1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá kết quả tán sỏi nội soi ngược chiều trên bệnh nhân suy thận cấp do sỏi niệu quản

10 94 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 348,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung của bài viết trình bày về kết quả chẩn đoán, chỉ định và điều trị tán sỏi nội soi ngược chiều trên bệnh nhân suy thận cấp do sỏi niệu quản. Kết quả cho thấy, tán sỏi nội soi ngược chiều trên bên nhân suy thận cấp do sỏi niệu quản là một phẫu thuật ít xâm hại, hoàn toàn khả thi với tính an toàn và hiệu quả cao. 

Trang 1

TRÊN BỆNH NHÂN SUY THẬN CẤP DO SỎI NIỆU QUẢN 

Võ Hữu Chí*, Trần Ngọc Sinh** 

TÓM TẮT 

Mục tiêu: Đánh giá kết quả chẩn đoán, chỉ định và điều trị tán sỏi nội soi ngược chiều trên bệnh nhân suy 

thận cấp do sỏi niệu quản. 

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Báo cáo loạt ca lâm sàng, những trường hợp chẩn đoán suy thận 

cấp sau thận do sỏi niệu quản, lâm sàng có thiểu niệu và vô niệu, creatinin huyết thanh lúc nhập viện ≥ 1,5  mg/dL và mức độ tăng creatinin huyết thanh > 0,5 mg/dL. Tất cả bệnh nhân được điều trị tán sỏi nội soi ngược  chiều bằng Holmium YAG laser tại bệnh viện  Chợ  Rẫy  và  bệnh  viện  Bình  Dân  từ  tháng  1/  2012  đến  tháng  5/2013.  

Kết quả: 27 bệnh nhân, tuổi trung bình 49,19 tuổi (28‐75), 11 nữ (40,7%), 16 nam (59,3%). Nguyên nhân 

suy thận cấp do sỏi: sỏi niệu quản 2 bên 40,8%, sỏi niệu quản trên thận độc nhất là 37,0%, sỏi niệu quản trên sỏi  thận đối bên là 7,4%, sỏi niệu quản trên sỏi bể thận là 3,7%, sỏi niệu quản trên hẹp khúc nối bể thận niệu quản  đối bên là 3,7% và sỏi niệu quản trên thận teo là 7,4%. Có 27/27 bệnh nhân thận trướng nước trên siêu âm.  Điều trị tán sỏi nội soi gồm 27 bệnh nhân, thời gian tán sỏi trung bình 27,5 phút (15‐45) với kết quả tán sỏi tốt 

22 (81,5%), trung bình 4 (14,8%) và kém 1 (3,7%). Một trường hợp không tiếp cận được sỏi do không tìm được  miệng niệu quản (3,7%) và 26 trường hợp (96,3%) tán sỏi thành công với nồng độ creatinin huyết thanh trở lại  giá trị bình thường, sau 7 ngày xuất viện 7 (26,9%), sau 1 tháng 20 (76,9%) và sau 3 tháng 25 (96,1%). Một  trường hợp sau 3 tháng chức năng thận chưa trở lại giá trị bình thường. Kết quả sau 3 tháng thành công 25 

(92,6%) và thất bại 2 (7,4%). 

Kết luận: Tán sỏi nội soi ngược chiều trên bên nhân suy thận cấp do sỏi niệu quản là một phẫu thuật ít xâm 

hại, hoàn toàn khả thi với tính an toàn và hiệu quả cao. Đôi khi cần phải lọc máu ngoài thận trước khi tiến hành  tán sỏi giãi quyết nguyên nhân bế tắc. 

Từ khoá: tán sỏi nội soi, suy thận cấp, sỏi niệu quản 

ABTRACT 

EVALUATE THE RESULT OF RETROGRADE YRETEROSCOPIC LITHTRIPSY FOR TREANING 

ACUTE RENAL FAILURE PATIENTS WITH URINARY TRACT CALCULI

Vo Huu Tri, Tran Ngoc Sinh * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 – 2014: 29 ‐ 38 

Objective:  To  assess  the  diagnostic  result,  the  indication  and  the  treatment  of  retrograde  ureteroscopic 

lithotripsy for treating acute renal failure patients with urinary tract calculi. 

 Methods: The case series study. The patients diagnostic acute renal failure with urinary tract calculi,with 

anuria  and  oliguria,  creatininemia  on  admission  ≥  1.5  mg/dL,  oncreased  mean  volume  >  0.5  mg/dL.  All  of  patients underwent uretroscopic lithtripsy by Holmium YAG laser. From january 2012 to may 2013 at Chợ Rẫy  Hospital and Bình Dân Hospital. 

Result: A total of 27 patients, mean 49.19 ys (28‐75), 11 female (40.7%), 16 male (59.3%). Causes of acute 

renal failure: ureteral calculi bilateral 40.8%, ureteral stones with single kiney 37.0%, ureteral stones plus renal  stones on the other side: 7.4%, ureteral stones plus pyelostones were 3.7%, ureteral calculi plus stricture of pyelo‐

* Bệnh viện Hữu Nghị Đồng Tháp  ** Đại học Y Dược TPHCM 

Trang 2

on ultrasounde. 27 patients underwent ureteoscospic lithotripsy. Duration mean of lithtripsy was 27.5 minutes  (15‐45). Assessement of lithotripsy: Good 22 (81.5%), Averrage 4 (14.8%) and poor 1 (3.7%). Of 26 patients  were evaluated the restoration of renal function when creatininemia index returned nomal value after discharge 7  days 7 (26.9%), after 1 months 20 (92.6%) and failure of 2 (7.4%). 

Conlusion: Retrograde ureteroscospic lithotripsy for the patients with acute renal failure by ureteral calculi 

were a minimally invasive procedure, it is feasible, safe and high effective techniques. Sometimes, dialysis before  performing lithotripsy to resolve obstructive cause. 

Keyword: endoscopic lithotripsy calculi, acute renal failure, stone ureteral 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Sỏi niệu quản thường gây bế tắc và thương 

tổn  sớm  ở  đường  tiết  niệu.  Nếu  bế  tắc  xãy  ra 

trên  cả  2  thận  kèm  theo  nhiễm  trùng  dễ  gây 

thiểu niệu, vô niệu, suy thận cấp và có thể dẫn 

đến tử vong. Suy thận cấp do sỏi là một bệnh 

lý  cấp  cứu  ngoại  khoa,  nguyên  nhân  thường 

gặp  là  do  sỏi  niệu  quản  2  bên  24  %,  sỏi  niệu 

quản  trên  thận  độc  nhất  11,1%,  sỏi  niệu  quản 

Nhiều  tác  giả  nghiên  cứu  cho  rằng  sỏi  niệu 

quản hai bên, nhất là sỏi niệu quản trên thận độc 

nhất cần phải được điều trị ngoại khoa sớm giải 

thời chức năng thận có thể hồi phục hoàn toàn. 

Nếu  không  được  điều  trị  hoặc  điều  trị  không 

đúng sẽ dẫn đến suy thận mạn tính phải điều trị 

thay thế thận. Điều trị suy thận cấp do sỏi, điều 

quan trọng nhất là phải kết hơp điều trị nội và 

ngoại  khoa.  Nếu  cần  thiết  phải  lọc  máu  ngoài 

Trước đây, điều trị sỏi niệu quản chủ yếu là 

mổ mở lấy sỏi. Ngày nay, bên cạnh các phương 

pháp can thiệp ít xâm hại: Nội soi lấy sỏi, tán sỏi 

ngoài  cơ  thể,  tán  sỏi  niệu  quản  nội  soi  ngược 

chiều. Trong đó, tán sỏi niệu quản nội soi ngược 

chiều  đã  thể  hiện  là  một  kỹ  thuật  ưu  việt  nhất 

đem lại hiệu quả tốt hơn và giảm tối đa tác hại 

trên  đường  tiết  niệu,  là  chỉ  định  hàng  đầu  cho 

tất cả vị trí sỏi niệu quản(6)

Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên 

cứu  tán  sỏi  niệu  quản  nội  soi  ngược  chiều  trên 

bệnh nhân suy thận cấp do sỏi niệu quản với tỷ 

Trong  tình  hình  Việt  Nam  hiện  nay,  liệu  chúng ta có thể áp dụng kỹ thuật tán sỏi nội soi  ngược chiều trên bệnh nhân suy thận cấp do sỏi  niệu  quản  có  an  toàn  và  hiệu  quả  không.  Việc  chỉ  định  tán  sỏi  nội  soi  ngược  chiều  thực  hiện  như  thế  nào  khi  bệnh  nhân  có  tình  trạng  suy  thận  cấp  tiến  triển  nhanh,  kể  cả  suy  thận  cấp  nặng và có nhiễm trùng niệu kèm theo. Mức độ  hồi phục chức năng thận như thế nào sau tán sỏi  nội soi. 

Hiện  nay  trong  nước  chưa  có  nghiên  cứu  đánh giá về kết quả phương pháp điều trị tán  sỏi  nội  soi  ngược  chiều  trên  bệnh  nhân  suy 

thận  cấp.  Vì  vậy,  đây  là  lý  do  để  chúng  tôi  thực hiện đề tài:”Đánh giá kết quả tán sỏi nội 

soi ngược chiều trên bệnh nhân suy thận cấp 

do sỏi niệu quản”. 

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 

Đánh  giá  kết  quả  chẩn  đoán,  chỉ  định  và  điều  trị  tán  sỏi  nội  soi  ngược  chiều  trên  bệnh  nhân suy thận cấp do sỏi niệu quản. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  Đối tượng nghiên cứu 

Gồm  27  bệnh  nhân  nhập  viện  tại  khoa  tiết  niệu Bệnh viện Chợ Rẫy và Bệnh viện Bình Dân,  được chẩn đoán suy thận cấp do sỏi niệu quản 

và được điều trị bằng phương pháp tán sỏi niệu 

quản nội soi ngược chiều. 

Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân 

Bệnh nhân được chẩn đoán là suy thận cấp 

do sỏi NQ: Sỏi NQ 2 bên, sỏi NQ trên thận độc  nhất, sỏi NQ một bên và một bên nguyên nhân 

Trang 3

Kích thước sỏi ≤ 15mm. 

Bệnh  nhân  suy  thận  nặng  được  lọc  máu 

ngoài  thận  ổn  định  (kali  máu  <  6,5  mmol/L  và 

creatinin huyết thanh < 8 mg/dL). 

Tất cả bệnh nhân được giãi thích và đồng ý 

tham gia nghiên cứu. 

Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân  

Bệnh  nhân  nhiễm  trùng  niệu  cấp  tính  chưa 

được điều trị kháng sinh. 

Bệnh nhân đang điều trị bệnh rối loạn đông 

máu  hoặc  đang  sử  dụng  heparine,  asprine, 

Levnox, Sintron… 

Bệnh nhân có dị tật hoặc u bướu đường tiết 

niệu, nhất là dị tật tiết niệu không đặt được máy 

nội soi niệu quản. 

Bệnh nhân suy thận nặng có kali máu cao > 

6,5  mmol/L  hoặc  creatinin  huyết  thanh  >  8‐  10 

mg/dL, chưa được lọc máu ngoài thận. 

Phương pháp nghiên cứu 

Mô tả loạt ca lâm sàng. 

Thực  hiện  tại  Bệnh  viện  Chợ  Rẫy  và  Bệnh 

viện Bình Dân.  

Thời  gian  từ  tháng  01  năm  2012  đến  tháng 

05 năm 2013. 

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 

‐ Tuổi trung bình: 49,19 tuổi (28‐75). 

‐ Nữ 11 (40,7%) và Nam 16 (59,3%). 

Chẩn đoán suy thận cấp sau thận do sỏi 

Lâm sàng 

‐ Đau lưng do bế tắc đường  tiết  niệu:  27/27 

(100%),  bên  phải  10  (37,0%)  và  bên  trái  11 

(40,7%). 

‐ Thiểu niệu và vô niệu: 27/27 (100%), thiểu 

niệu 16 (59,3%) và vô niệu 11 (47,7%). 

Theo Haowen Jiang, CS (2005), có 21 (77,8%) 

đau lưng, 24 (88,9%) thiểu niệu và 3 (11,1%) vô 

niệu và số ngày thiểu niệu là 2,5 ngày, vô niệu 1 

Ab Kader (2009), có 19/19 bệnh nhân (100%) vô 

Kết quả chúng tôi có 27 bệnh nhân, nhập viện vì  thiểu niệu là 59,3% (16 TH), vô niệu là 40,7% (11  TH)  và  đau  hông  lưng  có  tỷ  lệ  100%.  Kết  quả  chúng tôi có triệu chứng lâm sàng phù hợp với  kết quả nghiên cứu các tác giả trên. 

Chẩn đoán bế tắc đường tiết niệu 

Độ trướng nước thận trên siêu âm:  

‐  Độ  1:  bên  phải  7  (43,8%)  và  bên  trái  8  (36,4%). 

‐ Độ  2: 15 bên phải 8 (50,0%) và bên trái 12  (54,5%). 

‐  Độ  3:  15  bên  phải  1  (6,2%)  và  bên  trái  2  (9,1%). 

Giãn niệu quản trên sỏi: 

‐ Không giãn: bên phải 6 (37,5%) và bên trái 

6 (27,3%). 

‐ Có giãn: bên phải 10 (62,5%) và bên trái 16  (72,2%). 

Nồng độ Creatinine huyết thanh 

‐  Creatinin  huyết  thanh  lúc  nhập  viện:  2,97  mg/ dL (1,9‐4,7). 

‐  Creatinin  huyết  thanh  trước  tán  sỏi:  3,85  mg/ dL (2,6‐5,3). 

‐ Mức độ tăng creatinnin huyết thanh trung  bình: 0,88 mg/ dL (0,6‐1,6). 

Theo  Haowen  Jiang,  CS  (2005),  có  nồng  độ 

Mohammad  S.  Ab  Kader  (2009),  có  nồng  độ 

quả  chúng  tôi  nồng  độ  creatinine  huyết  thanh  trước  tán  sỏi  trung  bình  3,85  mg/dL  (2,6‐5,3),  phù  hợp  với  kết  quả  nghiên  cứu  của 

chẩn đoán suy thận cấp sau thận do sỏi, chủ yếu  dựa  vào  bệnh  cảnh  lâm  sàng  cấp  cứu  với  tình  trạng  thiểu  niệu  và  vô  niệu  100%  (27  TH)  và  creatinin huyết thanh lúc nhập viện nhỏ nhất là  1,9 mg/dL, mức tăng trung bình creatinin huyết  thanh  lúc  nhập  viện  và  trước  tán  sỏi  là  0,88  mg/dL  (0,6‐1,6)  và  Kết  quả  của  chúng  tôi  phù 

Trang 4

hợp  kết  quả  nghiên  cứu  tác  giả  Mohammad  S. 

Độ thanh lọc cầu thận 

‐ Trước tán sỏi: 20,56 ml/ phút (13,5 – 29,7). 

Chẩn đoán nguyên nhân suy thận cấp sau 

thận do sỏi niệu quản  

Tiền căn niệu khoa  

Sỏi thận: 4 (14,8%), mổ sỏi thận 10 (37,0%). 

Cắt  thận  5  (18,5%)  và  thận  độc  nhất  10 

(37,0%). 

Chẩn đoán hình ảnh  

Vị  trí  sỏi:  bên  phải  5  (18,6%),  bên  trái  11 

(40,7%) và hai bên 11 (40,7%). 

Kích thước sỏi: Bên phải: ngang: 7,25 mm (5‐

11),  dọc:  10,06  mm  (6‐15).  Bên  trái:  ngang:  7,59 

mm (5‐12), dọc: 10,09 mm (7‐15). 

Nguyên nhân suy thận cấp 

Sỏi  niệu  quản  2  bên  40,8%  (11  TH),  sỏi  NQ 

trên thận độc nhất 37,0% (10 TH), sỏi niệu quản 

1 bên và 01 bên là: sỏi thận là 7,4 % (2 TH), sỏi bể 

thận đối bên 3,7% (1 TH), hẹp khúc nối bể thận 

niệu  quản  đối  bên  3,7%  (1  TH)  và  thận  teo  đối 

bên là 7,4 % (2 TH). Theo TANG Zheng‐yan, CS 

(2006), có 9 (69,2%) trường hợp sỏi NQ 2 bên, 2 

(15,4 %) thận độc nhất, 1 (7,7%) thận teo đối bên 

sỏi NQ trên thận độc nhất là 20,4 %. Mohammad 

sỏi  NQ  trên  thận  độc  nhất  là  26,3  %.  Nguyên 

nhân suy thận cấp do sỏi niệu  quản  của  chúng 

tôi phù hợp với kết quả nghiên cứu của các tác 

giả trên. 

Các rối loạn sinh hoá do suy thận cấp  

Kali máu 

‐ Lúc nhập viện: 4,14 mmol/L (3,0‐7,0). 

‐ Trước tán sỏi: 3,79 mmol/L (2,5‐5,0). 

Dự trữ kiềm trong máu 

Thực  hiện  trên  24  bệnh  nhân,  chiếm  tỷ  lệ 

88,8%. 

‐ Lúc nhập viện: 21,0 mEq/L (15,0‐26,0). 

Triệu chứng nhiễm trùng niệu 

‐ Bạch cầu máu lúc nhập viện: 10,58 G/L (6,3‐ 15,5). 

‐ Bạch cầu máu trước tán sỏi:  9,74  G/L  (6,3‐ 12,5). 

‐ Bạch cầu niệu âm tính: 12/27 (44,4%). 

‐ Bạch cầu niệu dương tính: 11/27 (40,8%). 

‐ Cấy nước tiểu: 4/27 TH, dương tính 3 TH, 

âm tính 1 TH. 

Điều trị tán sỏi nội soi ngược chiều  

Điều trị hỗ trợ nội khoa trước tán sỏi 

kali  máu  tăng  từ  5,6  –  6,3  mmol/L  trong  12/27  bệnh nhân là 44,4 % và lọc máu ngoài thận cấp  cứu cho 3,7% (1/27) bệnh nhân có kali máu trước  tán sỏi là 6,3 mmol/L, sau lọc máu kali máu giảm 

kali  máu  tăng  từ  5,6‐6,8  mmol/L  gặp  12  bệnh  nhân  (44,4%),  tác  giả  chỉ  định  lọc  máu  ngoài  thận  khi  kali  máu  >  6,5  mmo/L.  Chúng  tôi  lọc  máu ngoài thận cho 1 trường hợp trước tán sỏi  với kali 7,0 mmol/L, chiếm tỷ lệ 3,7 %, creatinine  lúc  nhập  viện  là  3,4  mg/dL  tăng  lên  4,6  mg/dL  với kali máu 7,0 mg/dL. Sau lọc máu ngoài thận  creatinine huyết thanh trước tán sỏi là 4,1 mg/dL 

và nồng độ kali máu là 4,1 mmol/L. Kết quả điều  trị hỗ trợ lọc máu ngoài thận trước tán sỏi nội soi  của  chúng  tôi,  phù  hợp  với  kết  quả  của  các  nghiên cứu trên. Chúng tôi có 01 bệnh nhân toan  máu  trước  tán  sỏi,  chiếm  tỷ  lệ  3,7  %,  creatinine.HT  lúc  nhập  viện  4,0  mg/dL,  kali  4,9  mmol/L  và  dự  trữ  kiềm  15  mEq/  L.  Bệnh  nhân  không có biểu hiện rối loạn hô hấp, chúng tôi chỉ  điều  trị  nội  khoa  bằng  truyền  dịch  Natri 

bicarbonate 1,4 %.  

Điều trị nhiễm trùng niệu  

Về  đánh  giá  nhiễm  trùng  niệu:  05  trường  hợp có triệu chứng sốt chiếm tỷ lệ 18,5 % và 01  trường  hợp  tiểu  gắt  lúc  nhập  viện  3,7%,  tất  cả  đều có bạch cầu niệu dương tính (1TH + và 5 TH  ++) và bạch cầu máu < 11 G/L (1 TH), > 11 G/L (3  TH), > 15 G/L (2 TH). Trong đó cấy nước tiểu 4  trường hợp, có 03 trường hợp dương tính với vi 

Trang 5

khuẩn  Proteus  Mirabilus  (1  TH),  Enterobacter 

Cloaeaec  (2  TH).  Chúng  tôi  dùng  kháng  sinh 

cephalosporin  thế  hệ  III  tiêm  tỉnh  mạch  cho  tất 

cả  27  bệnh  nhân,  với  kết  quả  sau:Lâm  sàng 

không  có  triệu  chứng  nhiễm  trùng  niệu:  kháng 

sinh tỉnh mạch trước tán sỏi 40,7% (11 TH). Lâm 

sàng  có  triệu  chứng  nhiễm  trùng  niệu:  kháng 

sinh  tỉnh  mạch  12  –  24  giờ  trước  tán  sỏi  44,5% 

(12 TH). Nghi ngờ nhiễm trùng niệu + cấy nước 

tiểu:  vì  bệnh  cấp  cứu  không  thể  chờ  kết  quả 

kháng sinh đồ (3‐4 ngày sau cấy). Nên chúng tôi 

dùng  kháng  sinh  theo  kinh  nghiệm,  nhiều  tác 

giả  khuyên  dùng  phối  hợp  nhiều  loại  kháng 

sinh  phổ  rộng  có  tác  dụng  tức  thì  bằng  đường 

tỉnh  mạch,  tiến  hành  tán  sỏi  nội  soi  và  sau  mổ 

dùng  kháng  sinh  theo  kết  quả  kháng  sinh  đồ 

14,8% (4 TH). Theo Haowen Jiang, CS (2005), có 

7/27 trường hợp bạch cầu niệu dương tính, tỷ lệ 

là  25,9  %,  tác  giả  dùng  kháng  sinh  Rocephin 

Nguyễn  Văn  Học  lâm  sàng  có  triệu  chứng 

nhiễm trùng niệu, dùng kháng sinh trước tán sỏi 

ít nhất 12‐24 giờ. Kết quả của chúng tôi, bạch cầu 

niệu  dương  tính  là  40,8  %  (11  TH)  và  1  trường 

hợp  tiểu  gắt  lúc  nhập  viện.  Những  trường  hợp 

này  chúng  tôi  đều  dùng  kháng  sinh 

Cephalosporin thế  hệ  III,  đường  tỉnh  mạch  trước 

tán sỏi 12‐ 24 giờ. Kết quả của chúng tôi phù hợp 

với  kết  quả  của  Haowen  Jiang,  CS  (2005)  và 

những  trường  hợp  không  có  biểu  hiện  triệu 

chứng  nhiễm  trùng  niệu  trên  lâm  sàng,  dùng 

kháng sinh đường tỉnh mạch một liều trước khi 

tán  sỏi.  Theo  SiXiang  Yang,  CS  (2008),  tác  giả 

dùng kháng sinh cefuroxim 1 gram x 2 tiêm tỉnh 

mạch  trước  tán  sỏi  cho  tất  cả  bệnh  nhân  trước 

không  có  triệu  chứng  lâm  sàng  nhiễm  trùng 

niệu, những trường hợp này chúng tôi đều dùng 

kháng sinh Cephalosporin thế hệ III trước tán sỏi. 

Kết quả của chúng tôi phù hợp với kết quả của 

nghiên cứu của chúng tôi không thực hiện được 

nuôi cấy nước tiểu có hệ thống, tương tự tác giả 

Vì nhiều lý do khách quan bệnh nhân nhập viện  với vô niệu không có nước tiểu hoặc không phát  hiện triệu chứng nhiễm trùng niệu trên lâm sàng  nên  chúng  tôi  không  làm  xét  nghiệm  cấy  nước  tiểu một cách hệ thống. Tuy nhiên chúng tôi cấy  nước tiểu cho 04 trường hợp trước và trong lúc  tán sỏi, trong đó có 02 trường hợp cấy nước tiểu  dương  tính  với  Enterobacter  Cloaeaec  và  01  trường hợp dương tính với Proteus Mirabilis và 

01 trường hợp âm tính (sau 7 ngày không mọc vi  khuẩn). Những trường hợp trên chúng tôi dùng  kháng  sinh  theo  kinh  nghiệm,  nhiều  tác  giả  khuyên  dùng  phối  hợp  nhiều  loại  kháng  sinh  phổ  rộng  có  tác  dụng  tức  thì  bằng  đường  tỉnh  mạch, tiến hành tán sỏi nội soi và sau mổ dùng  kháng sinh theo kết quả kháng sinh đồ 14,8% (4 

TH). 

Điều trị tán sỏi nội soi 

Chỉ định tán sỏi niệu quản nội soi ngược chiều 

27 bệnh nhân, mổ cấp cứu chiếm tỷ lệ 88,9 %  (24 TH), mổ bán cấp 11,1 %.(3 TH). Thời gian từ  nhập viện đến phẫu thuật < 12 giờ 33,3% (9 TH), 

< 24 giờ 55,6% (15 TH) và > 24 giờ 11,1% (3 TH). 

Vô cảm và tư thế phẫu thuật 

27/27 trường hợp tê tuỷ sống và trường hợp  27/27 tư thế sản phụ khoa. 

Kết quả đặt máy nội soi 

Một trường hợp viêm phù nề quanh miệng  niệu  quản,  không  tìm  thấy  miệng  niệu  quản  không đặt được máy vào niệu quản, có xẽ niêm  mạc  bàng  quang  nhưng  vẫn  không  tìm  thấy  miệng niệu quản. Hai trường hợp hẹp niệu quản  dưới sỏi 1/3 dưới, chiếm tỷ lệ 7,4%, xử trí nong  niệu quản bằng máy soi niệu quản 8,5F và 9,5Fr 

và 01 trường hợp chít hẹp niệu quản dưới sỏi 1/3  trên,  chiếm  tỷ  lệ  3,7%,  nong  niệu  quản  thất  bại 

và không đặt được thông JJ. Một trường hợp sỏi 

bám dính chặt niêm mạc niệu quản, chiếm tỷ lệ  3,7%, xứ trí tán sỏi một phần tạo đường hầm đặt  thông  JJ.  Trong  27  bệnh  nhân  chúng  tôi  có  01  trường  hợp  không  tán  được  sỏi,  chiếm  tỷ  lệ  3,7%.  Trường  hợp  này  không  tìm  được  miệng  niệu  quản  do  viêm  phù  nề  niêm  mạc  bàng 

Trang 6

quang  xung  quanh  miệng  niệu  quản.  Như  vậy 

tổng  số  bệnh  nhân  chúng  tôi  tán  sỏi  niệu  quản 

nội soi là 26 bệnh nhân. 

Các thủ thuật trong tán sỏi 

‐ Tán sỏi, lôi sỏi: 7 (26,9%). 

‐ Tán sỏi một phần đặt JJ: 2 (7,7%). 

‐ Nong niệu quản tán sỏi: 3 (11,6%). 

Kết quả tán sỏi theo bên 

‐ Bên phải: 7 (26,9%). 

‐ Bên trái: 13 (50,0%). 

‐ Hai bên: 6 (23,1%). 

Theo  Haowen  Jiang,  CS  (2005),  đã  tán  sỏi 

nội  soi  cho  22  TH  (81,5%)  sỏi  niệu  quản  2 

Mohammad S. Ab‐Kader (2009), đã tán sỏi nội 

SiXiang Yang, CS (2008), đã tán sỏi nội soi cho 

chúng tôi chỉ định tán sỏi niệu quản 2 bên cho 

11  trường  hợp,  chiếm  tỷ  lệ  là  40,7  %.  Kết  quả 

chúng tôi phù hợp với kết quả các tác giả trên. 

Đối vối chỉ định tán sỏi niệu quản 2 bên. Theo 

tác  giả  SiXiang  Yang,  CS  (2008)  tán  sỏi  niệu 

quản  nội  soi  ngược  chiều  trên  bệnh  nhân  suy 

thận  cấp,  điều  quan  trọng  là  giãi  quyết  tắc 

nghẽn và phục hồi chức năng thận, nên cần kết 

thúc nhanh thời gian tán sỏi và không cần thiết 

phải tán hết sỏi trong một lần đối với sỏi niệu 

tác  giả  SiXiang  Yang,  CS  (2008).  Mục  tiêu  của 

chúng  tôi  là  giãi  quyết  bế  tắc  niệu  quản  cấp 

tính  cho  bệnh  nhân  để  khắc  phục  tình  trạng 

suy thận cấp  hiện  tại.  chúng  tôi  tiến  hành  tán 

sỏi  từng  bên  một  theo  nguyên  tắc  chọn  tán 

trước  bên  sỏi  nhỏ,  vị  trí  thấp,  ít  trướng 

nước(18,4). Điều kiện thuận lợi tốt nhất là tán sỏi 

cả  2  bên,  nếu  không  thuận  lợi  chỉ  tán  sỏi  một 

bên và cố gắng đặt được thông JJ 2 bên. 

Kết quả tán sỏi theo kích thước sỏi 

‐ Sỏi niệu quản bên phải: 9,23 mm (6‐12). 

‐ Sỏi niệu quản bên phải: 9,74 mm (7‐12). 

Theo  TANG  Zheng‐yan,  CS  (2006)  chỉ  định  tán  sỏi  cho  cả  3  vị  trí  với  kích  thước  sỏi  trung  bình  8,7mm  (7‐13)  (lớn  nhất  ≤  13mm),  nhiều 

chúng  tôi  có  kích  thước  dọc  trung  bình  sỏi  bên  phải là 9,23 ± 0,52 mm (6 ‐12) (lớn nhất ≤ 12mm) 

và bên trái là 9,74 ± 0,36 mm (7 ‐12) (lớn nhất ≤  12mm),  tán  sỏi  cho  cả  3  vị  trí  sỏi  chủ  yếu  tập  trung ở 1/3 dưới bên phải là 87,5 % (14 TH) và  bên trái 59,1 %. Kết quả chỉ định tán sỏi nội soi  của  chúng  tôi  về  kích  thước  phù  hợp  với  chỉ 

Kết quả tán sỏi nội soi 

Tốt 81,5%, trung bình 14,8%, thất bại 3,7%. 

Kết quả sau tán sỏi nội soi 

Kết quả về thời gian tán sỏi trung bình 

27,5 phút (15‐45) phụ thuộc nhiều vào động  tác thành thục và kỹ năng đặt máy soi và tán sỏi 

(2005),  có  thời  gian  tán  sỏi  trung  bình  29,2 

Yang, CS (2008), có thời gian tán sỏi trung bình 

của chúng tôi phù hợp với tác giả trên. 

Tổn thương niệu quản sau tán sỏi 

Trầy  xước  niêm  mạc  NQ:  2  (7,7%).  Theo 

Mohammad  S.  Ab‐Kader  (2009),  có  6  (31,5%)  trầy  xước  niêm  mạc,  đái  máu  nhẹ  đến  trung  bình 9 (47,4%) hết tự nhiên trong 1 ngày, sốt cao 

Kết quả chúng tôi có 02 (7,7%) trường hợp nong  hẹp niệu quản, tổn thương trầy xước niêm mạc  niệu quản, những trương hợp này chúng tôi đều  đặt  lưu  thông  JJ.  Sau  tán  sỏi  chúng  tôi  có  2  trường hợp nước tiểu đỏ 7,7 % và 9 trường hợp  nước tiểu đỏ lợt 34,6%, các trường hợp này màu  sắc nước tiểu trở lại bình thường sau 4 ngày, mà  không phải can thiệp điều trị. Kết quả chúng tôi 

phù hợp với kết quả các tác giả trên. 

Kết quả màu sắc nước tiểu sau tán sỏi 

Đỏ lợt: 9 (34,6%), Đỏ: 2 (7,7%). 

Trang 7

‐ Hậu phẫu ngày 1: < 2000 ml: 18 (69,2%) và 

> 3000 ml: 3 (11,5%). 

‐ Hậu phẫu ngày 2: < 2000 ml: 13 (50,0%) và 

> 3000 ml: 8 (30,8%). 

‐  Số  ngày  lượng  nước  tiểu  bình  thường 

trung bình 6,42 ± 0,22 ngày, nhiều nhất 8 ngày, 

ít nhất 4 ngày. 

trong  1  ngày  với  3.200‐7.600  ml/24  giờ. 

Mohammad S. Ab‐Kader (2009), có lượng nước 

tiểu  ngày  hậu  phẫu  ngày  thứ  1  là  3000‐

6500ml/24  giờ  trở  về  bình  thường  (1500‐

phụ thuộc vào mức độ và thời gian bế tắc. Theo 

4500ml/24 giờ trở về bình thường 7 ngày. Theo 

Trương Hoàng Minh, triệu chứng đa niệu (nước 

tiểu > 3.000 ml/24 giờ) xảy ra từ ngày hậu phẫu 

thứ  1  đến  ngày  thứ  5  sau  khi  giãi  phóng  bế 

nước tiểu > 3.000 ml/24 giờ hậu phẫu ngày thứ 1 

và  30,8%  (8  TH)  lượng  nước  tiểu  >  3.000  ml/24 

giờ hậu phẫu ngày thứ 2, lượng nước tiểu trở lại 

bình thường trung bình 6,46 ± 1,09 ngày, ít nhất 

là 4 ngày  và  nhiều  nhất  là  8  ngày.  Kết  quả  của 

chúng  tôi  phù  hợp  với  kết  quả  nghiên  cứu  của 

các tác giả trên. 

Chức năng thận sau tán sỏi  

Kết quả creatinin  huyết  thanh  bình  thường, 

sau  xuất  viện  7  ngày  (26,9%),  sau  1  tháng 

(76,9%)  và  sau  3  tháng  (96,1%).  Theo  Haowen 

chỉ  số  creatinine  trở  lại  giá  trị  bình  thường,  17 

bệnh nhân (63,0%) sau 3 ngày và 26 bệnh nhân 

(96,3%)  trong  7  ngày,  sau  12  tuần  là  26  bệnh 

nhân (96,3%) có 01 bệnh nhân 3,7 % chức năng 

thận  không  hồi  phục,  nguyên  nhân  do  thận 

trướng nước to trước tán sỏi. Mohammad S. Ab‐

lại  bình  thường  7‐10  ngày.  SiXiang  Yang,  CS 

(93,8%) trong vòng 7 ngày, 3 trường hợp thận ứ 

nước  to,  chức  năng  thận  không  phục  hồi  sau  3  tháng.  Kết  quả  chúng  tôi  chỉ  số  creatinin  huyết  thanh trở lại  bình  thường  sau  xuất  viện  7  bệnh  nhân (26,9%), sau 1 tháng 20 bệnh nhân (76,9%) 

và  sau  3  tháng  có  25  bệnh  nhân  (96,1%),  có  01  trường hợp creatinine huyết thanh không trở lại  giá trị bình thường sau 3 tháng, nguyên nhân do  thận  trướng  nước  độ  III  trước  tán  sỏi.  Kết  quả  của chúng tôi phù hợp với tác giả Haowen Jiang, 

Kết quả tán sỏi thành công và thất bại  

Tỷ  lệ  thành  công  sau  3  tháng  là  92,6%  và  thất  bại  7,4%.  Kết  quả  tỷ  lệ  thành  công  của  chúng  tôi  là  92,6  %  có  khả  quan  và  phù  hợp 

với các tác giả TANG Zheng‐yan, CS (2006), là 

nhiên, tham khảo tỷ lệ thành công của các tác  giả  tán  sỏi  bằng  khí  nén  (xung  hơi)  như: 

thành  công  khá  tốt  từ  90,6%  và  Yan  Xinbiao, 

bằng  năng  lượng  laser  tuy  có  nhiều  ưu  điểm  hơn  xung  hơi  như  khả  năng  tán  nát  sỏi  cao  hơn có thể cắt bỏ polype dưới sỏi, thời gian tán  sỏi  có  thể  ngắn  hơn.  Nhưng  trang  bị  chi  phí  cao hơn, do đó dựa trên kết quả này các bệnh  viện tuyến tỉnh đã có khoa thận nhân tạo thì có  thể thực hiện tán sỏi niệu quản trên bệnh nhân  suy thận cấp bằng năng lượng xung hơi vẫn có 

tỷ lệ thành công cao mà trang bị ít tốn kém và 

độ bền cao hơn.Về nguyên nhân thất bại, tham  khảo  các  tác  giả  chúng  tôi  thấy  nguyên  nhân  thường gặp nhất là do sỏi chạy lên thận trong  quá trình tán sỏi. Ít hơn là nguyên nhân thủng  đứt  niệu  quản  phải  xử  trí  bằng  phẫu  thuật  khác. Chúng tôi không  có  trường  hợp  nào  sỏi  chạy lên thận, 01 trường hợp thất bại do không  tìm  được  miệng  niệu  quản  và  không  tiếp  cận 

chúng  tôi  là  bệnh  nhân  L.  Thế  T.  nhập  viện  ngày 22/9/2012 vì lý do tiểu máu + sốt, sau đó 

vô niệu, được chẩn đoán là vô niệu do sỏi NQ 

Trang 8

viện là 4,7 mg/dL và bạch cầu máu nhập viện 

là 15,5 G/L, kết quả siêu âm hệ niệu với thận P 

trướng nước độ I, thận T trường nước độ II, sỏi 

NQ 1/3 dưới 2 bên kích thước lớn nhất 15mm. 

Bệnh  nhân  được  chỉ  định  tán  sỏi  nội  soi  cấp 

cứu và kháng sinh  trước  tán  sỏi  là  ceftaxidin  2 

gam tiêm tỉnh mạch. Trong lúc tán sỏi đưa dây 

dẫn đường lên niệu quản phải thấy nước  tiểu 

đục chảy xuống, được xử trí nội soi đặt thông 

JJ  phải.  Tiến  hành  tìm  niệu  quản  trái,  dù  cố 

gắng nhiều lần nhưng không tìm được miệng 

niệu quản trái, ngưng tán sỏi bệnh nhân được 

cấy nước tiểu trong lúc tán sỏi và kết quả ngày 

1/10/2012 dương tính với vi khuẩn Enterbacter 

cloacea  nhạy  với  Imipenem.  Bệnh  nhân  được 

tiến hành phẫu thuật lần 2 vào ngày 1/10/2012 

với chẩn đoán hẹp niệu quản chậu trái do sỏi, 

trong  lúc  nội  soi  tìm  miệng  niệu  quản  trái  có 

xẽ  niêm  mạc  bàng  quang  nhưng  vẫn  không 

tìm thấy miệng niệu quản, ngưng thủ thuật lên 

chương trình mổ mở. Bệnh nhân được mổ mở 

lấy sỏi niệu quản trái chậu và đặt thông JJ trái 

ngày 15/10/2012. Trong lúc mổ, niệu quản trái 

trướng  nở,  sỏi  nằm  vị  trí  sát  thành  bàng 

quang,  bệnh  nhân  xuất  viện  ngày  23/10/2012. 

Trong  trường  hợp  này  chúng  tôi  thấy  rằng, 

bệnh  nhân  có  tình  trạng  nhiễm  trùng  niệu  đã 

lâu do sỏi niệu quản trái chậu gây bế tắc viêm 

dính niệu quản dưới sỏi. Nguyên nhân không 

tìm  thấy  miệng  niệu  quản  thường  ít  gặp 

nhưng  đây  là  nguyên  nhân  khách  quan  có 

nhiều tác giả cũng gặp như: Dương văn Trung, 

Ngọc Anh, Trần Minh Đạo, Sái Văn Đức (2004) 

gặp  1/115  (0,9%)  trường  hợp  không  tìm  thấy 

2/144 (1,4%) trường hợp không tìm thấy miệng 

chúng  tôi  nhận  thấy,  khi  chỉ  định  tán  sỏi  nội 

soi  mà  tình  trạng  bệnh  nhân  nghi  ngờ  nhiễm 

trùng  niệu  với  kích  thước  sỏi  to  15  mm  hai 

bên, chúng ta nên thận trọng khi chỉ định. 

KẾT LUẬN 

Chẩn  đoán  suy  thận  cấp  sau  thận  do  sỏi  niệu quản  

27/27  trường  hợp  có  thiểu  niệu  và  vô  niệu.  27/27 trường hợp đều có thận trướng nước trên  siêu âm. Creatinin huyết thanh lúc nhập viện ≥  1,5 mg/dL, mức độ tăng creatinin huyết thanh > 

0,5 mg/dL.  Với  sỏi niệu quản 2 bên chiếm tỷ lệ 

40,8 %, sỏi niệu quản trên thận độc nhất 37,0%,  sỏi niệu quản và sỏi thận đối bên 7,4%, sỏi niệu  quản và sỏi bể thận đối bên 3,7%, sỏi niệu quản 

và hẹp khúc nối bể thận niệu quản đối bên 3,7%, 

sỏi niệu quản và thận teo đối bên 7,4%. 

Kết quả điều trị trước tán sỏi nội soi 

Điều trị hỗ trợ nội khoa trước tán sỏi   Chỉ định lọc máu ngoài thận 01 trường hợp 

tỷ  lệ  3,7  %,  chỉ  định  điều  trị  toan  hoá  máu  01 

trường hợp tỷ lệ 3,7 %. 

Đánh giá điều trị nhiễm trùng niệu  trước  tán  sỏi  

Không  có  triệu  chứng  nhiễm  trùng  niệu:  dùng kháng sinh tỉnh mạch trước tán sỏi 40,7% 

(11 TH). Có triệu chứng nhiễm trùng niệu: dùng 

kháng  sinh  tỉnh  mạch  12  –  24  giờ  trước  tán  sỏi 

44,5% (12 TH). 

Kết quả tán sỏi nội soi ngược chiều 

‐ Chỉ định tán sỏi  

+ Không có nhiễm trùng niệu hoặc đã được  điều trị ổn định. 

+  Mức  độ  suy  thận:  Creatinin.HT  ≤  5,3  mg/dL, Kali máu ≤ 5 mmol/L. 

+ Kích thước sỏi niệu quản ≤ 12 mm.  

+  Vị  trí  sỏi  NQ  1/3  trên  (5,3%),  1/3  giữa  (23,7%), 1/3 dưới (71%) và sỏi NQ 2 bên (40,7%). 

‐ Về Kết quả thời gian tán sỏi 

Thời gian tán sỏi trung bình 27,5 phút (15‐45). 

‐ Về kết quả tán sỏi nội soi 

Tốt 81,5 %, trung bình 14,8 % và kém 3,7%.  Một  trường  hợp  thất  bại  không  tiếp  cận  được  sỏi, chiếm tỷ lệ 3,7%. 

Kết quả sau tán sỏi nội soi ngược chiều 

Trang 9

Có  02  trường  hợp  xây  sát  niêm  mạc  niệu 

quản do nong niệu quản, chiếm tỷ lệ 7,4 % và 02 

trường hợp tiểu đỏ sau tán sỏi 7,4 %. 

Sự hồi phục chức năng thận 

Kết quả creatinin  huyết  thanh  bình  thường, 

sau xuất viện (26,9%), sau 1 tháng (76,9%) và sau 

3 tháng (96,1%), Kết quả tán sỏi sau 3 tháng, tỷ lệ 

thành công là 92,6 % và thất bại là 7,4%.  

Tán  sỏi  niệu  quản  nội  soi  ngược  chiều  trên 

bệnh nhân suy thận cấp sau  thận  do  sỏi  NQ  là 

một phẫu thuật ít xâm hại, hoàn toàn khả thi với 

tính an toàn và hiệu quả cao. 

KIẾN NGHỊ 

Chỉ định tán sỏi 

‐ Không có nhiễm trùng niệu hoặc đã được 

điều trị ổn định. 

‐ Mức độ suy thận: creatinin.HT ≤ 5,3 mg/dL, 

Kali máu ≤ 5 mmol/L. 

‐ Kích thước sỏi niệu quản ≤ 12 mm.  

‐ Vị trí sỏi NQ 1/3 trên, 1/3 giữa, 1/3 dưới và 

sỏi niệu quản 2 bên. 

Chỉ định lọc máu ngoài thận trước tán sỏi 

‐ Khi kali máu >6,5 mmol/L. 

Các bệnh viện tuyến tỉnhcó khoa thận nhân 

tạo, có thể thực hiện tán sỏi nội soi ngược chiều 

trên  bệnh  nhân  suy  thận  cấp  bằng  năng  lượng 

xung hơi vẫn đạt kết quả thành công cao. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

Ahmed  ME,  Medhat  AA  (2007),”  Ureteroscopic  holmuim 

laser  lithotripsyin  patients  with  renal  Impairment”  in  Urol 

Neprol (2008) 40, pp. 15‐17.  

Ureteroscopy, W.B. Saunders Company, Philadelphia, pp. 7‐

30.  

(2004),”  Kết  quả  tán  sỏi  niệu  quản  qua  nội  soi  tại  khoa  Tiết 

niệu‐bệnh viện Saint Paul Hà Nội”, Tạp chí Y học thực hành, 

công  trình  nghiên  cứu  khoa  học  hội  nghị  ngoại  khoa  toàn 

quốc, Bộ Y tế xuất bản, Số 419, tr. 582 ‐ 585.  

biến  chứng  trong  tán  sỏi  niệu  quản  nội  soi  ngược  dòng”, 

Luận án Tiến sĩ Y học, Học viện Quân y, tr. 96 ‐ 108.  

xét kết quả tán sỏi niệu quản bằng phương pháp nội soi tại 

khoa ngoại – Bệnh viện 198”, Tạp chí Y học thực hành, công  trình nghiên cứu khoa học hội nghị ngoại khoa toàn quốc, Bộ 

Y tế xuất bản, số 491, tr. 555 ‐ 558.  

giá kết quả phẫu thuật tán sỏi niệu quản nội soingược dòng  bằng xung hơi”, tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, tr. 45 ‐ 62. 

YAG lasre lithtripsy as Emergency Treatment for Acute Renal  Failure  Caused  by  Impacted  Ureteral  Calculi”  urology.  2008.05.041, pp. 504‐507.  

Ibrahim BH, Mohammad AH, Yazian H (2011),” Emergency  ureteroscopic  lithotripsy  in  acute  renal  colic  caused  by  ureteral calculi: a retrospective study” Urol Res 2011 ( 39), pp.  497‐501.  

adults  caused  by  ureteric  stones;  by  using  of  uerteroscopy  and  holmium  laser”,  ArabJournal  of  Urology‐volume  9,  September 2011, pp. 179‐182.  

xuất bản Y học, tr. 244 ‐ 248.  

bằng laser và xung hơi”, Luận văn tốt nghiệp chuyên khoa II,  Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh, tr. 32 ‐ 61. [11] 

soi xung hơi trong sỏi niệu quản khảm”, Luận văn tốt nghiệp  Thạc sĩ Y học. Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh, tr. 58 ‐ 59.  

Emergency  ureteroscopic  treatment  for  upper  urinary  tract  calculi obstruction associated with acute renal Failure: feasible 

or not?ʺ, 2011. Nov; 24( 11):1721‐4.Epub 2010 Oct 19, Hospital 

of Wuhan University, Journal of endourology, pp. 1721‐1724.  

extracorporeal shock wave lithotripsy and ueteroscopy in the  treatment of ureteral calculi: a prospective study”, Eur Urol, 

36 ( 5), pp. 376‐379.  

laser  lithotripsy  underureteroscopy  for  treating  urinary  calculi combined with acute renal failure”, J Cent South Univ  (Med Sci), 2006, 31 ( 1), pp. 241‐246.  

và điều trị phẫu thuật bệnh sỏi thận và niệu quản ở người có  thận đơn độc”, Luận án phó tiến sĩ y học, Học viện Quân y, tr. 

67 ‐72.  

khoa, Tập 2, Nhà xuất bản Y học Hà nội, tr. 140‐145.  

Các  phương  pháp  chẩn  đoán  và  điều  trị  sỏi  tiết  niệu,  Nhà  xuất bản Y học Hà Nội. tr. 128 ‐ 139.  

khoa,  Tài  liệu  học  tập  cho  Đại  Học,  Cao  Học,  Nghiên  Cứu  Sinh”, Nhà xuất bản Mũi Cà Mau, tr. 83 ‐ 130.  

Niệu khoa lâm sàng, Tài liệu học tập cho đại học và trên đại  học, Trường Đại học Y Dược TP.HCM, tr. 45 ‐ 56.  

(2010),”  Điều  trị  suy  thận  cấp  sau  thận”,  Đề  tài  nghiên  cứu  khoa học tại Bệnh viện nhân dân 115. Kỹ yếu Nội khoa số đặc  biệt, Bệnh viện nhân dân 115, tr. 103 – 112.  

án Thạc sỹ Y học, Đại học Y Dược TP.Hồ Chí Minh, tr. 22 ‐ 38.  

Trang 10

tốt nghiệp Bác sĩ nội trú, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. 

Tr. 73 ‐ 81.  

lâm sàng và kết quả điều trị sỏi niệu quản 2 bên”, Luận văn 

tốt nghiệp BS chuyên khoa II, Đại học Y Hà Nội, tr. 136 ‐ 142.  

upper  urinary  tract  obstruction  caused  by  stones  and  acute 

renal  failure  in  clinical  application”,  March  9,  2011,  Chinese  Journal Full‐text Database. Clinical data, pp. 123‐ 130.  

 

Ngày nhận bài báo: 15/11/2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo: 21/11/2013  Ngày bài báo được đăng : 05/01/2014 

 

Ngày đăng: 22/01/2020, 21:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w