1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hạ phospho máu trong lọc máu tĩnh mạch - tĩnh mạch liên tục ở bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng có suy thận cấp

5 55 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 248,57 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hạ phospho máu thường gặp trong nhiễm khuẩn nặng, đặc biệt trong lọc máu tĩnh mạchtĩnh mạch liên tục. Hạ phospho máu gây ra những rối loạn hô hấp, tim mạch và có liên quan với tỉ lệ tử vong. Vì vậy, nghiên cứu với mục tiêu nhằm tìm hiểu về đặc điểm của hạ phospho máu trong lọc máu liên tục và đánh giá liệu hạ phospho máu có kết hợp với tỉ lệ tử vong trong nhiễm khuẩn nặng có suy thận cấp hay không?

Trang 1

HẠ PHOSPHO MÁU TRONG LỌC MÁU TĨNH MẠCH-TĨNH MẠCH LIÊN TỤC Ở BỆNH NHÂN NHIỄM KHUẨN NẶNG CÓ SUY THẬN CẤP

Hoàng Văn Quang*, Nguyễn Thị Thảo Sương*

TÓM TẮT

Mở đầu: Hạ phospho máu thường gặp trong nhiễm khuẩn nặng, đặc biệt trong lọc máu tĩnh

mạch-tĩnh mạch liên tục Hạ phospho máu gây ra những rối loạn hô hấp, tim mạch và có liên quan với tỉ lệ tử vong

Mục tiêu: nghiên cứu đặc điểm của hạ phospho máu trong lọc máu liên tục và đánh giá liệu hạ

phospho máu có kết hợp với tỉ lệ tử vong trong nhiễm khuẩn nặng có suy thận cấp hay không?

Phương pháp: Tiến cứu mô tả cắt ngang trên 30 bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng suy thận cấp được

lọc máu liên tục từ 1/2013-4/2014 tại khoa Hồi sức tích cực chống độc, bệnh viện Thống Nhất

Kết quả: Tỉ lệ tử vong là 60% Nhóm tử vong có tỉ lệ sốc nhiễm khuẩn, điểm APACHE II cao hơn

nhóm sống Phospho máu trước lọc bình thường, không khác biệt giữa 2 nhóm Trong lọc máu, hạ phospho máu thường ở mức độ nhẹ và vừa, không có sự kết hợp với tử vong (p = 0,09) Hạ phospho máu sớm trước 6 giờ chủ yếu xảy ra ở nhóm tử vong (91,7%), có sự liên quan với tỉ lệ tử vong (OR: 17,28; 95% CI: 1,81-164,9; p = 0,004)

Kết luận: Hạ phospho máu trong lọc máu liên tục chủ yếu là mức độ nhẹ và vừa Mức độ hạ

phospho máu không liên quan đến tỉ lệ tử vong (p = 0,09) Hạ phospho sớm trong vòng 6 giờ có liên quan đến tỉ lệ tử vong (OR 17,28; p = 0,004)

Từ khóa: Hạ phospho máu, nhiễm khuẩn nặng, lọc máu tĩnh mạch-tĩnh mạch liên tục

ABSTRACT

HYPOPHOSPHATEMIA DURING CONTINUOUS VENO-VENOUS HEMOFILTRATION

IN SEVERE SEPSIS WITH ACUTE RENAL FAILURE

Hoang Van Quang, Nguyen Thi Thao Suong

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 18 - No 3- 2014: 154-157

Background: Hypophosphatemia is usually present in severe sepsis, especially in continuous veno-venuous

hemofiltration patients Hypophosphatemia causes disorders of respiratory, cardiac function and is associated with mortality

Objective: to determine characteristics of hypophosphatemia in hemofiltration and its association with

mortality in severe sepsis with acute renal failure

Methods: Cross – sectional study We conducted 30 severe sepsis patients with ARF had received CVVH

therapy from 1/2013-4/2014 at ICU of Thong Nhat hospital

Results: The mortality was 60% No survivors had prevalence of septic shock and APACHE II higher than

survivors Pre- hemofiltration phosphatemia level in two groups was normal During hemofiltration, phosphatemia decreased to mild or moderate level but it was not associated with mortality (p = 0.09) Early

* Khoa hồi sức tích cực bệnh viện Thống Nhất Tp Hồ Chí Minh

Trang 2

hypophosphatemia (before 6h) was mainly in no survivors (91.7%) and associated with mortality ( OR: 17.28; 95% CI: 1.81-164.9; p = 0.004)

Conclusion: Hypophosphatemia during hemofiltration was not severe and not associated with mortality (p =

0.09) Early hypophosphatemia had a 17.28 -fold increase in mortality

Keywords: Hypophosphatemia, severe sepsis, continuous veno-venuous hemofiltration

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hạ phospho máu là rối loạn điện giải thường

gặp trong 80% bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng,

đặc biệt là trong lúc lọc máu liên tục(8) Hậu quả

của giảm phospho máu là làm mất chức năng cơ

hô hấp, giảm co bóp cơ tim, rối loạn thần kinh

cơ, là làm tăng tỉ lệ tử vong(6) Một số bệnh lý

thường gây ra rối loạn này đó là nhiễm khuẩn

nặng, chấn thương, sau phẩu thuật, suy dinh

dưỡng, kiềm hô hấp, toan ceton do đái tháo

đường, đặc biệt là lọc máu kéo dài Tỉ lệ hạ

phospho máu trong lọc máu liên tục dao động

từ 54-65% trường hợp(4), nhưng chưa có số

liệu nào được công bố chính thức tại Việt

Nam Ngày nay, lọc máu liên tục được sử

dụng rộng rãi trong nhiễm khuẩn nặng, đặc biệt

khi có suy thận cấp góp phần cải thiện đáng kể

kết quả điều trị(6) Tuy vậy, kỹ thuật này cũng

gây ra rối loạn điện giải mà hạ phospho máu là

biến chứng rất thường gặp Nghiên cứu này

nhằm mục tiêu đánh giá đặc điểm hạ phospho

máu trong lọc máu liên tục và xác định liệu hạ

phospho máu có kết hợp với tỉ lệ tử vong hay

không?

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng hoặc sốc

nhiễm khuẩn suy thận cấp được lọc máu liên tục

có hạ phospho máu tại khoa HSTC-CĐ Bệnh

viện Thống Nhất TPHCM từ 1/2013 – 4/2014

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Bao gồm tiêu chuẩn nhiễm khuẩn nặng và

tiêu chuẩn suy thận cấp:

* Tiêu chuẩn nhiễm khuẩn nặng: Gồm tiêu

chuẩn nhiễm khuẩn + tiêu chuẩn suy tạng(4)

* Tiêu chuẩn sốc nhiễm khuẩn: Gồm tiêu chuẩn nhiễm khuẩn + tụt HA không đáp ứng với bù dịch(1)

* Tiêu chuẩn suy thận cấp: dựa theo tiêu chuẩn đồng thuận RIFLE 2004: tổn thương thận cấp và suy thận cấp(2)

Tiêu chuẩn loại trừ

* Cường hoặc suy tuyến cận giáp

* Bệnh ống thận mạn

* Toan ceton do rượu

* Toan ceton do đái tháo đường

Tiêu chuẩn hạ phospho máu (3)

* Bình thường: 0,80 - 1,45 mmol/L

* Mức độ nhẹ: 0,65 - 0,80 mmol/L

* Mức độ trung bình: 0,32 - 0,65 mmol/L

* Mức độ nặng: < 0,32 mmol/L

Thiết kế nghiên cứu

Tiến cứu mô tả cắt ngang

- Ghi nhận đặc điểm chung của bệnh nhân: Tuổi, giới, bệnh mạn tính đi kèm, tiêu điểm nhiễm khuẩn, phospho máu trước lọc, điểm APACHE II, điểm SOFA

- Tiến hành kỹ thuật lọc máu liên tục: máy PRISMA FLEX

Mode lọc CVVH

* Tốc độ dòng máu: 150mL/kg/phút

* Tốc độ dịch thay thế > 35mL/kg/giờ

* Có chống đông hoặc không

* Sử dụng dịch thay thế Duosol 5 lít/túi không chứa phospho

- Theo dõi thường qui các chỉ số huyết học, đông máu mỗi 6 giờ

- Ghi nhận thời gian kéo dài lọc máu

- Xét nghiệm phospho máu trước lọc, sau lọc

6 giờ, 12 giờ, 24 giờ

Trang 3

- Đánh giá thời điểm hạ phospho máu,

- Ghi nhận các triệu chứng liên quan hạ

phospho máu, mức độ hạ nặng hoặc nhẹ

- Kết quả điều trị sống, tử vong

* Xử lý số liệu theo SPSS 16.0

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Từ 1/2013 - 4/2014, 30 bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng có tổn thương thận cấp được lọc máu liên tục, có hạ phospho máu Tỉ lệ tử vong

là 18/30 (60%)

Đặc điểm chung của các bệnh nhân như sau:

Bảng 1: Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân nghiên cứu

Bệnh mạn tính đi kèm

Nhận xét: Trước lọc máu, cả 2 nhóm đều có

phospho máu trong giới hạn bình thường, do đó

khi lọc máu nếu có hạ phospho máu thì đó là

biến chứng của kỹ thuật này

Nghiên cứu của Santiago(5) cho thấy lọc máu

liên tục làm tăng thanh thải phosphat do có

TLPT thấp, điều này thường xảy ra khi tốc độ

siêu lọc cao, thời gian lọc máu càng kéo dài Tốc

độ siêu lọc trong nghiên cứu của chúng tôi

tương đối cao > 40ml/kg/giờ, thời gian lọc máu

cũng không có sự khác biệt giữa 2 nhóm cho nên

kết quả nghiên cứu sẽ không bị nhiễu bởi các

yếu tố này

Nhóm tử vong có tỉ lệ sốc nhiễm khuẩn cao

hơn, điểm APACHE II cao hơn có ý nghĩa so với

nhóm sống, điều này cho thấy nhóm bệnh nhân

này có bệnh lý nặng hơn nên có ảnh hưởng một

phần đến kết quả điều trị Điều này phù hợp với

tất cả các nghiên cứu trước đây, trong đó sốc

nhiễm khuẩn có tỉ lệ tử vong 40-60%, khi có kèm

suy đa tạng thì tăng lên 60-80%, tử vong càng

tăng khi APACHE II càng cao(1)

Nghiên cứu của Shor 2006(6) trên 55 bệnh

nhân nhiễm khuẩn nặng, tác giả nhận thấy hạ

phospho máu nặng có tỉ lệ tử vong cao hơn hạ

phospho máu không nặng (80,8% so với

34,5%), và nguy cơ tử vong tăng lên đến 8 lần (OR = 7,98; 95% CI = 2,3 – 27,6) Nghiên cứu của Yang 2013 trên 760 bệnh nhân hạ phospho máu trong lọc máu liên tục, Tác giả nhận thấy

hạ phospho máu thậm chí mức độ nặng không phải là yếu tố kết hợp độc lập với tỉ lệ tử vong ngày 28 với p=0,7(8)

Bảng 2: Mức độ hạ phospho máu giữa 2 nhóm:

Nhận xét: Hạ phospho máu gặp chủ yếu là mức độ nhẹ và trung bình, chúng tôi chưa gặp trường hợp nào hạ phospho máu nặng < 0,32 mmol/L, và mức độ giảm phospho máu không

có liên quan đến tỉ lệ tử vong (p=0,09)

Các hướng dẫn cho rằng chỉ điều trị khi hạ phospho máu nặng và có triệu chứng, việc bổ sung phospho tĩnh mạch sẽ giúp cải thiện tỉ lệ tử vong(5) Chúng tôi có 3 trường hợp hạ phospho <

4 mmol/L, mặc dù không có triệu chứng nhưng được điều trị bằng truyền Phocytan tĩnh mạch với tố độ 20 mmol/giờ và thấy có cải thiện tốt ở lần xét nghiệm kế tiếp

Trang 4

Bảng 3: Thời điểm hạ phospho máu trong lọc máu

liên tục:

Nhận xét: Hạ phospho máu trong vòng 6 giờ

đầu chủ yếu gặp ở nhóm tử vong, và có sự khác

biệt có ý nghĩa giữa 2 nhóm (p = 0,004) Chúng

tôi nghĩ rằng có thể do khả năng huy động

phospho từ nơi khác như xương bị hạn chế

trong giai đoạn đầu, huy động tốt hơn có thể xảy

ra trong những giai đoạn muộn hơn đề bù lại sự

giảm phospho dự trữ Tuy vậy bệnh nhân không

tử vong sớm mà thường sau vài ngày khi

phospho máu đã ổn định, do đó liệu kết quả

điều trị có bị ảnh hưởng bởi mức độ bệnh quá

nặng, và hạ phospho máu là dấu hiệu thường

gặp trong lọc máu liên tục giai đoạn sớm? Hạ

phospho máu thường do 3 nguyên nhân: giảm

hấp thu ruột, tăng bài tiết qua thận, tái phân bố

phospho đi vào tế bào, và mức độ giảm phospho

máu không phản ánh chính xác dự trữ phospho

máu Lọc máu liên tục làm thanh thải nhanh

phospho trong máu, nên dễ làm hạ phospho

sớm hơn(8)

Bảng 4: Liên quan giữa hạ phospho máu với tỉ lệ

tử vong:

Lower Upper

Nhận xét: Có mối liên quan giữa hạ phospho

máu sớm trong vòng 6 giờ đầu với tỉ lệ tử vong

(p = 0,004) Điều này nhấn mạnh mức độ hạ

phospho máu không quan trọng bằng thời gian

xuất hiện hạ phospho máu Rất ít nghiên cứu

đánh giá liên quan giữa thời điểm hạ phospho

với tử vong, tuy vậy Yi Yang 2013(8) đặc biệt

nhấn mạnh đến thời gian kéo dài của hạ

phospho mới là quan trọng Nghiên cứu cho

thấy tỉ lệ số ngày hạ phospho máu / số ngày lọc

máu > 0,58 sẽ làm tăng tỉ lệ tử vong ngày 28 lên

1,48 lần (95% CI 1.103–1.910,p = 0,008)

Nghiên cứu của chúng tôi vẫn còn những hạn chế Đầu tiên là số lượng bệnh nhân vẫn còn

ít do đó kết quả thống kê không đủ mạnh, thứ hai là thời gian lọc máu liên tục không kéo dài (19 giờ ở nhóm sống và 32 giờ ở nhóm tử vong)

do đó chúng tôi chỉ đánh giá trong vòng 24 giờ,

mà không có điều kiện đánh giá vai trò của hạ phospho máu kéo dài trong những ngày sau đó

KẾT LUẬN

Nghiên cứu 30 bệnh nhân nhiễm khuẩn nặng suy thận cấp được lọc máu liên tục có giảm phospho máu, chúng tôi kết luận:

- Hạ phospho máu trong lọc máu liên tục chủ yếu là mức độ nhẹ và vừa, chưa có trường hợp nào mức độ nặng

- Mức độ hạ phospho máu không liên quan đến tỉ lệ tử vong (p = 0,09)

- Hạ phospho sớm trong vòng 6 giờ có liên quan đến tỉ lệ tử vong với OR 17,28 (p = 0,004)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Angus DC, Poll (2013), Severe Sepsis and Septic Shock N Engl J Med 369:840-51.

2 Bellomo R, Ronco C, Kellum JA, Mehta RL, Palevsky P, ADQI workgroup: Acute renal failure: definition, outcome measures, animal models, fluid therapy and information technology needs: the Second International Consensus Conference of the Acute Dialysis Quality Initiative (ADQI) Group Crit Care 2004,8: R204–R212

3 Geerse et al (2010), Treatment of hypophosphatemia in the intensive care unit: a review Critical Care, 14: R147

4 RENAL Replacement Therapy Study Investigators, Bellomo R

et al (2009), Intensity of continuous renal-replacement therapy

in critically ill patients N Engl J Med, 361:1627–1638

5 Santiago MJ et als (2009), Hypophosphatemia and phosphate supplementation during continuous renal replacement therapy in children Kidney International (2009) 75, 312–316

6 Shor R, Halabe A, Rishver S, Tilis Y et als (2006), Severe hypophosphatemia in sepsis as a mortality predictor Ann Clin Lab Sci 2006, 36:67-72

7 Troyanov S, Geadah D, Ghannoum M, Cardinal J, Leblanc M: Phosphate addition to hemodiafiltration solutions during continuous renal replacement therapy Intensive Care Med

2004, 30:1662–1665

8 Yang et al (2013), Hypophosphatemia during continuous veno-venous hemofiltration is associated with mortality in critically ill patients with acute kidney injury Critical Care, 17: R205

Ngày nhận bài báo: 11-04-2014 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 20-04-2014 Ngày bài báo được đăng: 20 – 05 – 2014

Trang 5

CÁC YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG VIÊM PHỔI BỆNH VIỆN

DO ACINETOBACTER BAUMANNII Ở NGƯỜI CAO TUỔI

Nguyễn Xuân Vinh*, Lê Thị Kim Nhung*

TÓM TẮT

Mở đầu: Người cao tuổi có những biến đổi đặc trưng do hiện tượng lão hóa làm cho cơ thể dễ bị tổn thương

hơn Viêm phổi bệnh viện xảy ra ở người cao tuổi thường nặng hơn người trẻ và đặc biệt do A.baumannii có dự hậu xấu hơn các tác nhân khác

Mục tiêu: Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này nhằm xác định các yếu tố tiên lượng trong viêm phổi

bệnh viện do khuẩn A baumannii

Phương pháp nghiên cứu: Cắt ngang mô tả, chẩn đoán viêm phổi bệnh viện theo tiêu chuẩn Hội Lồng

ngực Hoa Kỳ (ATS) 2005.

Kết quả: Có 98 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn được đưa vào nghiên cứu: 75 bệnh nhân (76,5%) là nam giới, 23

bệnh nhân (23,5%) là nữ.Tuổi trung bình: 80,38 ± 8,37 tuổi, cao nhất 96 tuổi Kết quả điều trị có 45,9% điều trị thành công với lâm sàng cải thiện hoặc khỏi bệnh và tỷ lệ tử vong chung 41,8% Trong nhóm bệnh nhân tử vong,

có 86,1% nguyên nhân tử vong do viêm phổi, còn lại là tử vong do những nguyên nhân khác (13,9%) Các yếu

tố tiên lượng nặng, làm tăng tỷ lệ tử vong đó là: thở máy (RR = 6,11, p = 0,001), nhiễm vi khuẩn đa kháng thuốc (RR = 6,68, p = 0,001), sử dụng kháng sinh không phù hợp (RR = 3,24, p = 0,001) Không có sự khác biệt về tỷ lệ

tử vong giữa các nhóm tuổi (p =0,815)

Kết luận: 45,9% bệnh nhân điều trị thành công, tỷ lệ tử vong 41,8% Các yếu tố tiên lượng nặng, làm tăng

tỷ lệ tử vong đó là: thở máy (RR = 6,11, p = 0,001), nhiễm vi khuẩn đa kháng thuốc (RR = 6,68, p = 0,001), sử dụng kháng sinh không phù hợp (RR = 3,24, p = 0,001)

Từ khóa: Viêm phổi bệnh viện, Acinetobacter baumannii, đa kháng thuốc

ABSTRACT

THE PRONGOSTIC FACTORS OF NOSOCOMIAL PNEUMONIA DUE TO ACINETOBACTER BAUMANNII IN THE ELDERLY

Nguyen Xuan Vinh, Le Thi Kim Nhung

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 18 - No 3- 2014: 158-162

Background: The older adults have special changes due to the aging Nosocomial pneumonia among elderly

patients is more severe than the Youngers, especially A.baumannii infection has worse prognosis than other agents

Objective: We conducted this research to determine prognostic factors of A.baumannii HAP

Methods: Cross-sectional study Diagnosis of HAP based on the criteria of American Thoracic Society–

ATS, 2005

Results: There are 98 patients who were enrolled in the study 75 patients (76.5%) were male, 23 patients

(23.5%) were female Mean age: 80.38 ± 8.37 years, the highest age 96 The successful treatment rate was 45.9% Mortality rate was 41.8% In the group of patients who died, 86.1% have cause of death from pneumonia The prognostic factors that increased mortality were: mechanical ventilation (RR = 6.11, p = 0.001), multi-drug resistant bacterial infections (RR = 6.68, p = 0.001), use of inappropriate antibiotics (RR = 3.24, p = 0.001) No

Ngày đăng: 22/01/2020, 21:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w