1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Lỗ dò miệng - xoang do răng: Báo cáo nhân hai trường hợp

7 90 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 441,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu với mục tiêu nhằm trình bày bệnh lý lỗ dò miệng xoang sau nhổ răng. Qua đó, nêu lên phương pháp phẫu thuật đóng kín lỗ dò miệng - xoang bằng kỹ thuật nắp xoay vòm miệng kết hợp với nạo vét lấy bỏ mô viêm trong xoang hàm và rút ra nhận xét những ưu, nhược điểm cũng như hiệu quả của phương pháp này.

Trang 1

LỖ DÒ MIỆNG – XOANG DO RĂNG: BÁO CÁO

NHÂN HAI TRƯỜNG HỢP

Thái Phương Phiên*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Trình bày bệnh lý lỗ dò miệng–xoang sau nhổ răng Qua đó, nêu lên phương pháp phẫu thuật

đóng kín lỗ dò miệng–xoang bằng kỹ thuật nắp xoay vòm miệng kết hợp với nạo vét lấy bỏ mô viêm trong xoang hàm và rút ra nhận xét những ưu, nhược điểm cũng như hiệu quả của phương pháp này

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu ca lâm sàng lỗ dò miệng–xoang sau nhổ răng tại khoa tai mũi họng

bệnh viện tỉnh Ninh Thuận

Kết quả: Hai trường hợp lỗ dò miệng–xoang được phẫu thuật đóng kín lỗ dò bằng kỹ thuật nắp xoay vòm

miệng đều cho kết quả tốt

Kết luận: Lỗ dò miệng–xoang do răng là một bệnh lý hiếm gặp, có nhiều phương pháp phẫu thuật đóng kín

lỗ dò, nếu không lưu ý chọn phương pháp điều trị thích hợp sẽ dễ dẫn đến thất bại trong điều trị

Từ khóa: Lỗ dò miệng–xoang, nắp xoay vòm miệng

ABSTRACT

TWO CASES OF ORO-ANTRAL COMMUNICATION BY TOOTH

Thai Phuong Phien * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 1 - 2012: 217 – 223

Purpose: Presenting oro-antral communication after tooth extraction Past due, raising the surgical method

to aim closing oro-antral communication with the technique of palatal transposition flap associated with curetting

to remove inflamed tissues in the antrum and remarking on the advantages, disadvantages and effectiveness of this approach

Methods: Case study of oro-antral communication after tooth extraction at ENT Ninh Thuan provincial

hospital

Results: Two cases of oro-antral communication operated by palatal transposition flap have recognized good

results

Conclusions: Oro-antral communication affected by teeth is a rare disease There are many surgical methods

in order closing fistula If we don’t notice the suitable method, the treatment can be failed

Keywords: Oro-antral communication, palatal transposition flap

ĐẶT VẤN ĐỀ

Dò miệng–xoang là một lỗ dò thông từ

khoang miệng lên xoang hàm trên, nó được

hình thành do biến chứng sau khi nhổ răng hàm

trên hoặc do khối u hoặc nhiễm trùng xương(8)

Dò miệng–xoang thường ít gặp và ít gây

nguy hiểm đến tính mạng bệnh nhân nhưng gây

ảnh hưởng rất lớn đến sinh hoạt, công việc và làm giảm chất lượng sống của bệnh nhân Việc điều trị dứt điểm lỗ dò miệng–xoang rất cần thiết cho bệnh nhân trong đó việc phẫu thuật đóng lỗ dò miệng–xoang là phương pháp điều trị then chốt

Việc đóng kín lỗ dò miệng–xoang giúp tái

* Khoa Tai Mũi Họng bệnh viện tỉnh Ninh Thuận

Tác giả liên lạc: BS CKII Thái Phương Phiên, ĐT: 0913709978, email: phientmhbvnt@gmail.com

Trang 2

lập lại cấu trúc bình thường của xoang hàm,

ngăn cách xoang hàm với khoang miệng giúp

niêm mạc xoang hàm trở lại trạng thái sinh lý,

chấm dứt viêm xoang hàm tái diễn và giúp

bệnh nhân trở lại với cuộc sống cộng đồng và

công việc

Trên thế giới, có nhiều nhà nghiên cứu đã

đưa ra phương pháp phẫu thuật đóng lỗ dò

miệng–xoang với nhiều cách khác nhau và kết

quả thành công rất cao

Tuy nhiên ở Việt Nam, cho đến những năm

gần đây chúng tôi vẫn chưa tìm thấy có bài viết

nào đăng trên các trang web, tạp chí y khoa

nhằm trình bày và nhận xét hiệu quả của các kỹ

thuật này

Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn đó, chúng tôi

tiến hành đề cập đến phương pháp phẫu thuật

này với mục tiêu: Trình bày phương pháp phẫu

thuật đóng kín lỗ dò miệng–xoang bằng kỹ

thuật nắp xoay vòm miệng kết hợp với phẫu

thuật nạo vét lấy bỏ mô viêm trong xoang hàm

và rút ra nhận xét những ưu, nhược điểm cũng

như hiệu quả của phương pháp này báo cáo

nhân hai trường hợp bệnh nhân điều trị tại khoa

tai mũi họng bệnh viện tỉnh Ninh Thuận

Sơ lược giải phẫu

Xoang hàm trên

Là xoang lớn nhất trong các xoang, mỗi

xương hàm trên có 1 xoang Mỗi xoang có một

trần, một đỉnh và ba thành Thành trong là

thành ngoài hố mũi Thành trước tương ứng với

mặt trước xương hàm trên.Thành sau là mặt

dưới thái dương của xương hàm trên Đỉnh là

mỏm gò má của xương hàm trên Trần là mặt ổ

mắt của xương hàm trên

Nền là mỏm huyệt răng của xương hàm

trên, xoang hàm trên liên quan trực tiếp với răng

cối lớn thứ nhất do đó sâu răng có thể dẫn đến

viêm xoang hoặc gây ra lỗ dò miệng–xoang sau

khi lấy bỏ răng này Niêm mạc xoang hàm trên

liên tục với niêm mạc của ổ mũi Lỗ của xoang

hình bầu dục đổ vào ngách mũi giữa ở phễu

xương sàng

Ổ miệng

Ổ miệng là phần đầu tiên của hệ tiêu hoá, chứa nhiều cơ quan như tuyến nước bọt, răng, lưỡi, có chức năng quan trọng trong nhai, tiết nước bọt, nuốt, nếm và nói

Phía trước thông với bên ngoài qua khe miệng Phía sau thông với hầu qua eo họng Các thành bên là má và môi Phía trên là khẩu cái cứng và khẩu cái mềm Phía dưới hay còn gọi là nền miệng có xương hàm dưới, lưỡi và vùng dưới lưỡi

Ổ miệng được chia làm hai phần bởi cung răng lợi Phía trong là ổ miệng chính, phía ngoài

là tiền đình miệng Tiền đình miệng là một khoang hình móng ngựa nằm giữa môi, má và cung răng lợi Ổ miệng chính có lưỡi di động, có các ống của tuyến nước bọt dưới hàm và dưới lưỡi đổ vào

Cung răng lợi gồm có lợi và răng Lợi che phủ tất cả các lỗ huyệt răng của xương hàm trên

và xương hàm dưới, được cấu tạo bởi mô xơ, phủ bởi niêm mạc và liên tục với niêm mạc tiền đình miệng ở phía ngoài và niêm mạc khẩu cái, nền miệng ở phía trong Răng là một cấu trúc đặc biệt có nhiệm vụ cắt, xé và nghiền thức ăn khi nhai Răng sữa chỉ mọc từ 6 tháng đến 30 tháng tuổi, có tất cả 20 răng sữa Răng vĩnh viễn bắt đầu thay thế răng sữa từ lúc 6 tuổi và hoàn toàn thay thế răng sữa khi 12 tuổi, có tất cả 32 răng vĩnh viễn

Nguyên nhân

Có nhiều nguyên nhân gây ra lỗ dò miệng– xoang nhưng nguyên nhân phổ biến nhất vẫn là sau khi răng hàm trên đựơc nhổ bỏ chiếm 48% Điều này được giải thích bằng mối quan hệ chặt chẽ giữa chân của những chiếc răng hàm trên với độ mỏng của nền xoang hàm Sau khi răng sâu được lấy bỏ, việc điều trị không tích cực, hố chân răng sau nhổ bị nhiễm trùng và hình thành

lỗ dò mệng-xoang về sau Tiếp theo là sau khi phẫu thuật lấy bỏ khối u hoặc u nang hàm trên chiếm 18,5%, nhiễm trùng xương là 11% Biến chứng của phẫu thuật xoang hàm trên bằng phương pháp Caldwell-luc chiếm 7,5% Chấn

Trang 3

thương chiếm 7,5%, u nang chân răng 3,7%,

chỉnh sửa lỗ vách ngăn chiếm 3,7%(8) Thông

thường lỗ dò có đường kính nhỏ hơn 2mm thì

tự đóng lại sau một thời gian ngắn với hỗ trợ

tích cực của thuốc kháng sinh chống nhiễm

trùng Nếu lỗ dò có đường kính lớn từ 2mm trở

lên thì sau một thời gian sẽ tiến triển thành

đường dò vĩnh viễn, cần phải can thiệp bằng

phẫu thuật để đóng lỗ dò lại(5)

Triệu chứng

Viêm xoang hàm do lỗ dò miệng–xoang là

tình trạng viêm niêm mạc xoang, không có

tổn thương xương Chỉ xoang hàm một bên

viêm nặng mà thôi do vi khuẩn từ khoang

miệng qua lỗ dò vào xoang Mủ chảy vào

mũi, có mùi hôi Bệnh thường gặp ở người

lớn do nhổ răng bị tai biến tạo thành đường

dò đưa vi khuẩn từ miệng vào xoang hàm

hoặc sau khi loại bỏ khối u và u nang xoang

hàm, nhiễm trùng xương, chấn thương…

Bệnh có thể biểu hiện dưới 2 thể:

Viêm xoang hàm cấp: Bệnh nhân thường sốt

cao, nhức đầu, mất ngủ, vật vã Đặc biệt là cơn

đau, đau từng cơn lan rộng cả hàm trên, mắt,

thái dương, trán Đau tăng khi cử động mạnh

hoặc khi người bệnh cúi đầu, đau lan đến các

răng hàm trên, ấn vùng dưới ổ mắt đau tăng

hơn Dịch chảy qua lỗ mũi bên xoang bị bệnh,

lúc đầu loãng sau trở thành nhầy mủ, mủ có

mùi thối Niêm mạc xoang sẽ bị viêm và một

thời gian sau xoang hàm có thể bị viêm mạn

tính Viêm xoang hàm mạn: Người bệnh đôi khi

mệt mỏi, nhức đầu, chảy mủ màu vàng xanh

bên bị bệnh, chảy nhiều vào buổi sáng sớm,

ngửi có mùi thối làm cho người bệnh buồn nôn,

đau ít hơn viêm xoang cấp, thường tắc mũi bên

xoang bệnh Thức ăn và nước uống thường theo

lỗ dò vào xoang và chảy ra mũi làm cho bệnh

nhân hay bị sặc mỗi khi ăn uống Niêm mạc

xoang dày lên và mất độ bóng

Các hình ảnh thực thể lỗ dò miệng–xoang:

(Hình 1)

Hình 1: Các hình ảnh lỗ dò miệng – xoang do biến

chứng sau nhổ răng

Cận lâm sàng

Hình ảnh XQ và CT scan: Niêm mạc xoang dày, lòng xoang có tụ dịch và đặc biệt là hình ảnh gián đoạn xương tại vị trí nền xoang nơi tiếp giáp với chân răng đã cho thấy một hình ảnh thông nhau giữa khoang miệng và xoang hàm trên (Hình 2)

Hình 2: Các hình ảnh xoang hàm tụ dịch và khuyết

xương do biến chứng sau nhổ răng

Phương pháp phẫu thuật

Về phần xoang hàm

Chúng tôi áp dụng phương pháp phẫu thuật tiệt căn xoang hàm (Phương pháp Caldwell–Luc(7))

Tiến hành vô cảm bằng lindocain 2% tiêm tê tại 4 điểm: Gây tê dây thần kinh hàm trên, gây tê dây thần kinh dưới ổ mắt, gây tê ở hố nanh và gây tê trong hốc mũi

Bộc lộ rãnh lợi môi, dùng dao rạch niêm mạc sát xuống tận xương hố nanh theo chiều ngang, bắt đầu từ vị trí cách dây hãm môi 1 cm,

Trang 4

rạch một đường dài 4 cm và cách bờ chân răng 1

cm

Đục mở xoang hàm

Lấy sạch các bệnh tích trong xoang

Đục mở lỗ dẫn lưu từ xoang sang mũi

Đặt bấc trong xoang dẫn lưu

Tiến hành phẫu thuật vùng khoang miệng:

Chúng tôi áp dụng phương pháp ph.ẫu

thuật đóng lỗ dò bằng kỹ thuật nắp xoay vòm

miệng(2,3,6,10,11)

Nạo vét sạch đường dò Lấy bỏ hết màng

nhầy, mô viêm cho tới mô khoẻ mạnh thì

ngưng

Dùng dao rạch niêm mạc vòm khẩu cái cạnh

lỗ dò theo hướng từ sau ra trước rồi quay vòng

về lại phía sau tạo thành hình parapol, kích

thước tương ứng với kích thước miệng lỗ dò

Sau đó bóc tách niêm mạc đến tận xương tạo

thành một mảnh ghép có cuống Xoay mảnh

ghép có cuống này đặt lên miệng lỗ dò giống

như một nắp xoay đậy kín miệng lỗ dò Dùng

chỉ khâu đính mép mảnh ghép và miệng lỗ dò

lại với nhau (Hình 3A,D,C,D)

Hút sạch dịch và máu ở trong ổ miệng và kết

thúc phẫu thuật

Hình 3: A: Lỗ dò miệng – xoang do răng B: Nạo vét

sạch đường dò và định dạng mảnh ghép C: Bóc tách

và xoay mảnh ghép đậy lên miệng lỗ dò D: Khâu

đính mép mảnh ghép và miệng lỗ dò lại với nhau

BÁO CÁO HAI TRƯỜNG HỢP

Trường hợp 1

Bệnh nhân: Nguyễn Văn P., 35 tuổi, nam

Địa chỉ: Phường Đài Sơn–TP Phan

Rang-Tháp Chàm tỉnh Ninh Thuận

Vào viện 8 h ngày 08 tháng 12 năm 2008

Lý do vào viện: Sưng đau má phải tái phát nhiều lần

Bệnh sử: Bệnh khởi phát cách ngày nhập viện 1 năm sau khi bệnh nhân đi nhổ răng sâu 1.6 về thì thường bị sưng đau má phải kèm chảy dịch mủ ra mũi phải có mùi hôi, điều trị nội khoa nhiều đợt nhưng bệnh không khỏi hẳn, thường hay tái phát nhiều lần, Cách ngày nhập viện 6 tháng bệnh nhân đi khám tại bệnh viện tuyến Trung Ương TP Hồ Chí Minh và được chẩn đoán là lỗ dò miệng–xoang do biến chứng sau nhổ răng 1.6, bệnh viện đã tiến hành phẫu thuật lấy sụn vách ngăn đóng lỗ dò nhưng kết quả thất bại và để lại biến chứng thủng vách ngăn mũi

Bệnh nhân vẫn bị viêm xoang hàm phải tái phát, có nước và thức ăn đi vào xoang, chảy ra mũi phải sau mỗi lần ăn uống, ảnh hưởng đến sinh hoạt và sức khỏe của bệnh nhân Lần này bệnh nhân xin vào nhập viện để được phẫu thuật điều trị

Thăm khám hiện tại:

Toàn thân: Tổng trạng trung bình, da và niêm mạc hồng, không sờ thấy hạch ngoại vi, không thấy biểu hiện thần kinh khu trú

Tại chỗ: Bệnh nhân không có biểu hiện triệu chứng viêm xoang điển hình, không đau nhức, không chảy dịch mủ, Tại vị trí răng 1.6 đã được nhổ bỏ có một lỗ dò, dùng que tăm dò thì thấy

lỗ dò thông lên xoang hàm phải

Cận lâm sàng: XQ và CT scan cho hình ảnh dày niêm mạc xoang hàm phải, khuyết xương tại vị trí nền xoang hàm phải nơi tiếp giáp với chân răng 16

Tường trình phẫu thuật Bệnh nhân được vô cảm tiền mê và gây tê tại chỗ bằng lindocain 2% Bộc lộ rãnh lợi môi trên, dùng dao rạch một đường ngang dài 4 cm cách dây hãm môi trên là 1cm và cách bờ chân răng 1

cm Bóc tách niêm mạc đến tận xương, bộc lộ hố nanh sau đó đục mở xoang hàm và lấy hết các

mô viêm trong xoang hàm và rửa sạch xoang

Trang 5

Đặt mèche dẫn lưu và khâu đóng niêm mạc

bằng chỉ cromic 4.0

Tiến hành nạo vét làm sạch đường dò, lấy

hết các chất nhầy dính và mô viêm

Dùng dao rạch niêm mạc vòm miệng từ sau

ra trước rồi quay vòng lại về phía sau vòm

miệng ngay cạnh miệng lỗ dò theo hình parapol

với kích thước chiều ngang tương ứng với kích

thước miệng lỗ

Sau đó bóc tách niêm mạc đến tận xương tạo

thành một mảnh ghép có cuống Xoay mảnh

ghép này đặt lên miệng lỗ dò giống như một

nắp xoay đậy kín miệng lỗ dò, khâu đính mép

mảnh ghép với miệng lỗ dò bằng chỉ vicryl 4.0

Sau mổ bệnh nhân được dùng kháng sinh

(Cefotaxim), kháng viêm (Medotase) và giảm

đau (Paracetamol) trong 10 ngày, vệ sinh răng

miệng hàng ngày bằng nước muối sinh lý,

không hỉ mũi và không hút thuốc lá Tái khám

sau 15 ngày, 1 tháng, 3 tháng

Sau 1 tháng bệnh nhân tái khám thì có kết

quả rất tốt: Lỗ dò đã được đóng hoàn toàn

Chấm dứt tình trạng viêm xoang hàm tái diễn

Trường hợp 2

Bệnh nhân: Nguyễn Minh B., 42 tuổi, nam

Địa chỉ: Phường Đô Vinh–TP Phan

Rang-Tháp Chàm tỉnh Ninh Thuận

Vào viện 8 h ngày 20 tháng 07 năm 2009

Lý do vào viện: Hay bị sặc trong lúc ăn

uống

Bệnh sử: Cách ngày nhập viện khoảng 2

năm, bệnh nhân có đi nhổ răng bị sâu 1.7 ở

phòng mạch tư Sau đó về nhà hay bị đau

nhức má phải kèm chảy dịch mũi phải có mùi

hôi, điều tri nội khoa nhiều đợt bệnh không

khỏi hẳn, hay tái phát và đặc biệt mỗi khi

bệnh nhân ăn uống là thức ăn và nước hay

chảy vào mũi gây sặc rất bất lợi cho sinh hoạt

hàng ngày vì vậy bệnh nhân xin nhập viện để

được phẫu thuật

Thăm khám hiện tại

Toàn thân: Tổng trạng trung bình, không phát hiện gì bất thường

Tại chỗ: Bệnh nhân không đau nhức, mũi khô, thông thoáng Tại vị trí răng 1.7 đã được lấy bỏ có một lỗ dò đường kính khoảng 8 mm Dùng que thăm dò thì thấy lỗ dò được thông lên xoang hàm trên cùng bên

Cận lâm sàng: XQ và CT scan cho hình ảnh dày niêm mạc, tụ dịch xoang hàm phải và hình ảnh khuyết xương tại vị trí nền xoang nơi tiếp giáp với răng 1.7

Tường trình phẫu thuật

Bệnh nhân được vô cảm tiền mê và gây tê tại chỗ bằng lindocain 2% Bộc lộ rãnh lợi môi trên, dùng dao rạch niêm mạc một đường ngang khoảng dài 4 cm Bóc tách niêm mạc đến tận xương, bộc lộ hố nanh sau đó đục mở xoang hàm và lấy hết các mô viêm trong xoang hàm và rửa sạch xoang Đặt meche dẫn lưu và khâu đóng niêm mạc bằng chỉ cromic 4.0

Sau đó mở khoét rộng đường dò lấy hết các chất nhầy dính và mô viêm làm sạch đường dò Tiếp theo dùng dao rạch niêm mạc vòm miệng từ sau ra trước ngay cạnh miệng lỗ dò theo hình parapol với kích thước chiều ngang tương ứng với kích thước miệng lỗ dò Sau đó bóc tách niêm mạc đến tận xương tạo thành một mảnh ghép có cuống Xoay mảnh ghép này đặt lên miệng lỗ dò giống như một nắp xoay đậy kín miệng lỗ dò, khâu đính mép mảnh ghép với miệng lỗ dò bằng chỉ vicryl 4.0

Sau mổ bệnh nhân được dùng kháng sinh, kháng viêm và giảm đau trong 10 ngày, vệ sinh răng miệng hàng ngày bằng nước muối sinh lý, không được hỉ mũi hoặc hút thuốc lá Tái khám sau 15 ngày, 1 tháng, 3 tháng thấy vết mổ liền sẹo tốt, lỗ dò được đóng hoàn toàn và không còn viêm xoang hàm tái phát

BÀN LUẬN

Dò miệng–xoang được hình thành nguyên nhân chủ yếu là do biến chứng sau nhổ răng hàm trên Các mối quan hệ giải phẫu liên quan

Trang 6

mật thiết giữa răng hàm trên với xoang hàm đã

lý giải được sự ảnh hưởng của răng hàm trên

sau khi được nhổ đi có ảnh hưởng rất lớn đến

xoang hàm Sau khi răng hàm trên kề cận xoang

hàm được lấy đi, kết hợp với các yếu tố ngoại

cảnh không tốt, vệ sinh răng miệng kém, thuốc

kháng sinh uống không đúng liều và thời

gian…Tại vị trí răng nhổ đi, lỗ dò được hình

thành, không khí, nước, thức ăn, vi khuẩn từ

khoang miệng sẽ đi vào xoang Lúc đầu sẽ gây

tình trạng bệnh lý viêm xoang hàm cấp, sau

nhiều lần tái phát và kéo dài sẽ chuyển sang

viêm xoang hàm mạn tính Nếu việc điều trị chỉ

tập chung vào điều trị bệnh viêm xoang mà

không tiến hành phẫu thuật đóng lỗ dò miệng–

xoang lại thì kết quả điều trị sẽ thất bại Chính vì

vậy để kết thúc vòng bệnh lý này, ngoài việc

điều trị viêm xoang hàm thì việc phẫu thuật

đóng cửa lỗ dò miệng–xoang luôn được ưu tiên

và quan tâm hàng đầu

Trong đề tài này, chúng tôi báo cáo dẫn

chứng hai trường hợp dò miệng–xoang đều có

nguyên nhân do nhổ răng Chúng tôi tiến hành

phẫu thuật xoang hàm tiệt căn, nạo vét lấy hết

các mô viêm và kết hợp với phẫu thuật đóng

cửa lỗ dò miệng–xoang bằng kỹ thuật nắp xoay

vòm miệng Như vậy vừa điều trị bệnh lý và

vừa giải quyết nguyên nhân Và kết quả sau

điều trị, cả hai trường hợp đều thành công tốt

đẹp và không gây biến chứng gì

Trong y văn Việt Nam cho đến nay chúng

tôi chưa tìm thấy tài liệu nào đề cập đến phương

pháp phẫu thuật này một cách có hệ thống

Tìm trong y văn thế giới đã có nhiều đề tài

ngiên cứu của nhiều tác giả đưa ra với nhiều

phương pháp phẫu thuật khác nhau nhưng đều

nhằm mục đích chung là đóng cửa lỗ dò miệng–

xoang và chấm dứt tình trạng viêm xoang hàm

tái diễn Năm 1936, Rehrmann lần đầu tiên công

bố một phương pháp đóng cửa lỗ dò miệng–

xoang bằng một kỹ thuật đơn giản và hiệu quả

đó là kỹ thuật nắp miệng Năm 1975 Killey và

Kay báo cáo thành công với kỹ thuật này là 93%

trường hợp(1) Tiếp theo lần lượt các kỹ thuật

khác ra đời như nắp xoay vòm miệng, nắp mỡ miệng, kỹ thuật ghép xương tự thân như dùng xương cằm để ghép phần xương bi khuyết của

lỗ dò hoặc kỹ thuật bánh sandwich như vừa ghép mô cứng (xương) và mô mềm….mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và nhược điểm của nó Trong đó phương pháp phẫu thuật đóng lỗ dò miệng–xoang bằng kỹ thuật nắp xoay vòm miệng là một kỹ thuật đơn giản, dễ thực hiện và hiệu quả rất cao Vào năm 1939, Ashley là người đầu tiên mô tả phương pháp phẫu thuật đóng lỗ dò miệng–xoang bằng kỹ thuật nắp xoay vòm miệng, sau đó nắp xoay vòm miệng đã được áp dụng rộng rãi và rất thành công và được chứng minh trong các tài liệu y tế thế giới(1,2,11). Do vị trí giải phẫu của nó nên nó có đặc điểm có lợi để sử dụng như một mảnh ghép nhỏ có cuống để tái tạo lại những khuyết tật trong khoang miệng đặc biệt là lỗ dò miệng–xoang do biến chứng sau nhổ răng Nắp xoay vòm miệng này có ưu điểm là độ dày cao,

có một lượng máu cung cấp rất tốt(3,10) Năm

1980, Ehrl kết luận rằng phương pháp này có thể

áp dụng đóng lỗ dò miệng–xoang có đường kính lớn hơn 1cm, đây cũng là một lợi thế của phương pháp này(4) Tuy nhiên phương pháp này cũng có một bất lợi nhỏ là làm cho bệnh nhân đau đớn, rỉ máu sau mổ và tạo sẹo làm mất độ bóng của vòm miệng về sau (1)

KẾT LUẬN

Dò miệng–xoang phần lớn là biến chứng sau nhổ răng gây nên, nó làm cho khoang miệng va xoang hàm thông thương với nhau từ đó mà không khí, nước, thức ăn, vi khuẩn từ khoang miệng xâm nhập vào xoang hàm trên làm cho tình trạng viêm xoang hàm tái phát nhiều lần, kéo dài và khó điều trị Việc đóng cửa lỗ dò miệng–xoang để chấm dứt tình trạng viêm xoang và khôi phục lại chức năng sinh lý mũi xoang là nhiệm vụ hàng đầu Và phương pháp phẫu thuật đóng lỗ dò miệng–xoang bằng kỹ thuật nắp xoay vòm miệng là phương pháp được ưu tiên chọn lựa Đây là một phương pháp đơn giản, dễ thực hiện và hiệu quả thành công

Trang 7

cao Nắp xoay để đóng lỗ dò có bề dày cao, có

mạch máu nuôi dưỡng tốt và có thể áp dụng để

đóng cửa một lỗ dò có kích thước lớn Hai

trường hợp báo cáo trong đề tài này đều có một

bệnh cảnh giống nhau, đều được áp dụng kỹ

thuật này và đã thành công tốt đẹp, không để lại

biến chứng gì Đây cũng là một minh chứng để

tiếp tục phát huy và áp dụng rộng rãi phương

pháp này trong việc tái tạo lại những khuyết tật

bên trong của khoang miệng mà đặc biệt là lỗ dò

miệng–xoang do biến chứng sau nhổ răng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Acta Stomat Croat, 2002, Treatment of Oroantral Fistula,

p135-140

rotationadvancement flap for delayed repair of oroantral fistula:

a retrospective evaluation of 63 cases Oral Surg Oral Med Oral

Pathol Oral Radiol Endod 2003; 96:527-34

3 Choukas NC Modified palatal flap technique for closure of oroantral fistulas J Oral Surg 1974; 32: 112-3

4 Ehrl PA Oroantral communication Epicritical study of 175 patients, with special concern to secondary operative closure Int

J Oral Surg 1980; 9: 351-8

5 Hirata Y, Kino K, Nagoya S, Miyamoto R, Yoshimasu H, Amagasa T.A clinical investigation of oro-maxillary sinus perforation due to tooth extraction Kokubyo Gakkai Zasshi 2001; 68: 249-53

6 Pedlar J, Frame JW , 2001 Oral and Maxillofacial Surgery, p: 214- 223

7 Lê Văn Lợi (2002) Các phẫu thuật thông thường tai mũi họng (tập 3), nhà xuất bản y học, tr.70-80

8 Ora- antral Communications, Mouth – Sinus - Holes, www.exodontia.info/OroAntralCommunication.html

9 Van den Bergh JP, ten Bruggenkate CM, Disch FJ, Tuinzing DB Anatomical aspects of sinus floor elevations Clin Oral Implants Res 2000Jun;11(3):256-65

10 Waldrop TC, Semba SE Closure of oroantral communication using guided tissue regeneration and an absorbable gelatin membrane J Periodontol 1993 Nov;64(11):1061-6

11 Ziemba RB Combined buccal and reverse palatal flap for closure

of oral-antral fistula J Oral Surg 1972; 30: 727-9.g

Ngày đăng: 22/01/2020, 21:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w