1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Xác định tỷ lệ loãng xương và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ ≥ 50 tại thành phố Vũng Tàu, Bà Rịa - Vũng Tàu

7 110 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 498,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu nhằm xác định tỉ lệ loãng xương và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ ≥50 tuổi tại thành phố Vũng Tàu, năm 2013. Nghiên cứu thực hiện với cỡ mẫu 410 phụ nữ ≥50 tuổi. Sử dụng bộ câu hỏi phỏng vấn trực tiếp để thu thập các số liệu về đặc điểm dân số xã hội, tiền sử cá nhân và gia đình.

Trang 1

Ở PHỤ NỮ ≥ 50 TẠI THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, BÀ RỊA‐VŨNG TÀU 

Đặng Thị Hải Yến*, Đặng Văn Chính** 

TÓM TẮT  

Đặt vấn đề: Mặc dù là vấn đề y tế công cộng nghiêm trọng nhưng loãng xương và hậu quả của nó chưa 

được quan tâm đúng mức. 

Mục tiêu: Xác định tỉ lệ loãng xương vàmột số yếu tố liên quan ở phụ nữ ≥50 tuổi tại thành phố Vũng Tàu, 

năm 2013. 

Phương  pháp  nghiên  cứu: Nghiên cứu cắt ngang với cỡ mẫu 410 phụ nữ ≥50 tuổi. Sử dụng bộ câu hỏi 

phỏng vấn trực tiếp để thu thập các số liệu về đặc điểm dân số xã hội, tiền sử cá nhân và gia đình. Đo nhân trắc  học và xác định tỷ lệ loãng xương bằng phương pháp hấp thu năng lượng kép (DXA). 

Kết quả: Tỷ lệ loãng xương ở CXĐ là 21%, tỷ lệ thiếu xương là 19%. Tỷ lệ loãng xương ở xương đùi là 

14,7%, tỷ lệ thiếu xương là 19%. Tỷ lệ loãng xương tăng theo tuổi và tăng cùng thời gian mãn kinh. Có mối liên  quan có ý nghĩa thống kê giữa loãng xương với tuổi, cân nặng, số lần sinh con và tình trạng mãn kinh khi sử  dụng mô hình phân tích đa biến. 

Kết  luận: Tỷ lệ loãng xương ở CXĐ của phụ nữ ≥ 50 tuổi tại thành phố Vũng Tàu là 21%. Có mối liên 

quan giữa loãng xương và nhóm tuổi, số lần sinh, cân nặng và thời gian mãn kinh. 

Từ khóa: loãng xương, phụ nữ ≥50 tuổi.  

ABSTRACT 

DETERMINATION THE OSTEOPOROSIS PROPORTION, SOME RELATIONSHIPS OF WOMEN 

ABOVE 50 YEARS OLD IN VUNG TAU CITYBA RIA‐VUNG TAU PROVINCE 

Dang Thi Hai Yen, Dang Van Chinh 

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6‐ 2014: 134 – 140 

Background:Osteoporosis is a significantt public health problem; however its magnitude and consequences 

have not been concerned sufficiently. 

Objectives:  To  determine  the  prevalence  of  osteoporosis  and  low  bone  mass  and  its  determinants  among 

women who aged 50 years and older in Vung Tau City, Ba Ria‐Vung Tau province, 2013. 

Methods:  This  wasacross‐sectional  survey  with  a  sample  of  410  women,  aged  50  years  and  older. 

Socioeconomic variable and individual or family characteristics were collected by a questionaire. Osteoporosis was  measured by dual‐energy X‐ray absorptionmetry mehod (DXA). 

Result: The prevalence of osteoporosis and low bone mass at femur neck were 21% and 19%, respectively (at 

femur were 14.7% and 19%, respectively). The prevalence of osteoporosis increased with age and postmenopause.  Osteoporosis  rose  with  age  and  after  menopause  and  theywere  significanlyt  statisticalassociation.  Multinomial  logistic  model  shows  that  there  were  significant  associationsbetween  age,  weight,  times  of  giving  birth  and  menopause status and osteoporosis. 

Conclussion:The prevalence of osteoporosis was of high concern. Age, weight, parity and menopause status 

were predictors of osteoporosis.  

Key words: Osteoporosis, women who aged 50 years and older. 

* Hội Đông y tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu    ** Viện Y tế công cộng TP. Hồ Chí Minh 

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Loãng xương và hậu quả của nó đang được 

Việt  Nam  và  thế  giới  quan  tâm  vì  mức  độ  ảnh 

hưởng của nó lên sức khỏe cộng đồng, cùng với 

sự  phát  triển  của  nền  kinh  tế,  tuổi  thọ  của  con 

người  cũng  tăng  lên  dự  báo  tỷ  lệ  loãng  xương 

ngày càng tăng, vì tuổi là yếu tố nguy cơ chính 

của  loãng  xương  và  gãy  xương(8).  Bên  cạnh  đó, 

các  triệu  chứng  của  loãng  xương  thường  biểu 

hiện âm thầm, chỉ khi trọng lượng xương mất đi 

hơn 30% mới có biều hiện trên lâm sàng. Nhiều 

trường  hợp  bệnh  không  có  biểu  hiện  triệu 

chứng,  do  đó  người  bị  loãng  xương  không  biết 

cho đến khi họ bị gãy xương(9). Hậu quả của gãy 

xương là tàn phế và chi phí điều trị cao hoặc đe 

dọa tính mạng, nhất là đối tượng người cao tuổi. 

Vì những gánh nặng bệnh tật và kinh tế nên việc 

phòng ngừa loãng xương đóng một vai trò quan 

trọng. Loãng xương phổ biến ở phụ nữ hơn nam 

giới,  nguyên  nhân  có  thể  do  phụ  nữ  có  khối 

lượng  xương  đỉnh  thấp  hơn  30%  so  với  nam 

giới, vai trò sinh đẻ, cho con bú, lượng nội tiết tố 

có  vai  trò  giữ  khối  lượng  xương  bắt  đầu  suy 

giảm sau tuổi 50, bên cạnh đó phụ nữ thường có 

tuổi  thọ  cao  hơn  nam  và  do  đó  có  giảm  khối 

lượng  xương  nhiều  hơn  dẫn  đến  tỷ  lệ  loãng 

xương và gãy xương cao hơn nam giới(9). 

Để có dự phòng sớm về loãng xương ở phụ 

nữ trung niên tại thành phố Vũng Tàu, chúng tôi 

tiến hành xác định tỷ lệ loãng xương ở phụ nữ ≥ 

50  tuổi  bằng  phương  pháp  DXA  nhằm  có  dữ 

liệu khoa học góp phần cùng ngành y tế hưởng 

ứng  chương  trình  hành  động  phòng  chống  LX, 

đồng thời là cơ sở xây dựng các hoạt động nâng 

cao thể chất người Việt Nam. 

Mục tiêu nghiên cứu  

Xác định tỉ lệ loãng xương và một số yếu tố 

liên quan ở phụ nữ ≥50 tuổi tại thành phố Vũng 

Tàu, năm 2013. 

Mục tiêu cụ thể 

Xác định tỉ lệ loãng xương ở phụ nữ ≥ 50 tuổi  tại  thành  phố  Vũng  Tàu,  2013  bằng  phương  pháp đo hấp thu năng lượng kép. 

Xác  định  một  số  yếu  tố  liên  quan  đến  tình  trạng loãng xương. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Nghiên  cứu  cắt  ngang,  cỡ  mẫu  410  phụ  nữ 

≥50 tuổi, cư trú trên địa bàn thành phố Vũng Tàu  trên 1 năm, được chọn từ 30 cụm dân cư trong  tổng số 16 phường. 

Loãng  xương  được  xác  định  bằng  phương  pháp hấp thu tia X năng lượng kép (DXA), đây là  phương pháp đo mật độ xương, thăm dò không  xâm  lấn  thực  hiện  dễ  dàng  để  đánh  giá  khối  lượng  xương  và  nguy  cơ  gãy  xương,  phương  pháp được sử dụng rộng rãi trên thế giới, có độ  tin  cậy  cao  được  xem  như  là  tiêu  chuẩn  vàng  trong việc xác định mật độ xương. Phương pháp  này có thể chẩn đoán loãng xương, tiên lượng gãy  xương và theo dõi định kỳ, đây cũng là phương  pháp có thể áp dụng cho các vị trí ngoại biên như  cẳng tay hay trung tâm như cột sống hoặc khung  xương chậu, nó cũng thể quét toàn cơ thể. Hai vị  trí  thường  được  đo  là  cột  sống  thắt  lưng  và  cổ  xương  đùi  (CXĐ),  vì  đây  là  vị  trí  thường  bị  gãy 

do loãng xương nhất. 

Sử dụng phần mềm Epidata nhập số liệu và  phân tích bằng phần mềm Stata. 

KẾT QUẢ 

Bảng1: Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 

Đặc điểm (n=389)

Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Nhóm tuổi

Hôn nhân

Ly thân/ly

Nghề nghiệp

Nội trợ 156 40,1

Trang 3

Đặc điểm (n=389)

Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Nghỉ hưu 100 25,7

Nhân viên nhà

nước

34 8,7

Thu nhập

≤ 2 triệu 190 48,8

Số lần sinh

con

Kinh nguyệt

hiện tại

Hết 340 87,4 Thời gian hết

kinh

< 5 năm 107 31,5

≥ 10 năm 152 44,7 BMI

Phụ nữ ở nhóm tuổi từ 50‐59 tuổi chiếm tỷ lệ 

cao  nhất  (55%),  chiếm  tỷ  lệ  thấp  nhất  là  nhóm 

phụ nữ ≥70 tuổi (15,2%). Đa số đối tượng nghiên 

cứu  có  gia  đình  (82%).  Nghề  nghiệp  của  đối  tượng nghiên cứu chủ yếu là nội trợ (40%). Đối  tượng  nghiên  cứu  có  số  lần  sinh  từ  1‐  2  con  (45,8%)  có  tỷ  lệ  tương  đương  với  sinh  ≥  3  con  (49,1%). Đa số phụ nữ đã mãn kinh (87,4%), với  44,7%  mãn  kinh  >10  năm.  Hơn  50%  đối  tượng  nghiên cứu có BMI ở mức béo phì. 

Bảng 2: Hoạt động thể lực và chế độ ăn uống giàu 

canxi 

Đặc điểm (n

= 389) Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Thực phẩm bổ sung canxi/ngày

≥ 650 mg/ngày

78 20

< 650

Hoạt động thể lực/ ngày

Vận động trung bình

279 71,7 Vận động

mạnh

17 4,4

Có  80%  đối  tượng  nghiên  cứu  có  sử  dụng  thức ăn bổ sung canxi dưới 650 mg/ngày. Đa số  đối  tượng  nghiên  cứu  vận  động  thể  lực  ở  mức  trung bình, chiếm tỷ lệ 71,7%. 

Biểu đồ 1: Tỷ lệ loãng xương chung của đối tượng nghiên cứu 

Biểu  đồ  1  mô  tả  thực  trạng  loãng  xương 

chung  của  389  phụ  nữ  ≥50  tuổi  tại  thành  phố 

Vũng  Tàu.  Khi  đánh  giá  theo  T‐score  tại  vị  trí 

CXĐ. Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu bị loãng xương  chiếm tỷ lệ 21%, tỷ lệ giảm mật độ xương là 19%. 

Loãng xương (n=80) Thiếu xương (n=74) Bình thường (n=235)

60%

TỶ LỆ LOÃNG XƯƠNG, THIẾU XƯƠNG

Trang 4

Bảng 4: Một số yếu tố liên quan đến tình trạng loãng xương 

Đặc điểm Loãng xương Thiếu xương Bình thường p Loãng xương

PR (KTC 95%)

Thiếu xương

PR (KTC 95%)

Ly thân/ly dị/góa 1 14,3 2 28,6 4 57,1

Nghề nghiệp

Số lần sinh con

Thời gian m.kinh

Kinh nguyệt

*p value <0,05, **p value <0,01 

Có  mối  liên  quan  có  ý  nghĩa  thống  kê  giữa 

nhóm  tuổi  và  tình  trạng  loãng  xương,  thiếu 

xương,  tuổi  càng  cao  thì  tỷ  lệ  loãng  xương  và 

thiếu  xương  càng  cao.  Tỷ  lệ  loãng  xương  và 

thiếu xương tỷ lệ nghịch theo cân nặng, theo thu 

nhập  gia  đình,  phụ  nữ  càng  nhẹ  cân,  hoặc  thu 

nhập  gia  đình  càng  thấp  thì  tỷ  lệ  loãng  xương 

càng cao. Phụ nữ đã mãn kinh hoặc phụ nữ sinh 

≥3  con  có  tỷ  lệ  loãng  xương,  thiếu  xương  cao 

hơn.  Không  có  mối  liên  quan  có  ý  nghĩa  thống 

kê  giữa  tình  trạng  loãng  xương  với  tình  trạng  hôn nhân hay với nghề nghiệp. 

Bảng 6: Mô hình hồi quy đa giá (multiomial logistic) 

thể hiện mối liên quan giữa loãng xương và một sô  yếu tố liên quan của đối tượng nghiên cứu 

Đặc tính n = 389 Loãng xương

PR (KTC 95%)

Thiếu xương

PR (KTC 95%)

Nhóm tuổi

Trang 5

Đặc tính n = 389 Loãng xương

PR (KTC 95%)

Thiếu xương

PR (KTC 95%)

BMI

Bình thường 1 1

Cân nặng

Thu nhập gia đình

Số lần sinh

Thời gian mãn kinh

< 5 năm 1 1

Hoạt động thể lực

Ăn uống bổ xung canxi

*p value <0,05, **p value <0,001 

Kết phân tích mô hình hồi quy đa giá cho thấy 

có  04  yếu  tố  có  ảnh  hưởng  đến  thực  trạng  loãng 

xương của đối tượng nghiên cứu là yếu: tuổi, cân 

nặng, số lần sinh con, thời gian mãn kinh. 

Thực trạng loãng xương chịu ảnh hưởng bởi 

tuổi  của  đối  tượng  nghiên  cứu,  theo  đó  những 

người ở độ tuổi 60 – 69 có tỷ lệ mắc bệnh loãng 

xương cao hơn so với những người 50 – 59 tuổi 

tuy  nhiên  sự  khác  biệt  này  không  có  ý  nghĩa 

thống kê (p >0,05); độ tuổi >70 tuổi có tỷ lệ loãng 

xương gấp 6,7 lần so với phụ nữ ở lứa tuổi 50 – 

59 với p <0,001. 

Phụ  nữ  có  cân  nặng  <45  kg  có  tỷ  lệ  loãng 

xương gấp 5 lần so với người có cân nặng ≥ 45 

kg, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p <0,001). 

Phụ  nữ  sinh  từ  3  con  trở  lên  có  tỷ  lệ  loãng 

xương  gấp  3,6  lần  so  với  phụ  nữ  sinh  từ  1  –  2 

con.  Phụ  nữ  mãn  kinh  >10  năm  có  tỷ  lệ  loãng  xương gấp 3,5 lần so với mãn kinh <5 năm, khác  biệt có ý nghĩa thống kê. 

BÀN LUẬN 

Tỷ  lệ  loãng  xương  được  đo  ở  CXĐ  trong  nghiên cứu là 21% và tỷ lệ giảm mật độ xương là  19%. So sánh kết quả nghiên cứu của chúng tôi  với một số nghiên cứu trong nước cùng phương  pháp  DXA,  chúng  tôi  nhận  thấy,  tỷ  lệ  loãng  xương  ở  vị  trí  CXĐ  đo  được  trong  nghiên  cứu  của chúng tôi không có nhiều khác biệt. Nghiên  cứu  tại  thành  phố  Hồ  Chí  Minh  (2010)  có  tỷ  lệ  loãng xương là 28,6%(4). Cũng một nghiên cứu về  loãng  xương  ở  phụ  nữ  của  tác  giả  Hồng  Hoa  (2008) cho thấy tỷ lệ loãng xương ở phụ nữ >50  tuổi là 24,6%(1). 

Nghiên cứu về loãng xương tại một số nước  trên thế giới cũng cho nhiều kết quả khác nhau:  nghiên cứu ở Trung Quốc (2007) cho tỉ lệ loãng  xương  chung  tại  CXĐ  là  15%.  Nghiên  cứu  tại  Hàn  Quốc  (2008),  tỷ  lệ  loãng  xương  tại  CXĐ  là  12,4%.  Tỷ  lệ  loãng  xương  ở  phụ  nữ  Canada  (2000) là 7,9% ở CXĐ. Một số quốc gia cho tỷ lệ  tương tự như nghiên cứu của chúng tôi phụ nữ  Thái Lan mãn kinh từ 40‐80 tuổi từ 2004‐2008 kết  quả cho tỷ lệ loãng xương là 20,2%. Kohn nghiên  cứu  409  phụ  nữ  >50  tuổi  tại  Mỹ  bằng  phương  pháp  hấp  thu  tia  X  năng  lượng  kép  (2000)  tại  CXĐ  ghi  nhận  là  20%(5).  Nguyễn  Văn  Tuấn  và  cộng sự nghiên cứu trên 1075 phụ nữ mãn kinh  tại Úc, phương pháp DXA, cho tỷ lệ là 21%(6).   Nhìn chung tỷ lệ loãng xương của chúng tôi 

so  sánh  với các  nghiên  cứu  loãng  xương  ở  Việt  Nam  thấp hơn. Có  thể  do  mẫu nghiên  cứu  của  chúng tôi có tỷ lệ người >70 tuổi thấp, ngoài ra  thành phố Vũng Tàu là thành phố công nghiệp, 

du  lịch  trẻ  đa  số  người  dân  ở  vẫn  còn  tuổi  lao  động,  đối  tượng  lớn  tuổi  ở  một  số  phường  có  người  dân  Vũng  Tàu  sinh  sống  lâu  năm.  Mặt  khác đây thành phố biển thực phẩm cá tôm các  loại  ốc  nhiều  canxi,  thời  tiết  nắng  quanh  năm  thuận  lợi  cho  việc  hấp  thu  vitamin  D  và  canxi 

Trang 6

nên  mật  độ xương tăng tỷ  lệ  loãng  xương thấp 

hơn một số khu vực trong nước. 

Phân tích đa biến chúng tôi tìm thấy 04 yếu 

tố liên quan đến tình trạng loãng xương của đối 

tượng nghiên cứu đó là độ tuổi, cân nặng và số 

lần  sinh  và  thời  gian  mãn  kinh  của  đối  tượng 

nghiên cứu, tuổi càng cao thì tỷ lệ loãng xương 

càng  tăng,  cân  nặng  càng  giảm  thì  tỷ  lệ  loãng 

xương càng cao, phụ nữ sinh nhiều con có nguy 

cơ loãng xương cao hơn sinh ít con, phụ nữ mãn 

kinh thời gian mãn kinh càng dài thì tỷ lệ loãng 

xương càng cao. 

Nhiều  nghiên  cứu  đã  cho  rằng  tỷ  lệ  loãng 

xương  khác nhau  giữa  các  quần  thể dân  cư,  và 

cũng chỉ ra rằng tỷ lệ loãng xương có xu hướng 

tăng  theo  tuổi.  Nghiên  cứu  của  chúng  tôi  nhận 

thấy tuổi và tỷ lệ loãng xương có liên quan chặt 

chẽ với nhau, tuổi càng cao nguy cơ loãng xương 

càng  lớn.  Nguyên  nhân  có  thể  do  khối  lượng 

xương giảm dần theo tuổi, bắt đầu giai đoạn mất 

xương  nhanh  vào  khoảng  50  tuổi,  đây  là  giai 

đoạn tiền mãn kinh và mãn kinh dẫn đến thiếu 

hụt nội tiết tố (estrogen). Sự mất xương ở các vị 

trí  của  xương,  tuổi  càng  cao  tỷ  lệ  loãng  xương 

càng  tăng  do  sự  mất  xương  do  mãn  kinh  cộng 

với  sự  mất  xương  do  tuổi  già  làm  tống  khối 

lượng  xương  mất  tăng  lên  đáng  kể  do  đó  tỷ  lệ 

loãng xương tăng lên là tất yếu. Kết quả nghiên 

cứu  của  chúng  tôi  cũng  phù  hợp  với  phần  lớn 

các tác giả trong và ngoài nước cho rằng tuổi là 

yếu tố nguy cơ chính của loãng xương ở phụ nữ. 

Cũng với mô hình hồi quy đa biến kiểm soát các 

yếu  tố  nhiễu  trong  mối  liên  quan  với  biến  phụ 

thuộc, một số tác giả trong nước cũng đều có kết 

luận nguy cơ mắc loãng xương gia tăng theo độ 

tuổi(4). Mặc dù là yếu tố nguy cơ của tình trạng 

loãng  xương,tuy  nhiên  tuổi  không  thể  thay  đổi 

được  do  đó  nên  triển  khai  các  hoạt  động  dự 

phòng  tập  trung  ở  lứa  tuổi  có  nguy  cơ  nhất, 

bằng  cách  chế  độ  ăn  uống  sinh  hoạt  hợp  lý, 

khám  sức  khỏe  định  kỳ  và  bổ  sung  canxi, 

vitanmin  D.  Với  tình  trạng  dân  số  Việt  Nam 

đang già đi các vấn đề bệnh tật của tuổi già ngày 

càng nhiều, trong đó loãng xương là một bệnh lý  rất cần được quan tâm chú trọng. 

Cân nặng là một trong yếu tố ảnh hưởng đến  loãng  xương  ở  phụ  nữ  lớn  tuổi,  phụ  nữ  có  cân  thấp thì tỷ lệ loãng xương càng cao. Theo tác giả  Nguyễn  văn  Tuấn  và  cộng  sự  đã  khẳng  định  người có cân nặng thấp hơn lượng mỡ của cơ thể 

ít có nguy cơ gãy CXĐ cao hơn vì người gầy mỡ  bao bọc vùng mông ít, mô đệm vùng CXĐ ít nên  chịu lực kém(7). 

Phụ nữ sinh ≥3 con có tỷ lệ loãng xương cao  hơn  so  với  phụ  nữ  sinh  1‐2  con.  Dequeker  J  và  cộng  sự  cũng  cho  thấy  rằng  mật  độ  xương  của  phụ nữ sinh 1‐2 lần cao hơn phụ nữ chưa sinh;  phụ nữ sinh 4 lần trở lên có mật độ xương thấp  hơn  phụ  nữ  sinh  3  lần  trở  xuống(2).  Grainge  và  cộng  sự  khi  nghiên  cứu  ảnh  hưởng  của  thai  nghén và tình trạng mãn kinh với mật độ xương  của 580  phụ nữ trong  độ tuổi  >45 tuổi  đã  nhận  thấy  có  mối  tương  quan  chặt  chẽ  giữa  số  lần  mang thai với gia tăng mật độ xương. Nếu sinh  nhiều  con  sẽ  ảnh  hưởng  đến  quá  trình  chuyển  hóa  canxi  của  người  mẹ(3).  Như  vậy  sinh  nhiều  con  (>3  lần)  và  không  sinh  con  cũng  không  tốt  cho sức khỏe xương của phụ nữ điều này cũng  tương tự như một số nghiên cứu ở trong nước. 

Tỷ  lệ  loãng  xương  tăng  theo  thời  gian  mãn  kinh,  phụ  nữ  mãn  kinh  trên  10  năm  có  tỷ  lệ  loãng xương gấp 3,5 lần so với phụ nữ mãn kinh 

<5 năm. Một số nghiên cứu gần đây cũng cho kết  qua  tương  tự,  một  nghiên  cứu  vào  năm  2008  trong phân tích hồi quy đa biến cho thấy, tốc độ  mất  xương  đùi  của  của  phụ  nữ  còn  kinh  là  0,22%/năm sau đó tăng lên 0,42%/năm ở phụ nữ  mãn  kinh,  sự  khác  biệt  có  ý  nghĩa  thống  kê.  Vì  vậy mật độ xương ở phụ nữ mãn kinh giảm dẫn  đến tỷ lệ loãng xương tăng(1). Điều này có thể do 

từ 70 tuổi trở xuống, nguyên nhân loãng xương  chủ yếu là do tình trạng mãn kinh, do nồng độ  estrogen  giảm  gây  nên  mất  chất  xương,  do  đó  vấn  đề  cần  làm  là  rút  ngắn  thời  gian  mãn  kinh  bằng cách sử dụng liệu pháp hormon thay thế. 

Trang 7

Thực  tế  quá  trình  mất  xương  tiến  triển  một 

cách âm thầm sau nhiều năm khi mà khối xương 

mất  một  cách  đáng  kể,  những  biểu  hiện  lâm 

sàng mới xuất hiện. Vì vậy, loãng xương và gãy 

xương là hậu quả của quá trình mất xương làm 

giảm chất lượng cuộc sống của phụ nữ lớn tuổi. 

Kết quả cho thấy tỷ lệ loãng xương có quan hệ 

chặt  chẽ  với  tình  trạng  kinh  nguyệt,  ở  phụ  nữ 

mãn  kinh  có  nguy  cơ  loãng  xương  nhiều  hơn 

phụ  nữ  còn  kinh,  phụ  nữ  mãn  kinh  thời  gian 

càng  lâu  nguy  cơ  loãng  xương  cao  hơn,  vì  vậy 

phòng  ngừa  loãng  xương  cho  phụ  nữ  nên  bắt 

đầu ở nhóm phụ nữ dưới 50 tuổi và chậm nhất 

là 50 tuổi thì mới mang lại hiệu quả cao. 

KẾT LUẬN 

Tỷ  lệ  loãng  xương  của  phụ  nữ  ≥50  tuổi  tại 

thành phố Vũng Tàu là 21%, tỷ lệ thiếu xương là 

19% (đo ở CXĐ).Tỷ lệ loãng xương ở xương đùi 

là 14,7%, tỷ lệ thiếu xương là 19%. 

Có  mối  liên  quan  có  ý  nghĩa  thống  kê  giữa 

tình trạng loãng xương với tuổi, cân nặng, số lần 

sinh con và tình trạng mãn kinh. Loãng xương tỷ 

lệ nghịch với cân nặng, tỷ lệ thuận với tuổi. Phụ 

nữ đã mãn kinh hoặc sinh >3 con có tỷ lệ loãng 

xương cao hơn nhóm phụ nữ còn lại. 

TÀI LIỆU KHAM KHẢO 

CXĐ của người bình thường bằng phương pháp đo hấp thu 

tia X năng lượng kép. Luận văn tiến sỹ y học. Học viện quân 

y. Tr. 34‐56. 

remodelling  ʺin  vivoʺ  value  of  the  radiogemetric  approach.  Journal Acta Rhumatologica. 4(1)40‐42. 

Osteoporosis. Diagnosis with lateral and posteroanterior dual 

CT.Radiology. 194. 845‐850. 

xương: Ảnh hưởng của giá trị tham chiếu. Thời sự y học.57. 3‐

10. 

SP,  Huang  QR  (2001).  A  Simple  Tool  to  Identify  Asian  Women  at  Increased  Risk  of  osteoporosis.  Osteoporosis  International J. 12: 699‐705. 

elderly men and women: effects of dietary calcium, physical  activity, and body mass index. J Bone Miner Res. 15: 322‐331. 

xương: nguyên nhân. chẩn đoán. điều trị và phòng ngừa. Nhà  xuất bản Y học. Hà Nội. Tr. 67‐89. 

osteoporosis  in  Asia.  www.iofbonehealth.org.  Accessed  on  14/09/2013. 

management of osteoporosis. Geneva. Pp. 23‐34.  

 

Ngày nhận bài báo:       17/5/2014  Ngày phản biện nhận xét bài báo:   21/6/2014  Ngày bài báo được đăng:     14/11/2014 

 

 

Ngày đăng: 22/01/2020, 21:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w