Mục tiêu của nghiên cứu này xác định các yếu tố dịch tễ bệnh động kinh trẻ em nhỏ hơn 15 tuổi tại Tỉnh Hậu Giang (từ 2004-2009), tỷ lệ các thể lâm sàng của bệnh động kinh cũng như tỷ lệ và kết quả điều trị. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết.
Trang 1ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ QUẢN LÝ ĐIỀU TRỊ, CHĂM SĨC BỆNH ĐỘNG KINH TRẺ EM DƯỚI 15 TUỔI
TẠI CỘNG ĐỒNG TỈNH HẬU GIANG (2004- 2009)
Vũ Anh Nhị*, Nguyễn Xuân Khơi**
TĨM TẮT
Mục tiêu: mục tiêu của nghiên cứu này xác định các yếu tố dịch tễ bệnh động kinh trẻ em <15 tuổi tại Tỉnh
Hậu Giang (từ 2004 - 2009), tỷ lệ các thể lâm sàng của bệnh động kinh cũng như tỷ lệ và kết quả điều trị
Phương pháp: Hồi cứu mơ tả cắt ngang theo dõi 140 bệnh động kinh trẻ em <15 tuổi từ năm 2004 đến
tháng 5/2009
Kết quả: Chúng tơi nghiên cứu 140 bệnh nhân động kinh (tuổi 11-15, nam: nữ= 1.2:1) ở tỉnh Hậu Giang
Dựa vào triệu chứng lâm sàng phân loại: động kinh cục bộ chiếm 26,5%, động kinh cục bộ phức tạp chiếm 2,9% Cơn co cứng co giật chiếm tỉ lệ nhiều nhất 49,3% Điện não đồ (EEG) ngồi cơn phát hiện 69,3% cĩ sĩng động kinh Bệnh nhân điều trị thuốc phenobarbital chiếm 98,6%, trong khi phenobarbital phối hợp với thuốc chống động kinh khác chiếm tỉ lệ 25,7% và 9,7% đơn trị liệu bằng Valproate Na Kết luận: Cơng tác điều trị và quản lý tốt đối với bệnh nhân động kinh phải được tuyên truyền sâu rộng trong quần chúng nhân dân, đặc biệt phải cĩ
sự quan tâm các Cấp ủy và ủy ban tại địa phương Dự án Chương trình Bảo vệ sức khỏe tâm thần cần phải tăng nguồn kinh phí để dự tốn mua thuốc chống tâm thần thế hệ mới: Na Valproat, Topiramate để cấp phát cho trẻ bệnh động kinh thay dần thuốc chống động kinh cổ điển (Phenobarbital, Phenyltoin…) nhằm giảm biến chứng
Từ khĩa: điều trị, tỉnh Hậu Giang
ABSTRACT
AN EVALUATION OF THE MANAGEMENT EFFECTS IN TREATMENT OF EPILEPSY CHILDREN
HEALTH CARE COMMUNITY IN HAU GIANG PROVINCE (2004-2009)
Vu Anh Nhi, Nguyen Xuan Khoi
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 1 - 2011: 680 - 685
Background: It was the aim of this study to determine the factors of patient’s seizures epidemiology less
than 15 years old in Hau Giang Province (from 2004 to 2009), the incidence of clinical seizures, as well as treatment outcome
Methods: One hundred-forty patients’seizure less than 15 years old were reviewed retrospectively,
cross-sectional study in Hậu Giang Province
Results: A total of 140 epilepsy patients (age range 11-15 years, M:F =1.2 :1) were studied in Hau Giang
Province Based on seizure symptomatology cases could be classified: 26.5% Of the partial seizures, and complex partial seizures for 2.9% Tonic-clonic seizures were the commonest of the generalized seizures, accounting for 49.3% of all cases The routine EEG outside of periods findings the percentage of classifiable seizures: 69.3% of wave epilepsy The patients were on phenobarbitone about 98.6%, while combination orther anticonvultion drugs 25.7% and 9.3% were on monotherapy with Vaproat Na
Conclusions: the management and possible treatment patient's seizures must be transmitted declare our
* Bộ mơn Thần Kinh, Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh
**Trung tâm Phịng Chống Bệnh Xã Hội – Hậu Giang
Tác giả liên lạc: BS Nguyễn Xuân Khơi ĐT: 0908412224 Email: bskhoihaugiang@yahoo.com.vn
Trang 2expanded population, special that must be concerned by the local government The project protect program mental health need to increase expense sources buying new generation drugs: Na Valprate, Topiramate to issue patients and replace classical anticonvultion drugs (phenobarbital, Phenyltoin ) in order to reduce complications
Keywords: treatment, Hau Giang province
ĐẶT VẤN ĐỀ
Động kinh được định nghĩa là bệnh lý ở não,
đặc trưng bởi sự phóng lực quá mức và đồng
thời của các neuron tế bào thần kinh ở não (cục
bộ hoặc lan tỏa) biểu hiện lâm sàng bằng những
cơn đột ngột nhất thời có khuynh hướng lập lại,
tính chất chu kỳ Nguy cơ bệnh động kinh ở trẻ
là rất cao, 50% cơn xuất hiện dưới 10 tuổi và tỷ lệ
này giảm nhanh theo tuổi(4) trẻ em có tỉ lệ bệnh
động kinh nhiều hơn người lớn
Tỉ lệ bệnh mới 0,036-0,04% dân mỗi năm,
động kinh 2/3 bắt đầu sớm ở trẻ em Ở Việt
Nam theo điều tra dịch tễ 10 bệnh rối loạn tâm
thần thường gặp của Chương trình CS SKTT
cộng đồng thì tỉ lệ mắc bệnh động kinh là
0,35% dân số(6) Hậu Giang là một trong những
Tỉnh được Ngành Tâm thần TW đưa Dự án
Bảo vệ sức khoẻ Tâm thần cộng đồng quản lý
bệnh động kinh tại cộng đồng từ khi chia tách
tỉnh đến nay "Đánh giá hiệu quả quản lý điều
trị, chăm sóc bệnh động kinh trẻ em tại cộng
đồng tỉnh Hậu Giang" là thách thức lớn nhất
cho công tác phòng chống bệnh xã hội nên đề
tài này cần phải được nghiên cứu Từ những
vấn đề thực tế trên, công trình nghiên cứu này
nhằm đánh giá lại hiệu quả quản lý, điều trị,
chăm sóc bệnh động kinh trẻ em <15 tuổi tại
cộng đồng của tỉnh
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Tất cả trẻ em có độ tuổi dưới 15 tuổi
Phương pháp nghiên cứu
Hồi cứu
Tất cả các bệnh án được chẩn đoán xác định
động kinh đã được theo dõi và điều trị tại tỉnh
Hậu Giang từ tháng 01 năm 2004 đến tháng 05
năm 2009
Mô tả cắt ngang: Tất cả các bệnh án xác định động kinh vào thời điểm tháng 06 năm 2009 tại tỉnh Hậu Giang
Điều tra xã hội học
Phỏng vấn theo phiếu bệnh án để xác định bệnh động kinh
Địa điểm nghiên cứu
Trên địa bàn tỉnh Hậu Giang
Phương pháp xử lý số liệu
Cỡ mẫu nghiên cứu
Theo công thức điều tra mô tả cắt ngang, cỡ mẫu là:
Z
21-2
a x p x (1-p)
N =
d2
Trong đó:
N: cỡ mẫu cần nghiên cứu Z: hệ số giới hạn tin cậy a: mức ý nghĩa thống kê, với a = 95% ta có Z
1-2
1,96 p: tỉ lệ ước tính các nghiên cứu trước đó
Vì chưa rỏ nên lấy p = 0,9 d: độ chính xác (hay là sai số cho phép) d 2 = 0,0025
Ta được N= 138, chúng tôi chọn N= 140 trẻ
Tiêu chuẩn chọn bệnh
Tất cả bệnh nhân động kinh đang lập hồ sơ quản lý điều trị tại tỉnh Hậu Giang
Tiêu chuẩn loại trừ
Bệnh nhân nghi ngờ bị động kinh hoặc mới
bị động kinh lần đầu chưa được lập hồ sơ quản lý
Trang 3Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
Tất cả bệnh nhân động kinh trẻ em từ 0 đến
< 15 tuổi hiện nay đang được quản lý từ cơ sở
đến tỉnh (có danh sách kèm theo) theo chương
mục tiêu BVSKTT tỉnh Hậu Giang sẽ được tiến
hành khám và thu thập số liệu bằng phương
pháp phỏng vấn trực tiếp từ thân nhân hoặc
bệnh nhân có sự thống nhất của gia đình, cán bộ
phụ trách chương trình theo bộ câu hỏi
- Địa điểm khám: Hẹn thân nhân và bệnh
nhân đến tại Trạm y tế xã, phường, thị trấn được
cán bộ chuyên trách tâm thần khám và ghi nhận
theo bảng câu hỏi, bệnh án quản lý tại cơ sở đó để
ghi nhận đúng theo bảng câu hỏi đặt ra
- Các số liệu được xử lý bằng phần mềm
thống kê SPSS 11.5
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
Dịch tễ học
Giới tính
Chúng tôi nhận thấy trong nhóm khảo sát
trẻ nam nhiều trẻ nữ, tỷ lệ nam/ nữ :1,59/1
Theo Trần Thu Hương (1996) tỷ lệ mắc bệnh
nam là 62%(11), theo Ngô Thị Kim Nhung tỷ lệ
nam/ nữ là 1,17(5), theo Lê Thị Khánh Vân (2003)
nam chiếm 53,29% và nữ chiếm 46,71%(3), theo
Phạm Quỳnh Diệp là 1,40(7), theo Nguyễn Bá
Hiền là1,16(6)
Theo Endziniene (Lithuania) thì tỷ lệ
nam/nữ là 1,29/1(1), theo Sidenvall (Sweden) nam
là 51% và nữ là 49%(9)
Nghiên cứu của chúng tôi nói chung phù
hợp so với các tác giả nói trên, đa số ghi nhận
rằng tỷ lệ trẻ nam mắc bệnh cao hơn trẻ nữ
Tuổi
Trong nhóm khảo sát ghi nhận trẻ động kinh
dưới 15 tuổi cho thấy, trẻ từ 0 - 5 tuổi chiếm tỷ lệ
14,3%, từ 6-10 tuổi chiếm 30,7% và trên 10 tuổi là
55% Kết quả nghiên cứu này của chúng tôi gần
phù hợp với nghiên cứu của Phạm Quỳnh Diệp,
khác với một số tác giả khác có thể là do đối tượng nghiên cứu khác nhau
Về địa chỉ
Mặc dù nhiệm vụ chính của chúng tôi là khám điều trị, quản lý cho các trẻ động kinh cư ngụ tại tỉnh Hậu Giang, nhưng có đến 83,6% nhóm khảo sát có địa chỉ tại nông thôn bởi vì tỉnh chúng tôi là vùng nông thôn sâu
Hoàn cảnh kinh tế
Trong nhóm khảo sát của chúng tôi số bệnh nhân có hoàn cảnh kinh tế mức trung bình đủ ăn
và nghèo thiếu chiếm tỷ lệ 82,8% Kết quả này gần phù hợp với kết quả của Phạm Quỳnh Diệp (2002) là 86,8%(7), Nguyễn Bá Hiền (2006) là 89,25%(6), của Dương Hữu Lễ (2006) 96,8%(2) Kết quả này cũng phù hợp với nhận định của các tác giả Shorvon S D (1996)(10)
Trình độ học vấn
Về trình độ học vấn nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, tỷ lệ không biết chữ là 1,4%, cấp 1 là 52,1% Kết quả này cũng phù hợp với kết quả của Phạm Quỳnh Diệp (2005)(7), Dương Hữu Lễ (2006)(2) Nhóm trình độ thấp không biết chữ đến cấp 1 chiếm tỷ lệ 53,5% Đây cũng có thể là hậu quả do bệnh động kinh gây ra làm ảnh hưởng đến khả năng học tập, cho nên chúng ta cần phát hiện sớm và điều trị kịp thời bệnh nhân động kinh để cho các trẻ có điều kiện học tập sau này
Các đặc điểm lâm sàng
Thời điểm xuất hiện cơn
Trong nhóm khảo sát thời điểm cơn chỉ xảy
ra trong sinh hoạt bình thường là 67,1%%, lúc ngủ là 13,6%, cơn xảy ra mọi lúc 15,7% Theo nghiên cứu của Đặng Văn Thông (2008) xảy ra ban ngày chiếm 17,53%, cơn xảy ra bất kể ngày đêm là 24,70% và lúc tỉnh giấc là 4,38% Cơn xảy
ra lúc thức (gồm cơn chỉ xảy ra vào ban ngày và cơn xảy ra bất kể ngày đêm) là 78,09%(2)
Theo Hopkins ghi nhận 50% trường hợp xuất hiện cơn trong giấc ngủ, 1/3 xảy ra ngay khi thức và chỉ có 1/6 xảy ra ban ngày(10)
Trang 4Tỷ lệ xuất hiện cơn lúc thức và ban ngày
theo chúng tôi và các tác giả trong nước tương
đối phù hợp và cao hơn một số tác giả nước
ngoài Điều này có thể do điều kiện chăm sóc
sức khỏe từng nước khác nhau làm cho cơn co
giật vào ban đêm lúc ngủ đôi khi bị bỏ qua
không ghi nhận được
Tình trạng ý thức trong cơn
Theo ghi nhận của chúng tôi có 47,1% trẻ rối
loạn ý thức trong cơn, Đặng Văn Thông (2008)
có 88,45% trẻ bị rối loạn ý thức trong cơn(2)
Theo Lê Thị Khánh Vân trẻ bị rối loạn ý thức
trong cơn chiếm 76,19%(3) Điều này phù hợp với
kết quả nghiên cứu chung vì một số cơn cục bộ
toàn thể hóa thứ phát sẽ gây rối loạn ý thức của
trẻ giống như trong cơn toàn thể
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi gần giống
và khác với hai tác giả nói trên có thể là do đối
tượng nghiên cứu khác nhau
Phân loại cơn động kinh
Loại cơn động kinh Của tôi Q.Diệp Phạm Lê Văn Tuấn
Đặng Văn Thông
Cơn cục bộ đơn giản 7,9% 17,4% 21,3% 11,16%
Cơn cục bộ phức tạp 15,7% 10,1% 31,2% 7,17%
Cơn cục bộ toàn thể
Cơn co cứng toàn thể 6,4% 11,4% 2,7% 3,98%
Cơn co cứng - co giật
Cơn mất trương lực 3,6% 3,2% 1,1% 27,89%
Cơn không phân loại 0,7% 0,5% 5,5% 4,38%
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi, cơn động
kinh cục bộ có 26,5% các trường hợp trong đó
cơn động kinh đơn giản có 7,9% các trường hợp;
cơn động kinh phức tạp có 22 trẻ (15,7%) các
trường hợp; cơn cục bộ phức tạp toàn thể hóa có
4 (2,9%) các trường hợp trong đó cơn co cứng- co
giật chiếm 69 (49,3%) và cơn toàn thể dạng khác
là 22,9%, còn lại là cơn động kinh không phân
loại chiếm (0,7%) trường hợp
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đương với kết quả của các tác giả nghiên cứu khác:
-Nghiên cứu của Nguyễn Bá Hiền (2006) cho thấy cơn toàn thể chiếm 48,76%, trong đó cơn co cứng co giật là 29,75%, cơn cục bộ là 47,11% cơn không phân loại là 4,13%(6)
Cận lâm sàng
Điện não đồ
Đo điện não đồ ngoài cơn
Theo khảo sát của chúng tôi chỉ có 97 trường hợp được đo điện não đồ, còn lại 43 trường hợp không đo điện não Nên kết quả của 97 trường hợp thì có 76 trẻ (78,4%) trẻ có điện não đồ biểu hiện sóng động kinh, 21 trẻ (21,6%) trẻ có động kinh điện não bình thường không điển hình sóng động kinh Theo Phạm Quỳnh Diệp thì sóng động kinh điển hình là 56,3%, điện não có bất thường không điển hình động kinh là 28,5%
và bình thường là 15,2%(7) Theo Lê Thị Khánh Vân thì sóng động kinh điển hình là 52,6%, bất thường không điển hình động kinh là 32,24% và bình thường là 15,13%(3)
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương đối phù hợp với đa số tác giả Tỷ lệ hình ảnh sóng động kinh điển hình trong nghiên cứu của chúng tôi tương đối cao chiếm 78,4% có bất thường sóng động kinh so với số trẻ bị động kinh trong nhóm nghiên cứu đã được đo điện não có thể do trẻ đều được đo điện não ngoài cơn khi bệnh trẻ khá rõ ràng, còn các trường hợp khác không đo được chiếm tỷ lệ 30,7% nên trong khảo sát của chúng tôi còn hạn chế
Điều trị
Trong các dạng phối hợp thuốc, thường dùng là: Valproat Na+ Phenyltoin 36 trẻ (25,7%); Phenobarbital + Valproat Na 13 trẻ (9,3%); Phenobarbital + Diazepam có 8 trẻ(5,7%); Phenobarbital + Carbamazepin có 4 trẻ (2,9%); còn các dạng phối hợp khác giá trị không đáng kể
Theo Phan Việt Nga thì tỷ lệ cắt cơn sau 6 tháng điều trị chiếm 59,17%(8) Theo Phạm
Trang 5Quỳnh Diệp sau một tháng điều trị thì tỷ lệ hết
cơn chiếm 47,2%, giảm > 50% chiếm 35,3%, giảm
< 50% là 15,8%, không tăng giảm cơn chiếm
1,7%(7) Theo Lê Thị Khánh Vân, sau 2 tuần đánh
giá kết quả điều trị ghi nhận 54,61% cắt cơn,
34,21% giảm cơn và 7,89% có tần số cơn cũ hoặc
tăng hơn(3)
Quản lý bệnh nhân động kinh
Tuân thủ điều trị
Trong nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận, số
bệnh nhân tuân thủ theo hướng dẫn điều trị
chiếm tỷ lệ 65,7% Số bệnh nhân không tuân thủ
khá cao chiếm tỷ lệ 34,3% Lý do do không tuân
thủ điều trị mà nguyên nhân chủ yếu là do gia
đình sợ uống lâu dài ảnh hưởng đến trí nhớ của
sáu này, tự động giảm liều hay ngưng cho uống
khi hết cơn co giật, khi xảy ra cơn thì lại uống
tiếp tục, tự thay thế thuốc do kinh nghiệm người
khác được truyền miệng, hay mượn toa thuốc
của người khác tự mua uống không theo một
phác đồ điều trị nào cả nên làm thất bại trong
điều trị, gia tăng tần số tái phát cơn Kết quả
nghiên cứu của chúng tôi so với Dương Hữu Lễ
có gần tương tự nhau như: tuân thủ điều trị là
59,8%, không tuân thủ điều trị là 40,2% Với
nghiên cứu Lê Quốc Nam và cs tuân thủ điều trị
là 82,1%, không đều và bỏ trị chiếm 17,8%
Phạm Quỳnh Diệp và cs điều trị đều chiếm
79,1% và không đều chiếm 20,9% Như vậy ta
thấy rằng ở tuyến địa phương tuân thủ điều trị
hạn chế so với tuân thủ điều trị ở tuyến Trung
Ương, có lẽ do điều kiện kinh tế, ý thức người
dân nông thôn khác với thành thị và giao thông
đi lại rất phức tạp nên cơn tái phát trong cộng
đồng rất cao
Thời gian quản lý bệnh nhân động kinh
Qua nghiên cứu chúng tôi nhận thấy thời
gian quản lý bệnh < 1 tháng là 0,7%, 1- 3 tháng là
3,6%, từ 6 – 12 tháng là 7,1%, 12-24 tháng là
22,1%, 24- 36 tháng là 32,9%, từ 36 tháng trở lên
là 18,6%
Quản lý thuốc tại nhà
Chúng tôi nhận thấy khi lãnh thuốc về nhà uống, có 116 trường hợp bệnh nhân tự quản lý thuốc điều trị chiếm tỉ lệ 58,3%, còn lại 41,7% là người nhà quản lý thuốc uống hằng ngày cho bệnh nhân
Trong trường hợp quản lý động kinh, bệnh tái khám được lãnh thuốc theo định kỳ từ 15-
30 ngày với số lượng thấp nhất từ 15- 20 viên Phenobarbital hoặc Valproate Natri Với số lượng thuốc này, nếu bệnh nhân có vấn đề về tâm thần, giữ thuốc tự lấy uống rất dễ xảy ra trường hợp uống quá liều thậm chí uồng thuốc
tự tử, nếu người nhà quản lý thì an toàn nhưng lại dễ quên cho uống thuốc đúng giờ Đây là vấn đề rất khó khăn trong quản lý bệnh nhân động kinh
Thời gian tái phát cơn động kinh
Trong 199 trường hợp, thời gian tái phát cơn
ĐK < 24 giờ có 4 trường hợp chiếm tỉ lệ thấp nhất 2%, nếu tính từ 30 ngày trở lại chiếm 26,6%, nhiều nhất thời gian tái phát cơn từ 30 ngày đến
< 1 năm chiếm 42,7%, thời gian tái phát cơn từ 1 năm trở lên chiếm 28,7% Điều này chúng tôi nhận thấy một số trường hợp có động kinh kháng trị, không đáp ứng với điều trị mặc dù phối hợp nhiều loại thuốc Có một số trường hợp > 3 năm không có cơn thậm chí nhiều trường hợp > 5 năm không có cơn, sau khi có chỉ định ngưng thuốc nhưng bệnh nhân vẫn xin tiếp tục điều trị với liều thấp nhất
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu 140 trường hợp động kinh trẻ em đã được khám và quản lý tại y tế cơ sở tuyến Huyện và Xã thuộc tỉnh Hậu Giang, chúng tôi có kết luận như sau:
Về mặt lâm sàng dựa vào bảng phân loại cơn năm 1981, tỷ lệ phân loại cơn như sau
Cơn động kinh cục bộ chiếm tỷ lệ 26,4% trong đó cơn cục bộ phức tạp toàn thể hóa chiếm
tỷ lệ thấp nhất (2,90%); trong đó cơn co cứng - co giật chiếm tỷ lệ cao 49,3%; động kinh không phân loại chiếm tỷ lệ 0,7%
Trang 6Về dịch tễ học và các yếu tố nguy cơ
Tỷ lệ trẻ bệnh động kinh nam/nữ 5,6/1 Tuổi
trung bình trong nhóm khảo sát là 8,89, trong đó
tỷ lệ nhóm tuổi từ 11-< 15là 55% Số trẻ có hoàn
cảnh kinh tế khó khăn đủ sống chiếm 82,80% Tỷ
lệ phát bệnh cơn động kinh đầu tiên từ 6-< 9 tuổi
chiếm 30,7% Tiền căn trong gia đình có cha mẹ
bị động kinh chiếm tỷ lệ cao 30%
Về kết quả điều trị
Tỷ lệ sử dụng thuốc phenobarbital là phổ
biến và khá cao chiếm 98,6% kết hợp các thuốc
kháng động kinh khác trong đó có kết hợp với
phenyltoin chiếm tỷ lệ 25,7%, Vaproat Na 13 trẻ
chiếm tỷ lệ 9,3%, còn các phối hợp thuốc không
đáng kể
Thực hiện đo EEG trong cơn chiếm tỷ lệ
54,3%, đo ngoài cơn chiếm tỷ lệ 69,3%
KIẾN NGHỊ
Nghiên cứu chúng tôi còn rất nhiều hạn chế,
nhưng dựa vào kết quả thu được xin đưa ra một
vài ý kiến có tính chất tham khảo:
- Cần tăng cường hơn nữa về kinh phí, nhân
lực và nâng cao trình độ hiểu biết về động kinh
cho cán bộ ở tuyến cơ sở bằng mọi biện pháp
như: hội thảo, tập huấn, mở lớp chuyên đề về kỹ
năng khám, phát hiện quản lý bệnh động kinh
- Cùng với cán bộ xã phường, các cấp chính
quyền địa phương và các ban ngành đoàn thể
tuyên truyền kiến thức về động kinh sâu rộng
trong quần chúng nhân dân về cách phòng
chống và tạo điều kiện giúp đỡ bệnh nhân khó
khăn về kinh tế bằng nhiều hình thức như mua thẻ bảo hiểm, cấp sổ hộ nghèo và vận động các nhà hảo tâm đóng góp vật chất để các trẻ có điều kiện tiếp cận với các phương tiện chẩn đoán hiện đại và các thuốc mới
- Có một chương trình cụ thể về công tác quản lý bệnh động kinh bằng những bước đi cụ thể cho phù hợp tuyến cơ sở như về chẩn đoán, cận lâm sàng, điều trị và quản lý
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Berg BO (1996) Principle of child neurology Mc Graw Hill Health Professions Division, PP 287-303
2 Dương Hữu Lễ (2006) Tình hình quản lý động kinh tại huyện Châu Thành Tỉnh Tiền Giang năm 2005 Luận án tốt nghiệp
CK II năm 2007
3 Lê Thị Khánh Vân (2004) Đặc điểm bệnh động kinh tại bệnh viện Nhi Đồng II năm 2002-2003 Luận án tốt nghiệp BS chuyên khoa II
4 Lê Văn Tuấn (2002) Dịch tễ học động kinh, Chẩn đoán và điều trị bệnh động kinh, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Tp
Hồ Chí Minh, tr.171-184
5 Ngô Thị Kim Nhung (1998) Bệnh động kinh tại BV Nhi Đồng
II Luận án Chuyên khoa II
6 Nguyễn Bá Hiền (2006) Đặc điểm lâm sàng, điện não ngoài cơn Động kinh trẻ em dưới 15 tuổi tại Bệnh viện Nhi Đồng I Luận văn tốt nghiệp Cao học
7 Phạm Quỳnh Diệp Lâm Xuân Điền, Phạm Thị Hồng Nhung (2002) Các thể lâm sàng trên trẻ em khám tại Trung Tâm Sức khỏe tâm thần TP Hồ Chí Minh Y học TP Hồ Chí Minh, Đại học Y Dược Tp HCM, phụ bản 6(3), tr 70-76
8 Phan Việt Nga (2002) Nghiên cứu chẩn đoán và theo dõi kết quả điều trị động kinh toàn thể ở trẻ em từ 6-15 tuổi Luận án tiến sĩ y khoa
9 Sidenval R Fossgren L (1996) Prevalence and characteristics
of epilepsy in childrent northern Sweden Seizure, 5(2), pp 139-146
10 Shorvon, S.D (1996) Epidemiology of the epilepsies J Neurol Nerosurg Psychiatry, 6, pp 433-43
11 Trần Thu Hương (2004) Phân loại động kinh.Thần kinh học lâm sàng Nhà xuất bản Y học, tr 653-659