự các

tác giả Onur và cs, Mehta A và cs(6,9), Nguyễn Thị Quỳnh Lưu và cs(8) khi sử dụng cùng thể tích, liều lượng cho phẫu thuật chi dưới Glaser C và

cs(4) khi tiến hành gây tê tủy sống với levobupivacain hay bupivacain cũng nhận thấy levobupivacain 0,125% ít làm suy yếu vận động hơn so với bupivacain 0,125% Tác giả Erdil F và

cs(2) so sánh mức độ, thời gian liệt vận động cùng liều lượng trên gây TTS mổ thay khớp háng người cao tuổi của nhóm levobupivacain là 139,9 phút, thấp hơn so với bupivacain là 155,6 phút Levobupivacain có mức phong bế và thời gian phong bế vận động thấp hơn so với bupivacain

là ưu điểm, giúp sau mổ tập phục hồi chức năng sớm, tránh nằm lâu, phòng được các biến chứng

do thuyên tắc

Tác dụng phụ trong và sau mổ: tỉ lệ tụt huyết

áp, mạch chậm, nôn và buồn nôn của nghiên cứu chúng tôi lần lượt là 11,7%, 1,7%, 4,7% Không có trường hợp nào suy hô hấp So sánh với các tác giả trong và ngoài nước khi sử dụng levobupivacain có hoặc không phối hợp với fentanyl hoặc sufentanil thay đổi không nhiều Như vậy tác dụng phụ khi tê tủy sống với levobupivacain 0,5% liều 11 mg kết hợp sufentanil 3 mcg không nhiều và dễ xử lí

KẾT LUẬN

Gây tê tủy sống đoạn thắt lưng L4 - L5 với levobupivacain 0,5% đẳng trọng liều 11 mg kết hợp sufentanil 3 mcg đảm bảo vô cảm tốt, ổn định mạch huyết áp, tác dụng phụ ít và dễ xử lí

cả trong và sau phẫu thuật cho vùng chi dưới Giúp sau mổ tập vận động sớm, tránh các tai

biến, biến chứng do nằm lâu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Cao Thỉ (2010), “Khảo sát các gãy xương lớn tại bệnh viện Chợ

Rẫy trong hai năm 2008 – 2009”, Y Học Thực Hành số 8(729), tr:

39 – 40

2 Erdil F, Bulut S, Demirbilek S, et al (2009), "The effects of intrathecal Levobupivacain and Bupivacain in the elderly",

Anaesthesia, 64(9), pp 942 - 946

3 Fattorini F, Ricci Z, Rocco A, et al (2006), "Levobupivacain versus racemic Bupivacain for spinal anesthesia in orthopaedic

major surgery", Minerva Anestesiol, 72, pp 637 - 644

4 Glaser C, Marhofer P, Zimpfer G, et al (2002), "Levobupivacine

versus racemic Bupivacain for spinal anesthesia", Anesth Analg,

94, pp 194 - 198

Trang 6

5 Lamai chumsang (2006), “Levobupivacain and Bupivacain in

spinal anesthesia for transurethral endoscopic suegery”, J Med

assoc 89 (8): 1133 – 9

6 Mehta A, Gupta V, Wakhloo R, et al (2008), "Comparative

evaluation of intrathecal administration of newer local

anaesthetic agents ropivacaine and Levobupivacain with

Bupivacain in patients undergoing lower limb surgery" The

Internet Journal of Anesthesiology, 17 (1)

7 Nguyễn Chí Dũng (2011), “Đánh giá hiệu quả gây tê tủy sống

bằng Bupivacain phối hợp Sufentanil trong phẫu thuật chi

dưới”, Luận văn chuyên khoa 2, Đại Học Y Dược Tp HCM

8 Nguyễn Thị Quỳnh Lưu (2011), “Nghiên cứu hiệu quả của

Levobupivacain trong gây tê tủy sống để phẫu thuật thay khớp

háng”, Luận văn Thạc sĩ Y Học, Trường Đại Học Y Dược Thành

Phố Hồ Chí Minh

9 Onur O, Sibel AM, Mustafa A, et al (2010), "Comparison of the effects of intrathecal different dosage of Levobupivacain in

elective day - case arthroscopy of the knee" M E J Anesth, 20

(5): pp 703 - 708

10 Vũ Minh Hùng (2013), “ Hiệu quả gây tê thần kinh đùi – hông

to có máy kích thích trong phẫu thuật vùng cẳng chân”, Luận án

chuyên khoa 2, Trường Đại Học Y Dược Thành Phố Hồ Chí

Minh

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 07/12/2014

Ngày đăng: 22/01/2020, 22:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w